Search This Blog

Sunday, October 9, 2022

THƯ THỨ NHẤT GỬI TIẾN SĨ MAI THANH TRUYẾT - BẰNG PHONG

                  THƯ GỬI TIẾN SĨ MAI THANH TRUYẾT.

Bằng Phong Đặng văn Âu.

Westminster, Ngày 8 tháng 10 năm 2022.

Anh Mai Thanh Truyết thân mến,

Sáng nay tôi khá vui khi nhận được Email của anh bằng mỗi một câu ngắn ngủi như sau: Cứ nói như vầy hoài... Bọn trí thức Việt Nam ngu,...”. Ông Âu khó thuyết phục người khác qua các lập luận của mình”. Anh Truyết có biết tại sao tôi vui không? Tại vì sau khi tôi viết bài có tựa đề “Trí Thức Việt Nam Bất Xứng và Vô Trách Nhiệm” mà không có ông/bà trí thức nào phản ứng thì buồn lắm. Buồn vì tiếng nói của mình bị rơi vào khoảng không. Nay có anh – một vị Tiến sĩ dễ thương mà tôi hân hạnh được quen biết khá lâu – phản ứng, thì không vui làm sao được?

Thưa anh Truyết,

Tại vì anh là nhà trí thức nên anh không thấy cái ngu của trí thức Việt Nam. Còn tôi là quân nhân, từng đem mạng sống của mình ra để bảo vệ nền tự do của Miền Nam, thì tôi thấy trí thức Miền Nam ngu từ khuya rồi. Ngu từ thời ông Nguyễn Trường Tộ dâng bản điều trần lên vua Tự Đức đề nghị canh tân nền giáo dục (bỏ lối học tầm chương trích cú để phát triển ngành khoa học kỹ thuật), cải tổ hệ thống Hành chánh, Ngoại giao, Kinh tế, Thương mại, Quốc phòng để theo kịp đà văn minh của các nước Phương Tây. Nhưng các quan Đại thần phê vào bản điều trần bốn chữ “yêu ngôn hoặc chúng” (nghĩa là những lời ma mị nhằm mê hoặc lòng người) để trình lên Vua. Câu hỏi đặt ra: “Nếu nghi ngờ bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ không xác thực, tại sao Vua quan nhà Nguyễn không yêu cầu Nguyễn Trường Tộ hướng dẫn một phái đoàn sang Âu Châu tìm hiểu thực tế?”. Vào thời điểm ấy, một nhà trí thức Nhật cũng dâng lên Minh Trị Thiên Hoàng một bản điều trần thì được trân trọng tiếp nhận. Nhờ đó, nước Nhật tiến bộ nhanh chóng. Hải Quân Nhật đã đánh tan Hạm đội Nga vào năm 1905, khiến cho cả thế giới kinh ngạc.

Anh Truyết đã thấy cái ngu của vua quan Nhà Nguyễn dưới trào vua Tự Đức chưa? Giá như vua quan Nhà Nguyễn có cái thông minh như Minh Trị Thiên Hoàng và trí thức Nhật Bản, thì nước Việt Nam mình đâu có bị Thực dân Pháp đô hộ! Đúng không?

Nhà thơ Tản Đà viết: “Bởi tại thằng dân ngu quá lợn. Cho nên quân ấy mới làm quan”. Có lẽ Tản Đà ngại đụng chạm đến các nhà trí thức, nên ông mới đổ tội cho thằng dân ngu quá lợn. Dân mà ngu là vì trí thức ngu, không nhìn thấy hiểm họa mất nước trước mắt để dạy dân. Trách thằng dân ngu là tội nghiệp cho thằng dân!

Tôi không nhớ danh sĩ nào đã nói: “Trong tất cả cái ngu dốt, thì sự ngu dốt về chính trị là tệ hại hơn cả”. Đúng vậy, người Việt Nam mình thông minh, học hành đỗ đạt chẳng kém sinh viên các nước trên thế giới. Nhưng phần lớn trí thức Việt Nam đều dốt về chính trị. Đến như Giáo sư Trần Đức Thảo là một nhà triết học mà không thấy chủ nghĩa cộng sản là tai họa của nhân loại. Tôi là một quân nhân chuyên nghề đánh đấm với kẻ thù, không có thời giờ tham cứu kinh điển giống như các nhà trí thức. Thế mà tôi còn biết chủ nghĩa (Ism) giống như tôn giáo, vì nó có một quan điểm về nhân sinh, một quan điểm về vũ trụ riêng biệt. Còn Tư bản không phải là Chủ nghĩa, vì nó không đề ra một nhân sinh quan, vũ trụ quan riêng biệt. Vậy Tư bản chỉ là một chủ thuyết (theorie hay theory) cho phép tự do kinh doanh, tôn trọng quyền tư hữu. Do đó, Tư bản không có giáo điều như cộng sản. Chủ nghĩa là tôn giáo thì nó phải nhất nguyên, chứ không thể đa nguyên. Giống như một người không thể vừa là Phật giáo, vừa là Công giáo. Không những thế, chủ nghĩa cộng sản dùng bạo lực áp đặt lên người dân một nền chính trị vô sản chuyên chính, thì nhất định nó là một nền độc tài toàn trị (totalitarianism). Vậy đánh đuổi Thực dân Pháp làm gì để hứng lấy một nền chính trị chuyên chính mạn rợ, coi dân như thú vật?

Nhà văn André Gide sau cuộc hành trình sang Liên Bang Xô Viết, trở về Pháp, viết cuốn sách “Le Retour de l’URSS” mô tả xã hội Xô Viết là nỗi kinh hoàng của nhân dân Nga. Nhà văn George Well viết cuốn “The Animal Farm” tả xã hội cộng sản là trại súc vật. Nếu Giáo sư Trần Đức Thảo chịu khó đọc hai cuốn sách nêu trên, tôi tin chắc rằng Giáo sư Trần Đức Thảo sẽ không rời bỏ Paris, về Việt Nam để giúp Hồ Chí Minh thiết lập một chủ nghĩa công sản nhân đạo như lời ông tiết lộ. Vậy anh Truyết thấy GS Trần Đức Thảo là người thông minh hay ngu? Anh có thấy cái ngu của nhà đại trí thức như GS Trần Đức Thảo tất nhiên kéo theo cái ngu của nhiều thanh niên đầy ắp lòng yêu nước chấp nhận làm con thiêu thân cho Hồ Chí Minh lợi dụng?

Tôi từng tường thuật cuộc đối thoại giữa tôi với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – anh ruột bà chị dâu tôi – khi nghe ông tuyên bố: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”. Ông Viện bào chữa rằng tại vì thấy Thực dân Pháp bóc lột, ngược đãi, hà hiếp dân mình, nên quá đỗi khát khao độc lập, nên bất cứ ai phất ngọn cờ đánh Tây giành độc lập. là ủng hộ ngay. Tôi hỏi tại sao ông không thấy Hồ Chí Minh theo chủ nghĩa Quốc tế, tức là chịu sự thống thuộc Quốc tế, thì làm gì có độc lập? Ông Viện đáp: “Tại vì anh ngây thơ, chú ạ!!”. Không kìm được cảm xúc, tôi nói: “Không! Anh không ngây thơ! Anh ngu! Cái ngu của anh là vì ông cụ anh là một vị quan thanh liêm, chẳng có tội gì đối với dân, với nước mà bị cộng sản đem ra đấu tố cho tới chết, nhưng anh vẫn theo Hồ Chí Minh”. Trí thức được trời ban cho trí thông minh mà không chịu sử dụng, lại ứng xử theo cảm tính, thì không ngu là gì?

Cái ngu của trí thức Việt Nam không dừng ở đó. Sau năm 1954, gần một triệu người dân Bắc phải rời bỏ quê cha đất tổ, bỏ lại tài sản cả một đời tạo dựng để di cư vào Miền Nam, chấp nhận sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vì quá đỗi kinh hoàng về cuộc đấu tố long trời lở đất. Với một biến cố hãi hùng đến như thế, mà trí thức Miền Nam vẫn không chịu mở mắt để thấy rằng nếu Miền Nam bị rơi vào tay quân xâm lược cộng sản Miền Bắc, thì bản thân họ, gia đình học sẽ khốn khổ, khốn nạn. Rất nhiều trí thức Miền Nam ngu, được chế độ ưu đãi, nhưng vẫn ngấm ngầm làm tay sai cho kẻ thù.

Năm 1959, cụ Hoàng văn Chí được CIA cung cấp tài liệu để biên soạn cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”, mô tả những nhà trí thức Việt Nam lên Chiến Khu làm tay sai cho Hồ Chí Minh, chống Pháp. Nhưng khi hòa bình tái lập, trí thức ở Miền Bắc bị Hồ Chí Minh đối xử như súc vật. Nếu nhà Cách mạng Văn hóa Nhất Linh đề nghị đưa cuốn sách của cụ Hoàng văn Chí vào chương trình giáo dục để cho học sinh, sinh viên hiểu biết dã tâm của Hồ Chí Minh, thì Trí Quang làm sao có thể xúi giục học sinh, sinh viên biểu tình chống chế độ? Anh Truyết có thấy Nhất Linh để lại bức thư tuyệt mệnh lên án chế độ Miền Nam trước khi chết là một hành động không có dũng khí của kẻ sĩ không? Ngày nay, người ta ca tụng Nhất Linh thì có đúng không?

Năm 1960, hai sĩ quan Tình báo của Pháp là Trung tá Vương văn Đông, Trần Đình Lan do Pháp xúi giục, làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm mà có những nhà trí thức tên tuổi như nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, bác sĩ Phan Quang Đán, Luật sư Hoàng Cơ Thụy tham gia, thì thử hỏi trí thức Miền Nam ngu hay thông minh? Nhân dân Việt Nam đã đổ biết bao xương máu để đánh đuổi Thực dân Pháp ra khỏi đất nước, tại sao lại có một nhóm người trí thức tham gia cuộc đảo chánh do Thực dân Pháp chủ mưu? Có phải những nhà trí thức này muốn Thực dân Pháp trở lại cai trị Việt Nam?

Năm 1963, bọn Việt Cộng đội lốt nhà sư lên án chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, tại sao không thấy một nhà trí thức Phật giáo nào của Miền Nam lên tiếng bênh vực chế độ Ngô Đình Diệm không những không hề đàn áp Phật giáo, mà còn giúp cho Phật giáo tự do hành đạo, tự do xây chùa, tự do mở trường học. Nếu có đàn áp chăng là do cấp thừa hành lợi dụng chức quyền, chứ không phải là chính sách của chế độ. Tôi xin nêu lên một nhân vật trí thức được chế độ ưu đãi để anh thấy. Đó là Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu. Nếu ông Mẫu nhận thấy chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, tại sao ông ta không phản đối ngay? Tại sao ông đợi tới lúc Trí Quang đem Ngài Quảng Đức ra nướng, thì ông Mẫu mới bày đặt cạo trọc đầu, lên tiếng từ chức? Hành động cơ hội của Vũ văn Mẫu đáng khinh, không xứng đáng là người có học vị cao. Có ai trong hàng ngũ trí thức lên tiếng phê bình Vũ văn Mẫu là một loại chính trị gia cơ hội, vô đạo đức? Một con người như Vũ văn Mẫu vẫn được tiếp tục đi dạy học, thì những sinh viên được ông đào tạo sẽ trở thành cái giống gì? Tại sao Giáo sư Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Cao Hách vẫn đồng ý cho Vũ văn Mẫu được dạy trường Luật? Tại sao Chính quyền VNCH để cho Vũ văn Mẫu – một thứ phản quốc – đứng đầu Liên danh Hoa Sen đại diện Phật giáo Ấn Quang ra tranh cử Thượng Nghị Sĩ?

Sau khi cái gọi là “Cách mạng” đã giết cả gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm, các đảng viên Cần Lao đều bị bỏ tù, Trí Quang vẫn tiếp tục kết tội các Chính quyền kế tiếp là một “chế độ Diệm không Diệm”. Tại sao những nhà trí thức không nhìn thấy Trí Quang tiếp tục gây bạo loạn tại các thành phố ở Miền Nam là có ý đồ tiếp tay cho sách lược của Việt Cộng xâm lăng Miền Nam? Sự im lặng của trí thức trước hành vi của Trí Quang không đáng bị coi là ngu hay sao? Tại sao những trí thức Phật giáo không thấy hành vi của Trí Quang là phá hoại Đạo Phật? Dù chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh hùng, can đảm ngoài chiến trường đến thế nào đi nữa, mà Trí Quang quậy nát hậu phương, thì trước sau gì Việt Cộng sẽ thắng! Trí thức có thấy điều đó không?

Quân nhân tác chiến là thành phần mong mỏi Đất Nước sớm có hòa bình nhất. Bởi vì chiến tranh càng kéo dài thì mạng sống của họ càng ngắn lại. Bọn trí thức ngồi mát ăn bát vàng, hà cớ gì ủng hộ bọn Phật giáo Ấn Quang đưa Nhất Hạnh đứng đầu Phong trào Hòa Bình để đòi quân lính Miền Nam buông súng vô điều kiện và Đế quốc Mỹ phải rời khỏi Miền Nam? Tại sao trí thức không lên tiếng tố giác cái bọn vận động hòa bình là một lũ bịp? Anh Truyết hãy cho tôi biết có nhà trí thức nào lên tiếng kết án Phong trào Hòa Bình của Nhất Hạnh là tay sai Việt Cộng? Theo nhận định của giới quân nhân chúng tôi thì trí thức Miền Nam có ba loại: (1) Loại cực kỳ ngu đần như nữ luật sư Ngô Bá Thành, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn, sinh viên Huỳnh tấn Mẫm … tích cực hoạt động cho Việt Cộng. (2) Loại không theo, không ủng hộ Việt Cộng ra mặt, nhưng có tư tưởng thiên Cộng. (3) Loại thờ ơ vô cảm, sống chết mặc bây, coi việc Chống Cộng là công việc của bọn lính tráng, bọn an ninh và cảnh sát. (3)

Phải chăng trí thức Việt Nam bị ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo mà tuân theo lời dạy của Khổng Tử: Nước nguy thì chớ vào, nước loạn thì chớ ở, hoàn cảnh tốt thì ra làm quan, hoàn cảnh xấu thì ẩn mình” (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn - Luận Ngữ), thì trở nên khôn lỏi, thủ lợi cho riêng mình?

Học giả (?) Nguyễn Hiến Lê đọc nhiều sách, viết nhiều tác phẩm, nhưng sự hiểu biết của ông không bằng một học sinh bậc Trung học. Ông viết: “Tôi tuy ghét, tởm Stalin, Mao Trạch Đông… nhưng vẫn tin rằng chế độ cộng sản Việt Nam công bằng hơn chế độ tư bản … Cộng sản Bắc Việt không thể nào tàn nhẫn như Nga và Trung Hoa được! Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh, với cộng sản. Tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mỹ. Tôi phục tinh thần hy sinh, có kỷ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp”[Hồi K. – Tập III, trang 17-18] Sau khi nếm mùi Việt cộng thì cụ Lê mới chịu đổi giọng: “Muốn thấy một chế độ ra sao, thì phải sống dưới chế độ đó dăm năm. Muốn nghe ai phê bình, khen chê gì thì nghe, muốn đọc sách gì thì đọc, dù là người thông minh, chịu suy nghĩ, cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi.” [Hồi K. – Tập III trang 25-26]. Xin hỏi anh Truyết, căn cứ những gì cụ Lê viết, tôi nói trí thức Việt Nam ngu, có đúng không? Cụ Nguyễn Hiến Lê học thiệt hay học giả?

Tôi từng nói trước mặt hai vị Tiến sĩ (Nguyễn Tiến Hưng và Cung Tiến) rằng cái bất hạnh của dân tộc Việt Nam là người Việt Nam nào càng có bằng cấp to càng ngu về chính trị. Không phải tôi nói năng khiếm nhã, nhưng đó là sự thật, anh Mai Thanh Truyết ạ!

Năm 1975, anh không di tản, anh ở lại Việt Nam. Có phải anh cũng muốn đem tài trí của anh để giúp chế độ cộng sản xây dựng đất nước? Có phải vì Việt Cộng không trọng dụng nhân tài, thì anh mới bỏ nước ra đi? Tôi gửi anh đường link dưới đây, nếu những bạn trẻ Việt Nam ở Hải ngoại đọc thì họ sẽ hiểu Việt Cộng đối xử với trí thức như thế nào:

https://khongquanc130.blogspot.com/2022/10/tri-thuc-mien-nam-sau-nam-1975.html

Tôi không phải là trí thức, nên tôi không ngu tới độ nghĩ rằng mình có thể thuyết phục người trí thức như anh nghĩ. Tôi chỉ viết lên một thực trạng để cho nhà trí thức nào nhận thấy tôi viết sai, thì lên tiếng. Tôi muốn có cuộc thảo luận nghiêm chỉnh, xây dựng với những nhà trí thức để mở mang trí tuệ.

Thư đã khá dài, tôi hẹn anh thư sau. Tôi sẽ nói về cái ngu của trí thức Việt Nam ở Hải ngoại sau năm 1975. Nếu anh thấy tôi nói không đúng, xin anh vui lòng phản bác để tôi còn có chút hy vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Nếu anh im lặng, tôi sẽ nghĩ tôi viết đúng.

Kính chúc anh Truyết dồi dào sức khỏe.

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 8 tháng 10 năm 2022.

10200 Bolsa Avenue, Westminster, California 92683.

Địa chỉ Email: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600.

Friday, October 7, 2022

TRÍ THỨC MIỀN NAM SAU NĂM 1975

 

Trí thức miền Nam sau 75

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’. Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.


Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.


Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”. Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.


Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”. Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệm tối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cần kềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”


Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.
Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu mà… những ‘cái đầu’ thì như thế”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội.


Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.
Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước’. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi’. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.


Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải ‘phá vỡ’ để áp dụng kinh tế thị trường chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết’. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.


Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.
Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khảng khái”.


Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi y khoa đã bị ông đánh rớt dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.
Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.


Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”. Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.


Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.


Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải
vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ. Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.


Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.


Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.


Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức.


Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.


Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát.

 

Saturday, October 1, 2022

 NHỮNG CON SÂU LÀM RẦU NỒI CANH

Bằng Phong Đặng văn Âu

Tục ngữ ta có câu: “Con sâu làm rầu nồi canh”. Nhà nghèo, bà Mẹ cố gắng lắm mới nấu được một nồi canh rau hòa với ruốc để mấy cha con quây quần sì sụp ăn. Nhưng chẳng may, một con bọ hung từ hố vệ sinh bay qua, rơi vào nồi canh, đành phải đổ nồi canh đi.

Trong Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ cũng có những con bọ hung, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm cho người Mỹ bản xứ khinh bỉ.

Năm 1976, một số quân nhân cư ngụ quanh vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn họp nhau, nhằm mục đích thành lập Hội Quân Nhân. Trong số người tham dự, có sự hiện diện của Phó Đề đốc Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Hoàng Cơ Minh. Nhiều anh em tỏ ra nhiệt tình luân phiên nhau phát biểu.

Anh A phát biểu: “Chúng ta chưa được lệnh giải ngũ. Chúng ta vẫn còn là quân nhân đang chiến đấu dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại một chiến trường mới”.

Anh B phát biểu: “Người ta có thể loại tôi ra khỏi Quân Đội, nhưng không một ai có thể loại Quân Đội ra khỏi tôi”.

Anh C bắt chước câu nói của danh tướng MacArthur: “Người Lính già không chết, họ chỉ dần dần lùi vào trong bóng tối mà thôi”.

Đợi cho tất cả anh em đầy hào khí tha hồ phát biểu, cuối cùng tôi nói: “Thực chất cuộc chiến đấu của chúng ta chống lại quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt là cuộc chiến đấu giữa con người với con người về phương diện nhân phẩm. Ta thua trận, ta mất tất cả, từ đất nước đến ngôi nhà ta ở, đến tài sản nhỏ nhoi của một đời tạo dựng, đến cấp bậc, địa vị. Nhưng có một điều mà chúng ta không thể mất: Đó là phẩm cách của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thật thà, lương thiện, thẳng thắn, quang minh chính đại, từ chối làm bất cứ điều gì khuất tất. Nếu chưa làm được điều gì vẻ vang cho dân tộc, thì chúng ta quyết không làm bất cứ điều gì xấu, ảnh hưởng thanh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để làm nhục những đồng đội anh dũng của chúng ta đang bị kẻ thù đày ải trong các Trại Tập Trung hoặc những đồng đội đã nằm xuống trong lòng đất”. Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh là người đầu tiên vỗ tay tán thưởng, vì tâm đắc câu nói của tôi.

Suốt những năm sống lưu vong, tôi đã giữ mình đúng như những gì tôi đã phát biểu từ năm 1976: Thật thà, lương thiện, dám công khai đương đầu chống lại những phần tử thời cơ, lợi dụng danh nghĩa Chống Cộng thiêng liêng để làm chuyện đồi bại. Ngay trong những buổi thảo luận riêng tư với Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, tôi vẫn nhắc nhỡ ông giữ nguyên tắc Vương Đạo chống lại Bá Đạo. Bởi một lẽ rất giản dị: Người Quốc gia chúng ta không thể Bá Đạo bằng Việt Cộng. Dùng sở đoản của ta chống lại sở trường của địch là cầm chắc sự thất bại. Dù tài giỏi che đậy những việc làm mờ ám như Hồ Chí Minh, rồi cũng có ngày rơi mặt nạ. Không ai có bàn tay đủ to để che mặt trời. Không ai có thể giấu mãi cây kim trong bọc mà không có ngày bị lòi ra. Đừng bao giờ phát động quần chúng trước khi chúng ta chưa sẵn sàng. Một khi niềm tin đã mất thì không thể vực nó dậy lại được. Tấm gương khởi nghĩa nóng vội của anh hùng Nguyễn Thái Học hãy còn đó.

Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh phản bác: “Con có khóc thì mẹ mới cho bú. Mình phải hành động thì Hoa Kỳ mới giúp mình giải phóng Đất Nước”.

Tôi trả lời: “Anh dẫn chứng câu nói của người xưa, mới nghe qua thì có vẻ đúng. Nhưng anh đừng quên rằng khi người mẹ đã vứt con, đi lấy trai, thì dù con có khóc khản cổ, mẹ cũng chẳng thèm quay lại nhìn”. Ý tôi muốn nói Hoa Kỳ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, bắt tay làm ăn với Trung Cộng, thì Hoa Kỳ chẳng thương tiếc gì ta mà ra tay giúp?

Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh nghe lời dụ dỗ của mấy chú sinh viên du học tại Nhật trong cái tổ chức mệnh danh “Thanh Niên Người Việt Tự Do” để thành lập “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Kháng chiến Giải phóng Việt Nam”. Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh không thèm lưu tâm đến những nguyên tắc của tổ chức cách mạng bạo lực mà tôi trình bày với ông. Ông nhất định tiến hành, tôi mới nói, nếu anh vẫn cương quyết làm kháng chiến kiểu mì ăn liền, thế nào anh cũng trở thành thảo khấu. Tôi chẳng thông minh, tài giỏi gì hơn ai. Nhưng phàm làm việc gì đều có quy tắc, quy luật của nó. Giống như người phi công tay nghề còn non nớt, mà liều mạng làm những phi tác bất chấp an phi, thì trước sau sẽ lên bàn thờ sớm! Giá như các nhà trí thức chịu khó suy nghĩ thì không bao giờ tham gia hoạt động cho Cộng Sản, một thứ chủ nghĩa “Vô Gia đình – Vô Tổ quốc – Vô Tôn giáo”. Trung tá Nhảy Dù Lê Hồng, kinh nghiệm tác chiến đầy mình, nhưng không chịu suy nghĩ, nên mới bị chết mất xác trên đất Thái Lan! Tội ác của Hoàng Cơ Minh là làm mất Niềm Tin vào Chính Nghĩa Giải phóng Dân tộc.

Hiện tượng đồng bào nồng nhiệt tham dự các Đại hội Đồng Tâm, Đại hội Chính Nghĩa càng đông, tôi càng dễ thấy triệu chứng chiếc mặt nạ kháng chiến bịp càng nhanh chóng rơi xuống. Tại sao? Tại vì ngày xưa không có phương tiện thông tin nhanh chóng, nên Hồ Chí Minh bịp đồng bào được. Còn ngày nay, nếu người Việt Nam nào ở Mỹ mà có bạn sống ở Bangkok, chỉ cần một cú điện thoại là biết ngay Kháng Chiến thật hay giả. Ký giả Đạm Phong từng hoạt động cho CIA chắc chắn có nhiều bạn bè trong ngành Tình Báo, Phản Gián thì đâu khó khăn gì để biết những trò bịp bợm của Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh? Ký giả Đạm Phong chủ quan, tin Hoàng Cơ Minh không dám ra tay giết mình tại một quốc gia có luật pháp, nên ký giả Đạm Phong mới chết.

Cho dù ký giả Đạm Phong không viết ra sự thật, tôi cũng đã nói với Đại tá Phạm văn Liễu rằng trước sau gì sự lừa bịp của ông Hoàng Cơ Minh cũng tới ngày đổ bể, bằng sự suy luận của tôi. Đó là vấn đề tranh chấp nội bộ. Đại tá Liễu tỏ ra rất hùng biện trong những buổi đi nói chuyện, khiến đồng bào tới tấp đổ tiền yểm trợ về cho Phan Vụ Quang (bí danh của Hoàng Cơ Định). Tự nhiên, người cầm tiền trở thành người có quyền hành trong tổ chức. Hoàng Cơ Định là ông chủ phát lương cho cán bộ, tất nhiên quyền hành đứng trên ông Liễu. Khi Đại tá Liễu nhận ra mình chỉ là công cụ của anh em Hoàng Cơ Minh, là khi sự tranh chấp sẽ nổ ra. Thế là chiếc mặt nạ bắt đầu rơi xuống. Theo Hồi ký của Cụ Phạm Ngọc Lũy – Chủ tịch Ủy Ban Yểm trợ Kháng Chiến – thì từ ngày có sự hiện diện của Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa – cháu ruột của Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh – sự phân hóa nội bộ xảy ra do những bức thư nặc danh chia rẽ người này với người kia. Sự than phiền của Cụ Phạm Ngọc Lũy cho ta biết đã có nội tuyến nằm trong Mặt Trận.

Tờ báo Kháng Chiến của Mặt Trận do Đỗ Thông Minh, Huỳnh Lương Thiện trong cái tổ chức “Thanh Niên Người Việt Tự Do” thường bịa ra những trận đánh giả tưởng Kháng Chiến Quân tấn công các đồn Công An Việt Cộng, tịch thu nhiều súng ống, chiến lợi phẩm và giấu nhẹm chuyện ông Hoàng Cơ Minh đã đền tội từ năm 1987 cho đến năm 2001 mới tiết lộ càng làm cho ta thấy Việt Tân là một băng đảng cướp bóc lưu manh. Tội nghiệp bà Hoàng Cơ Minh không được làm giỗ chồng, con cái không được lạy vong linh bố. Hoàng Cơ Định không những giấu đồng bào chuyện ông Hoàng Cơ Minh chết, mà con bắt buộc vợ con ông Hoàng Cơ Minh cũng không được phép khóc chồng, khóc cha một cách công khai.

Việt Cộng có cán bộ nằm vùng trong tổ chức, chắc chắn biết rõ những việc làm mờ ám, khuất tất của Kháng Chiến. Do đó, Việt Cộng đã biến Mặt Trận (tức là băng đảng Việt Tân) làm tay sai cho chúng, vì “blackmail” (tống tình, tống tiền) là ngón nghề của Việt Cộng. Nhờ Nguyễn Thanh Tú, con trai ký giả Đạm Phong, đi tìm công lý cho cha, mà chúng ta được biết thêm những cái vòi con bạch tuộc. Người đứng đầu ngành Tình Báo, Phản Gián dưới thời Tổng thống Nguyễn văn Thiệu – Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, người được mệnh danh “ném đá không cần giấu tay” – cũng là tay sai của băng đảng Việt Tân.

Tất cả những xáo trộn, chia rẽ trong Cộng Đồng đều do băng đảng Việt Tân thực hiện, theo mệnh lệnh của Việt Cộng với mục đích làm cho những người Quốc gia chân chính chán nản, buông xuôi. Chuyện ông Thị trưởng Westminster trao bằng tưởng lục cho Việt Cộng Ngô Thanh Vân không phải là một khuyết điểm, mà là chủ ý. Chuyện Xây Dựng Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị Vinh Danh Thủy Quân Lục Chiến của mấy ông Trần Thái Văn, Nguyễn Quốc Lân có sự ủng hộ tích cực của cậu Huỳnh Lương Thiện – Chủ bút báo Kháng Chiến một thời – thì càng dễ thấy băng đảng Việt Tân chủ mưu. Có một đặc điểm giữa Việt Cộng và Việt Tân rất giống nhau, là loại người mặt trơ trán bóng, không biết xấu hổ, bất chấp mọi chỉ trích phê bình, cứ thế quyên tiền bỏ túi.

Có quá nhiều bằng chứng hiển nhiên để tôi khẳng định Hồ Chí Minh lập ra đảng cộng sản là để tiêu diệt nòi giống Việt Nam. Cũng có nhiều hành vi lộ liễu của Việt Tân đủ cho tôi kết luận Việt Tân là tay sai của Việt Cộng. Bọn tay chân bộ hạ của Hồ Chí Minh đã hoàn thành cuộc xâm lăng Miền Nam, biến Đất Nước thành một nhà tù vĩ đại. Nhưng Việt Cộng vẫn chưa hài lòng. Chúng còn với tay ra Hải Ngoại, dùng băng đảng Việt Tân làm những con bọ hung lao xuống nồi canh (Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản) để chúng ta phải đổ nồi canh đi. Bây giờ trong Cộng Đồng chúng ta chẳng còn biết ai là Quốc gia, ai là Việt Cộng.

Nhìn thấy âm mưu độc địa của Việt Cộng, tôi đã viết bức thư cho hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng với ước mong họ kết hợp nhau tiêu diệt những con bọ hung Việt Tân – tay sai Việt Cộng – để may ra cứu vãn danh dự cho người Việt Nam lương thiện, cần cù lao lực làm lụng lương thiện nuôi gia đình. Chủ tịch Nước Việt Cộng Trương Tấn Sang cũng đã công khai phát biểu Bộ Chính trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Cộng Sản là một bầy sâu, càng làm rõ nét kết luận của tôi về nhận định “Nòi Giống Việt Nam rồi sẽ không còn” vì sự thờ ơ, vô cảm của chính người Việt Nam chấp nhận sống chung với những con bọ hung càng ngày càng sinh sôi nảy nở.

Hồ Chí Minh là một tên Tàu khựa đưa công cuộc kháng chiến chống Pháp đến thành công là nhờ sự tiếp tay của những tên phản bội cha ông, phản bội giống nòi. Hoàng Cơ Minh – người bắt chước nhân dáng của Hồ Chí Minh – tuy đã chết, nhưng dư đảng của ông ta vẫn còn làm nhiệm vụ bôi nhọ nòi giống Việt Nam ở Hải Ngoại. Bằng cớ là nước Mỹ đang có Phong Trào Hủy Diệt Văn Hóa (Cancel Culture) và Thuyết Kỳ thị Chủng tộc (Critical Race Thesis) rất được bọn Việt Tân hỗ trợ. Cứ nhìn bọn Việt Nam mất linh hồn, không còn có khả năng biết xấu hổ, miệt thị người ủng Tổng thống Donald Trump là “Cuồng Trump” thì thấy ngay chúng nó đều là những Con Bọ Hung bay ra từ đống phân Việt Cộng, Việt Tân ngay. Sau bài viết này được phổ biến trên Diễn Đàn, lập tức những con Bọ Hung dùng tên giả (nick) để sủa ầm ĩ ngay. Biết vậy, nhưng tôi vẫn viết để cho mọi người Việt Nam lâu nay thờ ơ, vô cảm thấy được cái viễn ảnh của nòi giống Việt Nam sẽ đi về đâu.

Băng đảng Việt Tân trót cưỡi lưng cọp. Nay Việt Tân muốn xuống, cũng không xuống được. Việt Cộng không cho xuống, nên chúng phải trình làng Tân Ban Chấp Hành là vì thế!

Việt Cộng và Việt Tân là nỗi ô nhục của Người Việt Nam. Nếu Người Việt Nam im lặng, chấp nhận sống trong nỗi nhục, tôi không còn có gì để nói.

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 28 tháng 9 năm 2022.

Email address: bangphongdva033@gmail.com

10200 Bolsa Avenue, Thành phố Westminster, California 92683. Telephone: 714 – 276 – 5600 .

Tuesday, September 27, 2022

THƯ GỬI HAI ĐẢNG ĐẠI VIỆT VÀ QUỐC DÂN ĐẢNG

THƯ GỬI:

HAI ĐẢNG ĐẠI VIỆT VÀ QUỐC DÂN ĐẢNG

Bằng Phong Đặng văn Âu

Kính gửi quý chiến sĩ Quốc Dân Đảng và Đại Việt,

Kính thưa quý vị chiến sĩ,

Tôi là Bằng Phong Đặng văn Âu, một cựu đảng viên Đảng Đại Việt, đã nghỉ sinh hoạt, vì sự phân hóa trong Đảng.

Cán bộ hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều thề không đội trời chung với Cộng Sản. Tôi xin hỏi quý chiến sĩ có còn giữ lời thề ấy không?

Cái việc ông Phó Đề Đốc Hải Quân Hoàng Cơ Minh nghe lời dụ dỗ của mấy chú sinh viên du học tại Nhật mệnh danh Đoàn Thanh Niên Người Việt Tự Do, để lập ra cái gọi là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (gọi tắt Mặt Trận) là một băng đảng tội ác có tổ chức.

Đồng bào Hải Ngoại vì nóng lòng giải phóng dân tộc, đã hăng hái tham gia, đóng góp tiền bạc để cho anh em dòng họ Hoàng Cơ làm giàu phi pháp. 

Đáng lý ra đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng phải tố cáo hành vi lừa đảo của Mặt Trận để đồng bào không bị lừa và Niềm Tin vào Chính Nghĩa Phục Quốc không bị anh em dòng họ Hoàng Cơ chà đạp, tại sao hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng đã im thin thít? Tôi muốn có câu trả lời.

Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột Tổng Bí thư Việt Cộng Mười Cúc Nguyễn văn Linh, từ trong nước ra đi bằng đường chính thức (không phải thuyền nhân) sang Pháp, rồi sang Mỹ làm tới chức Tổng Tuyên Huấn của Mặt Trận, mà hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng không một chút hoài nghi, là nghĩa làm sao? Kinh nghiệm chống Việt Cộng, quý vị để đâu?

Là những người hoạt động chính trị, cách mạng, tại sao quý vị không thấy lời tuyên bố của Luật sư Trần Kiều Ngọc tại Đại hội Giới trẻ ở Úc Châu: “Không chống Cộng, chỉ chống Cái Ác” là ý đồ của Việt Cộng muốn gieo vào đầu óc tuổi trẻ Hải ngoại đừng chống Cộng nữa, mà chỉ chống Cái Ác thôi? Tại sao quý vị không thấy Trúc Hồ, chủ đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam, lên mặt dạy dỗ mọi người một cách trịch thượng bằng câu “Đòi lật đổ Nhà Nước Việt Nam là sai, chỉ xin nhân quyền thôi” là do Việt Cộng mớm cho anh ta nói? Tại sao quý vị giống như “Thương nữ bất tri vong quốc hận” vậy? Quý vị có còn biết xấu hổ trước vong linh của đồng chí đảng trưởng Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh?

Bọn Việt Tân không biết xấu hổ là do bản chất của chúng nó. Còn quý vị tình nguyện tham gia vào đảng vì lý tưởng Tự Do Dân Chủ thì ít nhất cũng biết xấu hổ để xứng đáng làm người chứ! Phải không?

Tôi đã chứng minh cho đồng bào Hải ngoại thấy rằng Mặt Trận HCM làm chuyện khuất tất, phi pháp bị bọn Việt Cộng nằm vùng trong tổ chức biết. Cho nên bọn Hoàng Cơ Định, Trần Xuân Ninh, Nguyễn Kim Huờn đã bị Việt Cộng nắm thóp, phải làm tay sai cho Việt Cộng. Do đó, Việt Tân nguy hiểm hơn Việt Cộng, giống như Phật giáo Ấn Quang của Trí Quang nguy hiểm hơn cả chục Sư đoàn Việt Cộng là thế. Làm tay sai cho Việt Cộng thì Việt Tân mới có thể đứng ra làm Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh để kêu gọi đồng bào tham dự? Làm tay sai cho Việt Cộng thì đảng viên Việt Tân mới có thể quấn cái khăn màu vàng ba sọc đỏ quanh cổ để tuyên bố đừng Chống Cộng nữa, chỉ chống Cái Ác thôi? Là tay sai Việt Cộng, thì Trúc Hồ mới có thể ngang nhiên lên TV tuyên bố đòi lật đổ chế độ Việt Cộng là sai. Quý vị đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng có biết sự im lặng của quý vị trước những màn trình diễn của Việt Tân thay cho Việt Cộng, là quý vị đang đồng lõa với Việt Cộng không?

Quý vị có biết bọn Việt Tân phải công khai bố cáo Tân Ban Chấp Hành là một hình thức minh xác với ông chủ của chúng (Việt Cộng) rằng chúng em vẫn một lòng một dạ tận tụy làm tay sai cho Đảng. Bởi vì băng đảng Việt Tân hiểu rằng bố cáo Tân Ban Chấp Hành sẽ bị đồng bào Hải ngoại mạt sát, nhưng chúng vẫn phải làm để ông chủ của chúng yên lòng. Đài VOA phải phỏng vấn bà Đông Xuyến, phát ngôn viên Việt Tân, cũng là cách để xác minh với bọn cầm quyền Hà Nội về lòng trung thành của băng đảng. Chống Cộng mà không nhìn thấy âm mưu của Việt Cộng thì chống để làm gì? Chống để được tiếng là mình chưa chết à?

Xin quý vị đừng sợ Việt Tân sai bọn dư luận viên chụp mũ quý vị làm mất đoàn kết vì sự tố giác băng đảng Việt Tân. Tôi lên tiếng vạch trần sự gian ác của Việt Tân là để cho đồng bào thấy sự đồi bại của chúng mà xa lánh. Chính băng đảng Việt Tân làm mất đoàn kết trong Cộng Đồng. Chứ không phải tố giác Việt Tân làm tay sai cho Việt Cộng là làm mất đoàn kết!

Tôi yêu cầu lãnh đạo của hai đảng từ hôm nay phải có hành động cụ thể và phải trả lời thắc mắc, không phải cho tôi, mà cho tất cả cán bộ của hai đảng để họ biết rõ lập trường của quý vị bây giờ ra sao. Quý vị có còn đủ uy tín để lãnh đạo cán bộ đảng viên không? Nếu quý vị không công khai trả lời với công luận, thì mọi người sẽ hiểu rằng quý vị lãnh đạo của hai đảng đã trót ăn tiền của băng đảng Việt Tân, tay sai của Việt Cộng. Còn nếu hai đảng đã chết, thì quý vị phải đăng cáo phó, nhớ chưa?

Bằng Phong Đặng văn Âu.

10200 Bolsa Avenue, Westminster, CA. 92683

Telephone: 714 – 276 – 5600

Email Address: bangphongdva033@gmail.com 

 


Thursday, September 15, 2022

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BÀI THỨ 10 - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 Bài Thứ Mười

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Tác giả sẽ viết làm nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

 

Tôi đã là một Phật tử truyền thống, bởi vì ông bà tôi, cha mẹ tôi đều là Phật tử, thì tự nhiên tôi là Phật tử. Nếu ông bà tôi, cha mẹ tôi là Công giáo, tự nhiên tôi là người theo đạo Công giáo. Chẳng qua, tín ngưỡng của mỗi người là do môi trường sống, không ai tự lựa chọn khi mới chào đời. Khi tôi xin rửa tội theo đạo Chúa, thì lúc ấy mới thật sự là lựa chọn của tôi. Tôi không rõ nguyên do nào mà những nhân vật tên tuổi đã lựa chọn theo đạo Chúa. Ngay cả người anh ruột của tôi là Đặng văn Châu hoặc người anh thúc bá của tôi là Đặng văn Sung, tôi cũng không rõ nguyên nhân nào họ xin rửa tôi theo đạo Chúa.

Năm 2015, có ba sự kiện ảnh hưởng đến quyết định sự chọn lựa của tôi:

1/ Tôi bị giải phẫu tim banh ngực.  Sau khi được tiêm thuốc mê, tôi ở trong trạng thái mơ mơ màng màng, thì chợt thấy Mẹ tôi hiện về, mà sao trông giống Đức Bà Maria quá sức. Tôi thầm cầu xin Mẹ tôi phù hộ cho tôi tai qua nạn khỏi, vì có một số công việc tôi chưa hoàn thành. Công việc đó là lý giải vì sao đất nước Việt Nam ra nông nỗi này, theo sự suy nghĩ của tôi.

2/ Doanh gia Donald Trump ra tranh cử Tổng thống. Ban đầu, tôi nghĩ rằng ông muốn nổi tiếng để nhiều người biết tới tên tuổi của một nhà tỷ phú. Không ngờ ông nghiêm chỉnh muốn cứu nguy đất nước Hoa Kỳ và ông đã đánh bại 16 đối thủ trong đảng Cộng Hòa, mà người nào người nấy đều có một quá khứ chính trị rất thâm hậu. Tiếp theo, ông đánh bại luôn ứng cử viên Hillary Clinton, một người đàn bà đầy tham vọng chính trị, nhiều mưu mô xảo quyệt, lại được Barack Hussein Obama yểm trợ hết minh. Không phải chỉ riêng tôi, nhiều người Mỹ cũng tin rằng ông Donald Trump đắc cử là nhờ bàn tay của Thiên Chúa nhiệm mầu. Tôi chẳng phải là người mê tín dị đoan, nhưng qua trải nghiệm bản thân, tôi nhận thấy điều gì đã xảy ra cho mình, dường như có sự an bài của Thượng Đế, giống như người Công Giáo thường tin “một sợi tóc rơi cũng là ý Chúa”.

Bốn năm cầm quyền, mặc dầu bị đối phương dùng tất cả trò bẩn thỉu nhất, đê tiện nhất để đánh phá, nhưng Tổng thống đã vượt qua và đạt được những thành tích ngoài sự mong đợi của người Mỹ. Ông Trump vượt cả thành tích của người tiền nhiệm nổi tiếng – Tổng thống Ronald Reagan – có 8 năm cầm quyền. Ai nấy đều tin tưởng Tổng thống Donald Trump sẽ tái đắc cử năm 2020 một cách dễ dàng, do thành tích sáng chói và do đối thủ là Joe Biden, một ông già ngớ ngẩn, có quá khứ là kẻ đạo văn, hối mại quyền thế trong vụ đòi Tổng thống Ukraine phải bãi chức công tố viên đang điều tra tham nhũng và vụ “scandal” của cậu con trai – Hunter Biden – mà ông Biden có dính líu. Thế nhưng Tổng thống Donald Trump đã thất cử. Lần này, tôi càng tin sự thất cử của Tổng thống Donald Trump cũng là ý Chúa. Tại sao? Tôi nghĩ rằng Chúa muốn Tổng thống Donald Trump thất cử là để cho quần chúng Mỹ thấy rõ bộ mặt thật của bọn làm chính trị Mỹ bất lương, đang dùng phương châm của cộng sản “cứu cánh biện minh phương tiện” để giành quyền thống trị đất nước về tay mình bằng mọi giá, bất kể vi luật, phi đạo đức. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy sự mầu nhiệm của Thiên Chúa đầy quyền năng. “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Tôi cảm thấy mình có diễm phúc đã thấy việc làm của Chúa mà bên Đạo Phật gọi là “huệ nhãn”.

3/ Từ những ngày đang chiến đấu chống lại quân thù, mỗi khi bay phi vụ bao vùng về đêm trên không phận Sài Gòn, Cần Thơ để bảo vệ sự an lành của đồng bào mình, mà nếu không có mục tiêu tác xạ, thì hoa tiêu trưởng và hoa tiêu phó thay phiên nhau lái phi cơ bay vòng chờ; còn điều hành viên, cơ phi, xạ thủ, áp tải có thể ngủ nghỉ để dưỡng sức. Trong cái tĩnh mịch giữa trời đêm bao la, tôi thường suy nghĩ về nỗi bất hạnh của nòi giống Việt do cộng sản gây nên. Dựa theo câu nói của tiền nhân “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, tôi suy nghĩ mông lung để rồi tự hỏi: “Phải chăng các bậc vua chúa thời trước đã phạm vào một tội ác nào đó, khiến cho con dân phải hứng chịu hậu quả ngày hôm nay”?  Từ đó, tôi suy đoán, phải chăng oan hồn của người Chàm hận thù vì vua quan Nhà Nguyễn đã có một chính sách quy mô để hủy diệt nòi giống họ, thì nay họ báo oán bằng một lời nguyền rủa: “Ta (dân Chàm) sẽ làm cho cả dân tộc Việt Nam chúng bay trở nên ngu si, đần độn, tàn bạo, điêu ngoa, gian ác, tôn thờ ĐẠO QUỶ SỨ, khiến cho anh em dòng họ chúng bay đấu tố nhau, chém giết nhau, phản bội nhau, chia rẽ nhau, đố kỵ nhau, người yêu nước bị chà đạp, đứa gian manh được tôn vinh cho đến khi nào nòi giống chúng bay bị tận diệt như chúng tao thì mới thôi!”

Tất cả những sự kiện đã xảy ra đều ứng với lời nguyền rủa của oan hồn dân Chàm. Tôi tự hỏi:

Đây là một vấn đề thuộc lãnh vực tâm linh huyền bí, nếu tôi viết ra thì khó có ai chia sẻ với mình. Và nếu truy nguyên tội ác của vua chúa Nhà Nguyễn, thì tôi không sao tránh khỏi bị các hoàng thân quốc thích của nhà Nguyễn vì tự ái dòng họ, sẽ lên án tôi nặng nề. Tôi cứ đắn đo, ngần ngại mãi cho đến khi một cơ duyên rất tình cờ giúp tôi vượt qua nỗi lo lắng.

Nhân dịp anh Lê Đào tổ chức buổi họp mặt các cựu học sinh Quốc Học cùng lớp với anh tại Quận Cam, tôi tình nguyện làm tài xế đón các anh chị ở xa về dự, mặc dầu tôi không cùng lớp với họ. Về tới địa điểm hẹn để ngày mai tham dự Đại Hội, các anh chị tíu tít mừng rỡ hỏi thăm nhau vì lâu ngày không gặp gỡ. Một người trong nhóm đặt cho tôi câu hỏi:

  Theo bạn Bằng Phong, đến bao giờ thì dân mình mới hết tai họa cộng sản?

Sở dĩ các anh đặt câu hỏi ấy với tôi là vì các anh thấy tôi luôn luôn trăn trở thân phận giống nòi qua các bài viết. Tôi đáp:

  Có lẽ dân mình bị oan hồn người Chàm trả thù, vì tổ tiên mình đã tiêu diệt dân tộc họ. Việt Cộng là công cụ được oan hồn người Chàm sử dụng để tiêu diệt nòi giống ta.

Khi nghe tôi trả lời câu ấy, anh Hương An Võ văn Dật liền nói:

  Thầy Lê Tuyên có viết một bài với tựa đề Đường Về Chiêm Quốc đăng trên đặc san Đại Học Huế, cũng đề cập vấn đề như anh Bằng Phong nghĩ. Khi trở về San Jose, tôi sẽ gửi cho Bằng Phong tờ đặc san Đại Học Huế để anh nghiên cứu.

Sau khi nhận cuốn đặc san từ anh Dật qua “Attach file”, tôi vội tìm ngay bài viết của Giáo sư Lê Tuyên, thì đọc thấy mẩu chuyện có nội dung được tóm tắt như sau: “Trước khi lên đường về nước, Giáo sư Lê Tuyên cùng với mấy người bạn đi thăm một Nhà thờ Công giáo tại Tây Ban Nha có tên Santander. Mấy vị khách Việt Nam vừa đặt chân đến sân Nhà thờ, một vị Linh Mục từ bên trong bước ra chào đón phái đoàn và nói:

   Tôi biết có vị trong các ông sẽ trở về Việt Nam. Tôi xin nói cho quý vị biết Việt Nam đã mất vào tay của người Chàm, nên nước Việt Nam đâu còn nữa để mà trở về. Nếu quý vị có về thì đến một ngày nào đó quý vị cũng phải ra đi.

Vị Linh Mục tiết lộ rằng Ngài tu theo dòng Thánh Mathews, có thể đoán biết chuyện quá khứ, vị lai. Mặc dầu tôi (Linh Mục) chưa bao giờ có vinh dự đặt chân đến Việt Nam, chưa bao giờ đọc lịch sử nước Việt Nam. Rồi Ngài đọc một câu thơ Kiều của Nguyễn Du: “Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều”.

Câu chuyện vị Linh Mục nói với các du khách Việt Nam vào năm 1955. Tức là, theo vị Linh Mục, Việt Nam ta đã mất trước năm 1955, chứ không đợi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975! Tôi tự hỏi tại sao Giáo sư Lê Tuyên không yêu cầu Linh mục Cao văn Luận trình với Thủ tướng Ngô Đình Diệm về lời tiên tri của Linh mục người Tây Ban Nha? Biết đâu ông Diệm, tuy là người Công giáo, nhưng vì yêu nước, yêu dân, Ngài sẽ tổ chức một buổi lễ tạ tội với Trời Đất tại Đàn Nam Giao nhằm giải oan cho dân tộc Chàm, thì nước Việt Nam sẽ thoát họa Cộng sản?

Nếu tôi không tình nguyện làm tài xế cho các anh chị Quốc Học về họp mặt tại Quận Cam, thì chẳng bao giờ tôi biết đến bài viết của Giáo sư Lê Tuyên để khẳng định về việc dân tộc Việt Nam mình bị oan hồn người Chàm trả thù. Cho nên, tôi nghĩ đến cái việc tôi tình nguyện làm tài xế cho các anh chị Quốc Học cũng do ý Chúa muốn cho tôi biết có vị Linh Mục Dòng Tên đã nói cho Giáo sư Lê Tuyên và bạn hữu của ông biết nước Việt Nam đã bị người Chàm lấy lại.

Bởi những nguyên do nêu trên, tôi đã xin rửa tội theo chân Chúa vào dịp lễ Phục Sinh vào năm 2021. Tôi nói với Thầy Tư Tế rằng tôi chỉ tin Chúa và những Linh mục giữ giáo điều của Chúa. Nhưng tôi không im lặng trước vị chủ chăn nào (dù là Giáo hoàng) mà có tư tưởng theo xu hướng xã hội chủ nghĩa kiểu Cộng sản. Với tôi, cộng sản là Quỷ sư Sa-tăng.

Trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, có tin đặc công Việt Cộng đang phá dây kẽm gai hàng rào phòng thủ căn cứ Tân Sơn Nhất, anh em phi công nhào ra phi cơ vội vàng quay máy, di chuyển, cất cánh  bay sang Utapao, căn cứ Không Quân của Mỹ trên đất Thái Lan. Tự nhiên, trong đáy lòng tôi dâng lên một lời hứa “Mẹ ơi! Con sẽ trở về!” Giống như Đại tướng Douglas MacArthur hứa hẹn  “I shall return” vào ngày 20 tháng 10 năm 1944, khi ông rời Phi Luật Tân. Kể từ ngày mất nước, suốt bao nhiêu năm cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn tơ tưởng đến ngày về để giải phóng dân tộc. Cứ lầm lũi hoạt động trong âm thầm, tôi khám phá ra rằng người Việt Tị Nạn ở Hải Ngoại cũng bị lời nguyền rủa của oan hồn Người Chàm mà trở nên xuống cấp thê thảm.

Như tôi đã nói từ đầu, tôi không phải là người mê tín dị đoan, cũng không phải là nhà nghiên cứu tâm linh hay thần học. Nhưng tôi tin, con người sinh ra gồm phần xác và phần hồn. Và luật Nhân Quả không phải chỉ có Phật giáo đề cập tới, mà trong Kinh Thánh của người Công giáo cũng nói tới. Người ta bảo rằng trong nhân loại, dân tộc này tiêu diệt dân tộc kia là chuyện thường, tại sao tôi cứ cho rằng dân tộc Việt Nam mình khốn khổ, khốn nạn là do sự quả báo của oan hồn người Chàm? Xin trả lời: “Tôi không rõ chuyện nhân quả của các dân tộc khác. Tôi chi chiêm nghiệm đến dân tộc mình mà thôi”. Đồng thời, xin nhường quyền giải đáp cho mọi người tại sao nòi giống Việt Nam vẫn bị một bọn người cùng là nòi giống Việt Nam, mà đày đọa dân mình còn hơn cả dưới thời Tàu, Tây đô hộ? Riêng tôi, tôi không thể căn cứ lên điều gì khác, ngoài vấn đề Nhân Quả để lý giải vì sao dân tộc Việt Nam – một dân tộc thông minh, có lòng tự trọng và nhân ái – trở nên ngu muội, chia rẽ, phản bội, điêu ngoa, đối xử với nhau tàn ác, thì có lẽ tại vì tôi nhận được sự mặc khải của Ơn Trên để thấy vấn đề khác hẳn với mọi người. Bên tai tôi luôn lươn réo rắc một lời dạy: “Con hãy viết chính xác những gì con đã trải nghiệm trong đời để mai sau những nhà nhân chủng học đỡ mất thời giờ tìm hiểu vì sao dân Việt bị diệt chủng". Vậy những gì tôi viết bấy lâu nay không phải vì tình cảm thương ghét, mà là vì sứ mệnh do Ơn Trên giao phó. Tôi vững tin như thế! Ai nghĩ về tôi thế nào là quyền của mỗi người.

Ông Ngô Đình Diệm dự định vào dòng tu, vì tự cảm thấy bất lực, không thể làm được gì cho đất nước. Năm 1954, các thế lực Quốc tế chia đôi nước Việt Nam. Vua Bảo Đại mời ông sang Paris để giao cho ông nhiệm vụ lãnh đạo Miền Nam. Ông Diệm nhất định từ chối, vì tự thấy không thể đảm đương nổi một phần đất tan hoang vì chiến tranh, lòng người ly tán vì không nhìn thấy hiểm họa cộng sản. Cuối cùng, vua Bảo Đại đặt vấn đề trung thành với triều đình Nhà Nguyễn, với dân tộc Việt Nam trên vai ông, thì ông Diệm đành miễn cưỡng nhận lời, sau khi xin phép Hoàng thượng cho ông sang phòng bên để cầu xin Đức Mẹ phò trợ và soi sáng.

Ông Ngô Đình Diệm là nhà lãnh đạo có khả năng xây dựng một vùng đất đổ nát vì chiến tranh, một Thủ đô do những anh hùng tứ chiến của Thực dân Pháp để lại gồm có Xóm Bình Khang đĩ điếm, hai sòng bạc Kim Chung, Đại Thế giới, trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông.

Ông Ngô Đình Diệm là nhà lãnh đạo có lòng nhân ái và tôn trọng trí thức. Ông Hà Thúc Ký lãnh đạo đảng Đại Việt ở Miền Trung, kéo quân ra Ba Lòng lập chiến khu chống lại Chính phủ, lập đài phát thanh lên án chế độ độc tài và âm mưu sát ông Diệm. Nhưng khi bị bắt, ông Hà Thúc Ký không hề bị tra tấn, mà vợ ông còn được giúp đỡ tài chánh và con ông vẫn được đi đến trường như những học sinh bình thường. Năm 1960, hai sĩ quan Tình báo của Thực dân Pháp là Vương văn Đông, Trần Đình Lan làm cuộc đảo chánh. Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam có dính líu, nhưng không bị bắt bỏ tù. Bác sĩ Phan Quang Đán lên đài phát thanh đọc bản cáo trạng lên án chế độ. Cuộc đảo chánh thất bại, bác sĩ Phan Quang Đán bị bắt, viết lời thú tội và khóc lóc rất thảm thiết. Công An đề nghị đem cuốn băng tự thú tội của bác sĩ Phan Quang Đán lên đài phát thanh đọc cho dân chúng nghe. Nhưng Tổng thống Diệm không đồng ý, vì hành động như thế là làm nhục người trí thức không khác gì Việt Cộng. Thử hỏi trong lịch sử Việt Nam có vị vua nào có lòng nhân đức và lòng kính trọng trí thức hơn Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Ông Ngô Đình Diệm là nhà lãnh đạo rất quan tâm đến tương lai Phật giáo. Ông đã cho phép tu sĩ Phật giáo xuất ngoại du học để nâng cao trình độ kiến thức của tăng sĩ. Ông ra lệnh trùng tu những ngôi chùa bị đổ nát vì chiến tranh. Ông cho phép xây thêm chùa mới, mở trường Tư thục Bồ Đề để dạy cho học sinh không thi đỗ vào trường công lập và tự do phát triển các Khuôn hội Phật giáo cũng như Gia đình Phật tử. Thế nhưng những tên Việt Cộng đội lốt nhà sư như Trí Quang và băng đảng chụp mũ cho Tổng thống Diệm đàn áp Phật giáo để phát động cuộc đấu tranh lật đổ chế độ!

Không có một ông Bộ trưởng nào có tín ngưỡng Phật giáo trong Nội Các và không có một ông Tướng nào có tín ngưỡng Phật giáo trong Quân Đội có cái dũng để tố giác cuộc đấu tranh của bọn Trí Quang là láo khoét. Chỉ có ông Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẫu là một loại chính trị gia cơ hội, rất được Tổng thống Diệm quý trọng, lại bày đặt cạo trọc đầu để ủng hộ bọn Việt Cộng nằm vùng trong Phật giáo. Tôi cho rằng Phật giáo – một tôn giáo đặt sự Từ Bi trên hết, không dám giết một con kiến – lại bị tên thầy chùa Trí Quang mang Ngài Quảng Đức ra nướng (barbecue) vì mục đích chính trị, mà không một nhà trí thức nào của Phật giáo thấy được hành vi bất nhân của bọn Trí Quang là giết chết Đạo Phật, thì rõ ràng sự nguyền rủa của oan hồn người Chàm đã làm cho giới tăng lữ trở nên vô minh (ngu) và hèn hạ.

Tổng thống Ngô Đình Diệm là nhà lãnh đạo duy nhất trong lịch sử Việt Nam có cuộc sống khổ hạnh như một nhà tu, nằm ngủ trên tấm phản bằng gỗ kê ngay trong phòng làm việc và ăn uống cũng rất đạm bạc, nhưng lại bị bọn Việt Cộng nằm vùng bịa đặt nhiều chuyện tồi bại, như quan hệ tình dục với cô em dâu Trần Lệ Xuân. Trong khi ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh là con quỷ râu xanh được bọn nịnh thần tung hô như vị thánh sống! Sự láo khoét của cộng sản thật đáng ghê tởm!

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, bọn Tướng lãnh được xem là trung thành với chế độ như Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân … đã nhận tiền của Mỹ để làm cuộc đảo chánh. Tôi thật sự không hiểu tại sao những cơ quan Tình Báo, Phản Gián khác nhau gửi báo cáo cho Tổng thống biết Tướng Dương văn Minh đã bị người em là Dương văn Nhật, một Đại tá Việt Cộng, móc nối để làm phản, mà Tổng thống lại sai Đại tá Nguyễn văn Y    Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc Gia – mang tất cả hồ sơ đốt đi? Tại sao Tổng thống Diệm không đưa nội vụ qua Tòa Án để xử tội phản quốc của Dương văn Minh, hay ra lệnh Cơ quan An ninh bám sát hành vi của Dương văn Minh để phòng ngừa bạo loạn? Có phải oan hồn người Chàm khiến xui, đưa Tổng thống Diệm đến sự sai lầm nuôi ong tay áo, để rồi Dương văn Minh ra lệnh Mai Hữu Xuân giết anh em Tổng thống?

Sau đảo chánh, Dương văn Minh ra lệnh phá hủy 16 ngàn Ấp Chiến Lược chống lại chủ trương “lấy nông thôn bao vây thành thị” của Việt Cộng, giống như Kibbutz của Do Thái dùng để bảo vệ dân khỏi sự tấn công của quân khủng bố Hồi giáo Palestine. Ở Miền Bắc, bọn cầm quyền Việt Cộng rất vui mừng khi được tin 16 ngàn Ấp Chiến Lược đã bị phá hủy, nhưng trong Nam thì không có một ông Tướng nào phản đối hành động của Dương văn Minh là nối giáo cho giặc. Xin hỏi tất cả anh em quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có cảm thấy nhục nhã vì phục vụ dưới quyền những ông Tướng ươn hèn và kém tầm nhìn chiến lược? Nhìn Tướng mạo của ông “Big Minh” cao lớn, mập mạp và nước da ngâm ngâm đen, tôi đã tự hỏi:

 Phải chăng tiền kiếp của Đại tướng Dương văn Minh là người Khmer đầu thai làm một ông Tướng Việt Nam, giết chết nhà ái quốc Ngô Đình Diệm để trả thù nhà Nguyễn đã chiếm lấy đất đai của Khmer?

Người Mỹ tự hào vì nghĩ rằng nước Mỹ đứng đầu nền kinh tế thế giới và có một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất hoàn cầu, thì họ thừa sức ngăn chặn làn sóng đỏ cộng sản từ Miền Bắc tràn xuống. Nhưng người Mỹ đã thất bại ê chề, vì họ đến giúp một dân tộc bị quỷ ám bởi lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm. Chính nhà lãnh đạo Mỹ cũng bị oan hồn người Chàm ám, nên đã bỏ tiền ra thuê bọn phản tướng làm đảo chánh, giết chết nhà ái quốc Ngô Đình Diệm, kéo theo sự thất trận năm 1975. Tại sao tôi dám nghĩ như thế? Tại vì Hoa Kỳ chỉ cần ra lệnh bọn cầm quyền Hà Nội phải rút quân về Miền Bắc, nếu bọn Việt Cộng bất tuân thì Hoa Kỳ sẽ đánh tan con đê sông Hồng Hà vào mùa nước lớn, ắt Việt Cộng sợ cả Thủ đô của chúng trôi ra biển, mà phải tuân hành. Bất chiến tự nhiên thành là ở chỗ đó! Nước Mỹ sẽ không bị mất 58 ngàn quân tinh nhuệ và không tốn hàng chục tỷ đô-la cho chiến tranh.

Có nhiều sự kiện đưa đến nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa bị cáo chung. Nhưng chủ yếu là thành phần lãnh đạo đảng phái, lãnh đạo tôn giáo, lãnh đạo Quân Đội và trí thức của Việt Nam bị quỷ ám, trở nên ngu dốt, phản bội nhau, nên đưa đến sự chiến thắng của con quỷ cộng sản. 

Tôi có đọc cuốn sách nói về ông nói Edgar Cayce dùng thôi miên mà có thể biết tiền kiếp của một người. Trong Việt Nam, mặc dầu cộng sản vô thần, nhưng có khoa Cận Tâm Lý nghiên cứu về tâm linh.

Ông Trần Phương, Phó Thủ tướng Việt Cộng, cũng như Tướng Trần Độ, Phó Chính Ủy Trung Ương Cục Miền Nam, đều có bài tường thuật nhờ những nhà ngoại cảm mà tìm ra mộ của em gái bị chết dưới thời kháng chiến chống Pháp. Tôi đoán rằng có lẽ những nhà ngoại cảm trong nước đều biết rõ tiền thân của Hồ Chí Minh, nhưng không dám nói ra, vì sợ bị chế độ trù dập. Tôi rất mong muốn sau này có nhà ngoại cảm có thể biết được tiền kiếp của ông Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, của Tổng thống (1 ngày) Dương văn Minh là ai để thỏa mãn mối tin tưởng của mình.

Bài viết tiếp theo, tôi sẽ đề cập đến nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa. Xin độc giả kiên nhẫn đón xem.

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 15 tháng 9 năm 2022

10200 Bolsa Avenue, Thành phố Westminster, California 92686.

Telephone 714 – 276 – 5600. Email Address: bangphongdva033@gmail.com


Cayce_1910.jpg


Hình của Edgar Cayce.