Search This Blog

Tuesday, November 23, 2021

ĐẶT VẤN ĐỀ VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

ĐẶT VẤN ĐỀ VỚI

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Gửi ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam,

Gửi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam,

Gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

Trước ý đồ gian ác của Trung Cộng thôn tính nước Việt Nam và đồng hóa nòi giống Việt Nam, tôi – Bằng Phong Đặng văn Âu – nhân danh một người mang dòng máu Lạc Hồng, nghiêm khắc đặt vấn đề với ông Tổng Bí thư, với Bộ Chính trị và với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo sự tiết lộ của Trung Cộng, Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang, một sĩ quan trong Đệ Bát Lộ Quân, được cải trang thành Hồ Chí Minh để sang lãnh đạo Việt Nam làm cuộc cách mạng vô sản, nhằm nhuộm đỏ toàn thế giới. Tôi tin tưởng sự tiết lộ của Trung Cộng là đúng Sự Thật.

Thứ nhất, Trung Cộng có thể tìm một người Tàu có gương mặt giống Nguyễn Tất Thành, rồi đặt bí danh Hồ Chí Minh, hoặc với kỹ thuật giải phẫu, bác sĩ Tàu có thể làm cho Hồ Quang có gương mặt giống Nguyễn Tất Thành. Nhưng chiều cao của Hồ Quang và chiều cao của Nguyễn Tất Thành thì không thể thay đổi được. Thực tế là Hồ Quang cao lớn hơn Hồ Chí Minh.

Thứ hai, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không thể vô lễ với vị anh hùng dân tộc – Đức Thánh Trần Hưng Đạo – bằng lối xưng hô “bác bác, tôi tôi” như bạn bè đồng trang lứa, khi đề thơ tại Đền Kiếp Bạc. Lúc đọc Tuyên Ngôn Độc Lập vào năm 1945, Hồ Chí Minh chỉ mới 55 tuổi, dám xưng bác và gọi đồng bào ta là các cháu, mà trong đó có những cụ già ngót 100 tuổi là một sự hỗn láo không đúng với lễ nghi Việt Nam.

Thứ ba, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ dám bán nhà cách mạng Phan Bội Châu cho Thực dân Pháp.

Thứ tư, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ bí mật thủ tiêu những nhà lãnh đạo ái quốc chống Pháp như Trương Tử Anh, Lý Đông A, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ.

Thứ năm, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ triệt tiêu nguyên khí Quốc gia bằng chủ trương đào tận gốc, trốc tận rễ thành phần trí thức để thi hành chính sách ngu dân.

Thứ sáu, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ dùng thí nghiệm của nhà sinh vật học Nga – Ivan Pavlov – trên loài chó để áp dụng vào nhân dân Việt Nam bằng biện pháp bỏ đói làm mất nhân phẩm.

Thứ bảy, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ đem dân tộc Việt Nam đánh Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ cho Liên Xô, cho Trung Cộng như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thú nhận. Hồ Chí Minh đẩy hàng triệu thanh niên Việt Nam của hai miền Nam Bắc vào lò lửa chiến tranh cho cuồng vọng của Trung Cộng là một tội ác không thể tha thứ.

Thứ tám, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ gửi cán bộ sang Trung Cộng học tập cách chửi cha mắng mẹ, anh em, họ hàng giết hại lẫn nhau, tịch thu toàn bộ tài sản để bần cùng hóa nhân dân trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất cực kỳ man rợ.

Thứ chín, nếu thực sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ chủ trương triệt hạ nền Văn Hóa do Tổ Tiên xây dựng suốt bốn ngàn năm để thay vào đó một chủ nghĩa phi nhân, căm thù giai cấp, phân hóa xã hội.

Thứ mười, nếu thật sự là người Việt Nam, Hồ Chí Minh không bao giờ ra lệnh cho Thủ tướng Phạm văn Đồng gửi thư cho Quốc Vụ viện Trung Cộng để dâng biển đảo cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam.

Về phương diện phương diện đạo đức:

1/ Hồ Chí Minh là một con người tồi bại, vì ra lệnh thuộc cấp mang thiếu nữ vị thành niên vào Dinh Chủ tịch để hành lạc.

2/ Hồ Chí Minh là một con người vô trách nhiệm, chăn gối với Nông thị Xuân, đẻ ra Nguyễn Tất Trung rồi giao con cho Vũ Kỳ nuôi và ra lệnh Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn thủ tiêu vợ.

3/ Hồ Chí Minh là một con người phản phúc, được bà Cát Hanh Long Nguyễn thị Năm cống hiến tài sản để nuôi Đảng lúc nghèo đói, sa cơ. Nhưng sau đó, Hồ Chí Minh cùng Trường Chinh Đặng Xuân Khu thản nhiên ngồi chứng kiến cuộc đấu tố bà Nguyễn thị Năm cho đến chết.

4/ Hồ Chí Minh là một người cực kỳ hung ác, có máu lạnh đã thiết lập một bộ máy cai trị gồm những tên quỷ sứ không tim, không óc đánh đập, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.

5/ Chiêu bài Giải phóng Miền Nam, Thống nhất Đất nước là láo. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam phải bỏ nước ra đi bằng mọi phương tiện dù cái chết trước mắt.

Bộ máy cai trị của Đảng đã cưỡng bức nhân dân thành nô lệ và nhồi sọ vào đầu óc trẻ con tư tưởng vô luân thường, vô đạo lý để biến toàn xã hội thành một địa ngục trần gian. Chưa bao giờ có hiện tượng người con gái Việt Nam phải trần truồng để cho người ngoại quốc định giá mua về làm vợ hoặc làm công cụ cho khách làng chơi. Chưa bao giờ đông đảo thanh niên Việt Nam bị đẩy đi làm lao nô thế giới để Đảng lấy tiền cung phụng cho giới cầm quyền sống cuộc sống cực kỳ xa hoa, trụy lạc mà Đảng không can thiệp khi lao nô bị ức hiếp. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam bị cả thế giới khinh miệt như ngày hôm nay.

Đảng bắt buộc toàn dân Việt Nam phải học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và noi gương đạo đức Hồ Chí Minh – một con người độc ác, vô đạo đức – là có mục đích tiêu diệt nòi giống Việt Nam theo mệnh lệnh của Trung Cộng.

Nhận định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp có vũ khí, tự đặt ra luật pháp và ngồi trên luật pháp, không có lý do chính đáng để cai trị nhân dân Việt Nam gần một thế kỷ, tôi cực lực phản đối và yêu cầu:

1/ Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng phản động, phản quốc, phản dân tộc, hãy trả lại quyền làm người cho Dân tộc Việt Nam.

2/ Thứ hai, hãy tổ chức bầu cử tự do dưới sự giám sát của Quốc tế để cho nhân dân Việt Nam được quyền tự quyết định vận mạng.

Không lý do gì Tổ Tiên dân tộc Việt Nam đã tốn biết bao xương máu để xây lên và gìn giữ một Non Sông gấm vóc, một Dân Tộc kiêu hùng mà bị một người Tàu lãnh đạo Chủ nghĩa Cộng Sản đã bị nhân loại lên án là một chủ nghĩa diệt chủng, lại được quyền ngang nhiên tiêu diệt Nòi Giống Việt Nam.  

Bằng Phong Đặng văn Âu.

Làm tại: 10200 Bolsa Avenue, Thành phố Westminster, California 92683, USA.

Telephone: 714 – 276 – 5600

Ngày 23 tháng 11 năm 2021

Friday, November 19, 2021

HỒI ÂM DÒNG ĐỜI

 

HỒI ÂM "DÒNG ĐỜI" NGA SÀI GÒN

 https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEip2EEgcMxHwUUSa9JoXytWN0Uhy6pQlGisNtSMgKyteu5EsDbFYdm_skLVI21qbE3MwQqCZg-PH_bCOx2RFk1cDBst8dz61qy89qDwqxI5t_mzrmHxoZ8naTOWn3c0YIubG7aDktHM4MsR/s640/tinh+chinh+chien.jpg



Hồi Âm "DÒNG ÐỜI..." Nga Sàigòn.

Truyện Tình Thời Chinh Chiến

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj4bTkSjmHJfAprPdyVlxFjomVFlBGYEu3vHhzVeRU2iqU7Zr0a5y2qqKal_yANgOIMKu8IdPc_vVGY_F0lGz_wrhgJxdssz-0EiYEvOK49YIWZI3pOHGIlQtlD2oyG-OevjgFVVEk_95G5/s640/valentine+9-1.jpg

 

Anh Duy thân mến,

 

Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sàigòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Ðặt bút viết là thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt.... Không biết rồi lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ gì? Thôi em cũng liều... Cầm bằng như gió mang đi.

 

Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền..v.v... thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều... cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.

 

Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:

- Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng

Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:

- Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Ðọc để xúc động vì "người ta" còn nhớ tới mình!

 

Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh, đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên tưởng đến một điều gí đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:

 

- Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?

 

Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng cười em già rồi mà còn vớ vẩn.

 

Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người bạn học cùng trường thủa thiếu thời.

 

Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, "Chắc chắn là anh đây rồi?!" Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.

 

Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì? Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.

 

Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui thích như đi trẩy hội ngày Xuân. Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài "Nhớ Chiến Khu". Lúc bấy giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run ...vì ánh mắt ngưỡng mộ va say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy anh Duy nhỉ?

 

Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, "mờ mịt" thì anh phát âm thành "mờ mịch" hay "vui quá" thành "vui góa". Và còn nhiều chữ độc đáo nữa...

 

Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai cười khỉnh rất là... Sàigòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.

 

Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè 51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:

 

- Trại sinh bên toán B ăn hết "thịch" (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho "dzui"!

 

Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!

 

Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù theo điệu nhạc trầm bổng.

 

Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để ý "người Sàigòn" có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?

 

Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính "nghịch" ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài "Giòng Ðời", em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó.

 

Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học dốt!

 

Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự tại, đẹp như một pho tượng!

 

Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ, có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?

 

Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em là con gái, đặc biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để... ngắm anh (!) Hoặc để luồn những ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Ðó là cái rạo rực rất tự nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh chàng đang ngấm nghé.

 

Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em, con nhỏ Thủy - con gái ông Xã Tài - đọc trộm lá thư em dấu trong sách cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Ðằng này con nhỏ Thủy vốn thầm yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc tình chúng mình!

 

Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biếng nhác việc học hành và công việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cũng sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.

 

Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ. Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận. Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân. Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!

 

Anh Duy yêu dấu,

 

Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình, của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em còn nhớ đến cái giọng Sàigòn ngồ ngộ của anh nữa!

 

Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà "người ta" đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười lăm tuổi. Trong bài "Giòng Ðời" anh kể rằng em làm lẽ một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu "bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!"

 

Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi ngày. Ða số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi Nam ) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường "làm nghĩa vụ quốc tế" như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn. Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta khỏi bị ngỡ ngàng.

 

Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!

 

Khi miền Nam được "giải phóng", em nghĩ rằng đây là cơ hội em có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi "học tập cải tạo", rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng. Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là tướng Việt cộng mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình? Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?

 

Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù, bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.

 

Ðúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút nắng trong buổi chiều tàn, "Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!" Ðời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sàigòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của người yêu ban đầu.

 

Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Ðêm đã xuống từ lâu. Cảnh vật yên lặng như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất rồi! Ðừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lún đồng tiền và nụ cười răng khểnh.

 

Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.

 

Thân ái,

 

Em gái anh, Nga

 

Tái bút: Ðể tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú Lâm bằng đường bưu diện.

 

Sunday, November 14, 2021

CAI THỜI ĐẠI CHÓ ĐẺ

 

CÁI THỜI ĐẠI CHÓ ĐẺ

Bằng Phong Đặng văn Âu

Mẹ tôi nhiều lần dặn đi dặn lại tôi lúc còn nhỏ: “Lớn lên, con muốn làm nghề gì thì làm. Nhưng tuyệt đối đừng làm nghề viết văn”. Tôi hỏi tại sao vậy Mẹ. Bà giải thích: “Mẹ thấy những người bạn học của Mẹ theo đuổi nghề viết văn, thì hầu hết đều bê tha, rượu chè, hút xách làm khổ vợ con”. Tôi hỏi: “Vậy Mẹ muốn con làm nghề gì khi lớn lên”. Mẹ tôi nói: “Mẹ muốn con làm nghề bác sĩ giống Thầy con, anh Cả của con, giúp người đau ốm để được phước.” Tôi đáp: “Vâng, con sẽ cố gắng”. Nhưng tôi là đứa trẻ bất nghì, vì đã không theo đuổi cái nghề mà Mẹ mình mong ước. Đâu khó khăn gì mà không học được nghề bác sĩ? Trời ban cho tôi có trí nhớ khá tốt, chỉ cần đọc sơ qua một vài lần là tôi nhớ ngay.

Tôi có thói quen ham đọc truyện tiểu thuyết. Nhiều đêm cầm đèn bấm, chui vào chăn để đọc lén. Mỗi lần Mẹ khám phá thấy tôi lén nằm trong chăn đọc truyện là một lần tôi bị ăn đòn. Sau đó, Mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc: “Mẹ chỉ muốn lo tương lai cho con, Mẹ mới đánh con”.

Thấy Mẹ khóc, tôi cũng khóc. Khi học Chinh Phụ Ngâm, tới câu “Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân”, tôi mới hiểu tấm lòng của Mẹ. Người nào vô phúc có cha mất sớm mới hiểu tâm trạng của đứa trẻ mồ côi cha như tôi. Người Việt Nam có máu ác. Trẻ con phạm lỗi thì người lớn nên đem lời thương yêu để răn dạy mới phải. Đằng này, một đưa trẻ mồ côi cha mà phạm một lỗi nhỏ, liền bị mắng: “Đồ con không cha như nhà không nóc!”

Nước Việt Nam mình nghèo. Có lẽ vì thế mà các bậc cha mẹ làm lụng vất vả, nhịn ăn nhịn mặc để đầu tư vào việc học cho con, để mai sau con mình có cuộc sống khá giả hơn mình? Từ đó, học trò chuyên chú học môn nào có hệ số lớn như Toán, Lý Hóa để đi thi cho dễ đậu. Còn những môn học có hệ số 1, như môn sử ký địa lý thì ít quan tâm hơn. Tư duy của Mẹ tôi cũng không ngoài xu hướng của đa số người Việt. Cho nên Mẹ tôi khuyến khích con học Toán, Lý Hóa, Anh văn, Pháp văn là những môn để chuẩn bị vào trường Y khoa.  Chẳng hiểu có phải vì nền giáo dục Việt Nam chú trọng đến thi cử, đỗ đạt mà quên đi dạy cho học sinh, sinh viên về trách nhiệm công dân trước hiểm họa cộng sản có thể làm đất nước? 

Lớn lên, tôi nhận thấy Mẹ tôi nói đúng. Nhà thơ Tú Xương than: Một tuồng rách rưới con như bố” là bởi vì nhà thơ có thói“Cao lâu thường ăn quịt, Thổ đĩ lại chơi lường”. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu thì than: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Rồi đến sự than vãn của nhà báo Nguyễn Vỹ, nghe càng xót xa hơn: “Nhà văn An-nam khổ như chó!” Vậy mà có người chọn làm nghề viết văn ở nước Việt Nam, phải chăng là do  nghiệp dĩ, vì chẳng ai muốn chọn một cuộc sống nghèo khổ? Nhờ cái nghiệp dĩ bất hạnh của họ, người đời mới có những áng văn, vần thơ làm cho cuộc đời thêm ý vị. Thời nay, nhờ sự tiến bộ của ngành ấn loát, số lương nhà văn nở rộ như nấm gặp mưa. Thậm chí có người viết văn bất thành cú, mà cũng sở đắc nhiều tác phẩm.

Vốn đã nghèo khổ, nhà văn nhà thơ càng nghèo khổ hơn dưới chế độ cộng sản. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ Việt Nam nổi tiếng nhất thời 1945 đều đi theo “Cách Mạng”, vì tâm hồn của họ đều lãng mạn, trí óc của họ vận hành theo cảm tính, cứ nghe “Chống Pháp, Giành Độc Lập” là lên đường, không cần biết chủ nghĩa cộng sản là một tai họa ghê gớm cho dân tộc! Học sinh, sinh viên cùng thời với tôi đều chịu ảnh hưởng tính lãng mạn của những nhà văn nhà thơ. Bất hạnh thay! Những nhà văn, nhà thơ mà chúng tôi coi như thần tượng đều ở phía của kẻ thù của dân tộc! Họ bị Hồ Chí Minh nhồi sọ luận điệu “Trong văn chương cần phải có thép”. Thép đâu chẳng thấy, mà chỉ thấy toàn xương trắng máu đào: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ” và toàn những lời xu  nịnh một cách bỉ ổi “Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin”!

Tôi rất nhiều lần tự thú nhận không phải là nhà văn, vì tự biết mình không có văn tài để gánh vác nổi sứ mệnh “Văn dĩ tải đạo”. Đó là lời thú nhận rất thật, chứ không phải tôi giả bộ khiêm tốn giống như nhà văn Phan Nhật Nam. Tôi chưa hề được ai trả cho mình một đồng xu tiền nhuận bút. Sinh kế của tôi hoàn toàn từ lao động chân tay. Ngược lại, nhà văn Phan Nhật Nam từng chìa tay lãnh giải thưởng văn học, từng được ông Tổng Giám Đốc Trúc Hồ, chủ cơ quan truyền thông SBTN, trả lương thì bạn Nam của tôi không thể thoái thác mình không phải là nhà văn.

Trót nghe lời dạy “thất phu hữu trách”, tôi chỉ tự coi mình là người kể chuyện giống như thời xa xưa bên Tàu có những nghệ nhân làm nghề kể chuyện, hát dạo, hát rong ở các quán ăn để mua vui cho khách, hầu kiếm tiền độ nhật. Còn tôi, không vì kiếm tiền độ nhật, tự nguyện làm kẻ hát rong để kể chuyện về thời đại mà tôi đã sống. Khi xưa La Quán Trung thu thập những mẩu chuyện dân gian, rồi san định thành cuốn Tam Quốc Chí. Tôi nghĩ biết đâu mai sau cũng có một tài nhân nào đó thu thập những chuyện tôi đã viết để đóng thành sách cho thiên hạ đọc, là tôi mừng lắm rồi. Bởi thế, tới nay tôi chưa có một cuốn sách nào xuất bản.

Nhà văn đích thực là tao nhân mặc khách, có tài sáng tác những áng văn tuyệt vời. Tôi chỉ là một người lính không còn khí giới trong tay, thì đành mượn chữ nghĩa để chống lại kẻ thù gian manh, tai ngược. Tôi rất đồng tình với câu nói của nhà văn Quân đội Văn Quang: “Đã viết thì không sợ. Mà sợ thì đừng viết”. Mỗi lần ra trận, coi như cái chết chờ sẵn còn không sợ, huống hồ viết khi đang sống ở xứ sở tự do? Dưới mỗi bài viết, tôi thường ghi rõ tên thật, địa chỉ nhà, địa chỉ email, số điện thoại để tỏ rõ mình là người viết có trách nhiệm và tôn trọng độc giả.

Bác sĩ Bùi Duy Tâm, bạn của anh tôi, viết thư hỏi: “Tại sao em biết nhiều chuyện liên quan đến lịch sử thế? Năm nay em bao nhiêu tuổi mà trí nhớ còn tốt vậy?”. Tôi trả lời: “Em không có chủ đích giống như Cụ Đoàn Thêm ghi chép “Việc Từng Ngày”. Chẳng qua em may mắn được lạc đường vào lịch sử và có trí nhớ khá tốt thì viết ra cho bà con đọc thôi. Em cũng không nuôi ảo tưởng bài viết của mình có khả năng thay đổi tình thế. Chỉ viết mà chơi thôi, anh Tâm à”

Trước năm 1975, bạn tôi Thiếu tá Không Quân Đinh Sinh Long, hiện ở Quận Cam thấy tôi cứ băn khoăn về tình hình đất nước, nói với tôi: “Để hôm nào, tôi đưa bạn đi gặp một nhân vật quan trọng”. Đến ngày hẹn, Long đưa tôi gặp nhân vật quan trọng như bạn hứa. Khi tới cổng, tôi nhận ra đó là nhà của bác sĩ Trần Kim Tuyến, người đứng đầu “Sở Nghiên Cứu Chính trị” vào thời Đệ nhất Cộng Hòa. (Sở Nghiên Cứu Chính trị là “code name” của cơ quan tình báo, phản gián chiến  lược thời Đệ nhất Cộng Hòa). Bác sĩ Tuyến ra mở cửa, nhìn tôi và nháy mắt. Tôi hiểu ý, vội lên tiếng chào chủ nhà, làm bộ như hai người chưa gặp nhau lần nào. Long tưởng rằng bác sĩ Tuyến và tôi chưa hề quen biết nhau từ trước, giới thiệu về tôi bằng tấm thịnh tình. Hôm nay tôi vẫn còn nhớ tới những lời giới thiệu ưu ái của Long dành cho tôi. Xin cám ơn bạn hiền. Nhờ quen bác sĩ Trần Kim Tuyến, tôi mới biết một vài sự kiện thì viết ra. Nên nhớ rằng có nhiều người biết hơn cái biết của tôi, nhưng họ không viết ra vì ngại phiền phức! 

Tôi từng viết bài về chủ đề Chữ Thời, như “Thời Đại Quỷ Ám”, “Thời Của Kẻ Giết Người”, “Thời Của Bọn Làm Bạc Giả”, “Thời Của Bọn Giả Hình”. Hôm nay bài viết của tôi có tựa đề “Cái Thời Đại Chó Đẻ”. Xin lỗi quý độc giả. Tôi không phải là người viết thô lỗ, vô văn hóa. Tôi chỉ muốn phản ảnh hiện thực xã hội thì mới có thể cực tả cái thời đại mà chúng tôi đang sống. Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa chó đẻ, vì cha nó nó cũng giết; mẹ nó nó cũng giết; anh em dòng họ nó nó cũng giết. Cái Chó Đẻ ghê gớm nhất của cộng sản là nó vẽ ra một thiên đường giữa trần thế, nhưng khi hành động thì tồi bại, độc ác ngoài trí tưởng tượng con người.

Thế nào gọi là Chó Đẻ? Chó là con vật rất trung thành với chủ, nhưng khi nó sinh con mà chủ thò tay vào, nó tưởng bắt con nó, nên nó táp. Có lẽ vì vậy mà tiếng Anh có chữ “Son of bitch”? Trong ngôn ngữ Việt Nam thuộc loại bình dân, nhất là ở Miền Nam, dùng chữ Chó Đẻ là để chỉ cái hạng người “đâm cha, chém chú, đụ chị dâu”. Ngay như Đức Giám mục Nguyễn văn Khảm giảng giáo lý cho tín hữu nói về lớp người trẻ trong xã hội Việt Nam ngày nay được sử dụng những phương tiện văn minh của thế giới, nhưng đạo đức suy đồi. Cha Khảm kể Cha gọi điện thoại cho một người mà có thể vì nhầm số. Phía bên kia liền hỏi: “Đù má thằng nào đó?”. Nếu ai không tin, cứ mở “Video 100 tuần Thánh” để nghe Cha Khảm giảng thì biết. Theo tôi, Cha Khảm phải lặp lại nguyên văn để tả tình trạng thực của xã hội cộng sản ngày nay là như thế đấy! Xin các nhà trí thức đừng cau mày vì tôi đưa một chữ thô tục vào bài viết. Thời đại nào, ngôn ngữ nấy! Người viết không thể làm bộ đạo đức giả!

Cao Bá Quát là một Nhà Nho, khi trên đường ra pháp trường còn chửi thề “Ba hồi trống giục ĐÙ cha kiếp, một nhát gươm ĐÉO mẹ đời” đó sao? Nhiều người chê bà Hồ Xuân Hương làm thơ tục tĩu, vì họ không hiểu thâm ý của bà, nên nghĩ bà viết tục. Không! Cao bá Quát muốn cực tả sự phẫn uất đối với triều đại quân chủ chuyên chế. Còn bà Hồ Xuân Hương làm thơ tục là để bày tỏ thái độ khinh miệt đối với phái đàn ông lợi dụng thân xác người phụ nữ. Vậy thiết nghĩ, tôi lấy chữ “Chó Đẻ” để cực tả bản chất cộng sản bằng câu tục ngữ của bình dân Nam Bộ cũng hợp lẽ, phải không?

Con người là một sinh vật duy nhất có óc thông minh, có tiếng nói, có lương tâm. Thuở khai thiên lập địa, con người sống theo bản năng như các sinh vật khác. Khi bộ óc phát triển, tôn giáo phát sinh để dạy con người sống cho phải đạo (lương tâm). Đức Phật dạy về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo. Đức Chúa dạy Mười Điều Răn. Triết gia François Rabelais viết “Science sans conscience n'est que ruine de l’âme” (Khoa học mà không có lương tâm là sự hủy hoại của tâm hồn). Nói một cách nôm na, có học mà vô hạnh thì coi như vứt đi!

Chủ nghĩa cộng sản được xem như là một tôn giáo, vì nó có giáo điều. Tôn giáo cộng sản phủ nhận lương tâm, lấy căm thù làm động lực đấu tranh. Thành thử nó trở thành chó đẻ: tàn ác, gian manh, điêu ngoa, vu khống, chụp mũ. Nghĩa là bất cứ thứ gì tồi bại nhất trên đời chúng cũng làm để đạt mục đích thống trị loài người. Đạo cộng sản có khả năng đào tạo tín đồ của nó thành người máy, không tim, không óc. Chắc chắn sẽ có độc giả hỏi rằng tại sao nó tồi tệ như thế mà vẫn có người học hành đàng hoàng vẫn đi theo? Chỉ có một câu trả lời xác đáng nhất là tại vì loài người bị quỷ ám, xa rời giáo lý của Phật, của Chúa. Cộng sản là một tổ chức của tà giáo, ai đã trót sa vào thì không thể thoát ra được. 

Ban đầu, Nguyễn Sinh Cung – con Cụ Nguyễn Sinh Sắc – chấp nhận làm bồi tàu ra nước ngoài để mưu cầu cứu nước, giống như các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nhưng khi tình cờ cầm lên cuốn “Tuyên Ngôn Cộng Sản” chưa cần biết trong sách viết điều gì, ông đã vội vàng nhảy cửng lên: “Đây rồi! Đây là bí kíp võ lâm có thể giúp ta làm cuộc cách mạng dân tộc, cứu nước Việt Nam ra khỏi vòng nô lệ Thực dân Pháp!”. Vì không biết chủ nghĩa cộng sản là cái chủ nghĩa chó đẻ, Nguyễn Sinh Cung từ một người ôm giấc mơ đi làm cách mạng cứu nước, bỗng nhiên trở thành một Hồ Chí Minh chó đẻ, mang nhiều tên giả chưa ai từng có trong lịch sử.

Thử hỏi Hồ Chí Minh được bà Cát Hanh Long Nguyễn thị Năm bảo bọc, dốc cả tài sản để ủng hộ cách mạng. Rồi một ngày nọ hắn dùng bao vải bịt kín hàm râu để thản nhiên ngồi chứng kiến cuộc đấu tố bà Nguyễn thị Năm, thì hắn không phải là thằng chó đẻ hay sao?

Có vua nào trong lịch sử nước ta gửi người trong triều đình sang Trung Hoa để học cách đấu tố cha mẹ, giống như Hồ Chí Minh gửi cán bộ sang Trung Cộng học cách đấu tố cha mẹ để đem về nước thực hiện cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất không?

Chẳng phải nói ngoa, hành vi chó đẻ hại nước hại dân của Hồ Chí Minh, tre trên rừng ghi không hết tội, nước biển Đông cũng không đủ để rửa sạch. Bọn cầm quyền hiện nay cũng nghi ngờ Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam. Bởi thế chúng mới không dám thử DNA để xác minh Hồ không phải một anh Tàu phù, mặc dầu Trung Cộng công khai tuyến bố Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang trong Đệ Bát Lộ Quân. Chính bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chẳng xem Hồ Chí Minh ra gì vào những ngày cuối đời. Chẳng qua, ngày nay bọn cầm quyền Việt Cộng bắt buộc nhân dân học tập tư tưởng của “Bác” và noi gương đạo đức của “Bác” để cho Đảng có lý do tồn tại mà thôi. Bọn cầm quyền thừa biết “Bác” nói “cán bộ là đầy tớ nhân dân” là câu nói đểu. sức mấy chúng nó chịu làm đầy tớ nhân dân? Bộ máy cai trị của đảng do “Bác Hồ” lập ra tinh vi một cách độc ác, không ai có thể giật sập được, ngoại trừ chính chúng nó tự hủy hoại nhau vì tranh giành quyền lợi mà thôi.

Xin dẫn chứng một vài sự kiện chủ nghĩa cộng sản biến một người tử tế thành Chó Đẻ để chứng minh:

1/  Tôi có thằng bạn học rất hiền lành, rất dễ thương, thích làm thơ tình. Nhưng khi nó theo Trí Quang, tuyên thệ vào đảng Cộng Sản, nó trở thành hung thần trong Tết Mậu thân năm 1968. Đó là thằng Nguyễn Đắc Xuân, được mấy thằng “trí thức” ngu ở Pháp gọi nó là Nhà Huế học. Sau khi mấy tên Việt Cộng đội lốt Thầy Chùa lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa, thằng Nguyễn Đắc Xuân từ Huế vào Saigon viết báo, nó tả bà Ngô Đình Nhu là một người đàn bà cực kỳ dâm loạn, giống như Võ Tắc Thiên. Có phải đúng chủ nghĩa cộng sản đã biến một thằng học trò dễ thương thành một thằng chó đẻ không? Hãy xét xem cuộc đời thầm lặng của người góa phụ 38 tuổi Trần Lệ Xuân (bà Nhu) có đúng như thằng Nguyễn Đắc Xuân mô tả không? Tết Mậu thân 1968, Nguyễn Đắc Xuân là một hung thần, lạnh lùng xử tử Trần Mậu Tý một cách tàn nhẫn, mà tới nay hắn không hề tỏ ra ăn năn sám hối.

2/  Bà Phan Huy Quát, chị ruột của Hùm Xám Đặng văn Việt và là mẹ của nhà báo Lê Phan, có một người cháu gọi bằng Dì. Khi ông Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, chồng của cháu bà tên là Nguyễn Đình Ngọc từ Paris về Việt Nam, đến ở nhà bác sĩ Phan Huy Quát và dạy Khoa học tại Đại học Sài Gòn. Nguyễn Đình Ngọc tính tình hiền hậu, nho nhã, là bạn rất thân thuở thiếu thời của Đại tá VNCH Phan Huy Lương sĩ quan khóa I Nam Định – em ruột ông Phan Huy Quát.

Khi Miền Nam sắp mất, Mỹ đến đưa ông bà Quát rời Saigon. Bác sĩ Quát chần chờ vì muốn cả gia đình đi cùng. Mỹ không thể đợi, bỏ ông bà lại. Người cháu rể, Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc, dàn cảnh để Việt Cộng đến bắt và đưa bác sĩ Phan Huy Quát vào khám Chí Hòa. Lúc bấy giờ gia đình mới biết Nguyễn Đình Ngọc là Đại tá Tình báo Việt Cộng gửi đi từ Hà Nội, sang Paris và từ Paris về tá túc ở nhà bác sĩ Quát để đi dạy Đại học Khoa học Saigon. Khi sự việc đổ bể, con cái bác sĩ Phan Huy Quát mới biết bố mẹ mình nuôi ong tay áo. Có phải chủ nghĩa cộng sản đã biến một người hiền lành như Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc thành một tên chó đẻ không?

3/  Hòa thượng Thích Minh Châu là con của một vị Hoàng Giáp (Tiến sĩ) ở Nghệ An. Ông Nội tôi cũng đỗ Hoàng Giáp, làm Tế Tửu trường Quốc Tự Giám. Vì thế, con cái hai gia đình đều quen biết nhau. Khi người anh kế tôi là Đặng văn Châu nhận ra Thích Minh Châu làm Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh chính là Đinh văn Nam quê quán ở Nghệ An, thì rất lấy làm lo lắng, vì anh tôi biết Đinh văn Nam là đảng viên cộng sản, từng thụ huấn Phật học với bác sĩ Lê Đình Thám, bạn đồng nghiệp của bố tôi. Ở đây, tôi cũng xin nói thêm để độc giả rõ: Bác sĩ Lê Đình Thám là cha đẻ Khuôn Hội Phật giáo ở Trung phần. Võ Đình Cường, Thích Minh Châu đều thụ huấn Phật học với bác sĩ Lê Đình Thám. Võ Đình Cường chính là người dựng lên Gia Đình Phật tử ở Huế, đào tạo nhiều huynh trưởng như thầy Văn Đình Hy, Giám học trường Quốc học Huế, chồng cô Tịnh Nhơn, Hiệu trưởng trường nữ Trung học Đồng Khánh Huế. Anh Hồ viết Lợi, anh Châu Tăng đều là giáo sư Quốc Học, đều là huynh trưởng Gia đình Phật tử, nhưng không hề hay biết mình đang hoạt động cho cơ sở ngoại vi của Việt Cộng dưới vỏ bọc Gia đình Phật tử. Hình như nhà văn nữ Túy Hồng, vợ nhà văn Thanh Nam, là con gái của bác sĩ Lê Đình Thám, chưa chắc bà đã biết cha mình hoạt động cho Việt Cộng? Viện Đại học Vạn Hạnh là cơ sở tình báo của Việt Cộng mà Cơ quan phản gián VNCH cũng biết, nhưng không đụng đến vì ngại đụng đến thế lực của Ấn Quang. Anh Châu tôi biết Thích Minh Châu là Đinh văn Nam đảng viên cộng sản, nhưng không thể tố cáo, vì khó lòng trưng bằng chứng cụ thể. Giống như Trí Quang là Việt Cộng, nhưng chính quyền không công bố.

Nhiều người theo cộng sản, cuối đời mới tỏ ra ân hận. Nhà báo Phạm Xuân Ẩn trước khi chết, trối trăng với vợ con: “Đừng chôn tôi gần mả của những thằng Việt cộng!” Bác sĩ Lê Khắc Quyến được gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm trọng vọng, làm Giám đốc Bệnh viện Huế, Khoa trưởng Y khoa Đại Học Huế, lại là Bí thư Chi bộ Thuận Hóa của Việt Cộng. Sau năm 1975, chẳng được Việt Công trả công lao. Các con ông ở Hải ngoại, làm đơn xin chính quyền Việt Cộng xin phép cho cha ra ngoại quốc chữa bệnh. Nhưng Việt Cộng không cho. Tới khi bác sĩ Quyến lâm bệnh gần chết, Việt Cộng mới cấp giấy phép cho xuất ngoại. Bác sĩ Quyến cầm tờ giấy phép, lẩm bẩm chửi: “Tiên sư cha mấy thằng Việt Cộng! Đồ Chó Đẻ!” Đó là lời của một người con bác sĩ Quyến kể lại với tôi.

Câu chuyện do Giáo sư Lê Tuyên của Đại Học Huế kể về vị Linh mục người Tây Ban Nha tiết lộ nước Việt Nam ta đã mất vào tay người Chàm ám ảnh tôi rất nhiều. Oan hồn người Chàm xui khiến dân ta thành một bọn lai căng, một lũ bội tình để tiêu diệt nòi giống Việt Nam là có thật. Làm sao ai có thể giải thích tại sao con cháu trở thành phản bội để mất nước? Trước đây, tôi đã đưa đường “link” cuộc phỏng vấn của Cựu Bộ trưởng Lâm Lễ Trinh với Đại tá Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia Nguyễn văn Y tiết lộ Tổng thống Ngô Đình Diệm biết Đại tướng Dương văn Minh là cộng sản nằm vùng. Nay tôi xin đưa ra một đường link khác để bạn đọc biết thêm một chuyện động trời:

Mời quý độc giả dành thời giờ xem cuộc phỏng vấn của Cựu Bộ trưởng Lâm Lễ Trinh với Đại tá Đào Quang Hiển ở phút thứ 94 thì sẽ rõ. Đại tá Hiển mặc dù bị tù đày trong nhà giam cộng sản và đã cao tuổi, nhưng trí nhớ còn rất tốt. Cung cách nghiêm túc của Đại tá Đào Quang Hiển rất đáng kính trọng, thì không ai có thể nghi ngờ chuyện ông kể. (Nay ông đã qua đời).  Đây là Clip:

https://www.youtube.com/watch?v=fYUDrm9Y7dM

Ai ngờ được Cụ Nguyễn văn Lực, một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, có bốn người con đều là sĩ quan phi công trong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, lại chứa chấp Nguyễn văn Linh, cán bộ cộng sản hoạt động nội thành Saigon? Nguyễn văn Linh vốn là đồng chí của Cụ Lực trong Quốc Dân Đảng bị Thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo. Giống như Trần Huy Liệu cũng là đảng viên cao cấp của Quốc Dân Đảng bị Thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo. Hai ông Linh và Liệu do cộng sản trong tù tuyên truyền, quay ra phản đảng và hoạt động cho cộng sản. Làm sao giải thích việc Cụ Lực chứa chấp một cán bộ cộng sản hoạt động nội thành ở trong nhà mình? Lúc anh Nguyễn văn Cử còn sống, tôi hỏi anh có biết cụ thân sinh của anh chứa Nguyễn văn Linh trong nhà không? Anh Cử trả lời không và hỏi tôi: “Tại sao cậu biết?” Tôi trả lời: “Bác sĩ Trần Kim Tuyến cho tôi biết”. Từ lâu, tôi muốn kể ra sự kiện này cho bạn đọc biết, nhưng vì bác sĩ Trần Kim Tuyến đã qua đời, mà tôi kể ra thì ai tin? Cho đến khi bắt gặp cái video clip trên, tôi mới dám đưa ra. 

Tôi hỏi anh Nguyễn văn Cử, sau năm 1975, anh bị Việt Cộng bắt đi vào Trại Tập trung, Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh có can thiệp cho anh không? Anh Cử nói không! Đấy! Bạn đọc thấy chưa? Việt Cộng lợi dụng tình cảm của người Quốc gia, nhưng khi người Quốc gia hữu sự, chúng lờ ngay! Cái chó đẻ của cộng sản là thế! Thiếu gì Việt Cộng tập kết ra Bắc, sau năm 1975 trở về Miền Nam, con bị bắt vào Trại Tập trung, nhưng chỉ trơ mắt ngó. Tim, óc Việt Cộng không còn!

Cũng như không ai hiểu nổi tại sao văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam có thể tham gia cuộc đảo chánh của hai tên tay sai Thực dân Pháp là Vương văn Đông và Trần Đình Lan đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1960? Chẳng lẽ Ngài muốn Thực dân Pháp trở lại đô hộ nước Việt Nam lần nữa hay sao? Cái thời đại Chó Đẻ là ở chỗ đó.

Tổng thống Ngô Đình Diệm dù đạo đức cao vời vợi, có người em đầy mưu lược làm Cố Vấn – ông Ngô Đình Nhu – cũng không thể nào cứu Việt Nam vào Thời Đại Chó Đẻ lên ngôi!

Hơn 2500 năm trước, Lão tử viết: “Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước; làm văn hóa mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời”. Hồ chí Minh không những là nhà chính trị lưu manh, mà còn được đảng tôn vinh là “danh nhân văn hóa thế giới”. Vậy tác hại mà Hồ Chí Minh gieo lên đất nước Việt Nam sẽ là muôn đời, chứ còn chờ đợi gì nữa?

Thực tế mà ta đang thấy trước mắt đã được Tiến sĩ Peter Navarro báo động trong cuốn “Death By China”. Có cá nhân nào, đoàn thể Việt Nam nào đủ uy tín để nói cho dân Mỹ biết đảng Dân Chủ đang quyết tâm đẩy đất nước xinh đẹp này thành một Quốc gia Chó đẻ không? Truyền thông là phương tiện để hướng dẫn quần chúng chọn đúng đường ích quốc lợi dân. Nay truyền thông Hoa Kỳ đang làm công cụ cho bọn chó đẻ luôn luôn loan tin thổ tả (fake news), còn được bọn tỵ nạn chó đẻ khuếch đại là cả một vấn đề ô nhục cho nòi giống Tiên Rồng.

Nhờ Tổng thống Donald Trump xuất hiện trên chính trường Hoa Kỳ, thế giới mới thấy nhiều bộ mặt Chó Đẻ xuất hiện. Chẳng biết Tổng thống Donald Trump có cứu được nước Mỹ? Hay chịu số phận giống như cả nhà Tổng thống Ngô Đình Diệm? Trong Cộng Đồng Tỵ Nạn Cộng Sản có nhiều tên Chó Đẻ, nhưng chúng tự biết chúng là cặn bã xã hội, nên chúng phải dùng bí danh.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Địa chỉ nhà: 10200 Bolsa Avenue, Westminster, CA. 92683.

Địa chỉ email: bangphong dva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600