Search This Blog

Tuesday, October 11, 2022

THƯ GỬI TIẾN SĨ NGUYỄN TUẤN ANH - BẰNG PHONG

 

THƯ GỬI TIẾN SĨ NGUYỄN ANH TUẤN

Bằng Phong Đặng văn Âu

Anh Nguyễn Anh Tuấn thân mến,

Xin cám ơn anh đã gửi cho cái “audio clip” cuộc nói chuyện của anh với Lạc Việt về lịch sử chính trị và tôn giáo của nước Mỹ. Tôi đã nghe hết bài nói chuyện của anh và muốn trao đổi thêm với anh về những tổ phụ Hoa Kỳ đã thiết lập nền tự do dân chủ của nước Mỹ. Anh theo đuổi khoa Chính trị học nhiều năm, đỗ bằng Tiến sĩ, dành nhiều năm nghiên cứu lịch sử chính trị, tôn giáo của Mỹ và dạy học. Tất nhiên, anh nắm vững vấn đề của nước Mỹ hơn nhiều người.

Xin lỗi anh về sự hồi âm chậm trễ, vì phải viết thư cho Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Bức thư của tôi viết cho Tiến sĩ Mai Thanh Truyết vừa gửi lên diễn đàn không bao lâu, đã có nhiều độc giả gọi cho tôi tới tấp. Họ nói nhờ đọc bức thư của tôi mà họ có thêm kiến thức để phân biệt giữa chủ nghĩa và chủ thuyết. Thực ra, tôi đã giải nghĩa hai chữ chủ thuyết và chủ nghĩa từ hơn 20 năm trước, nhưng có lẽ họ chưa đọc nên họ mới nói thế.

Tôi cũng đã nhận thư hồi âm của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Anh Truyết trách tôi đã vơ đũa cả nắm, khi viết “trí thức Việt Nam ngu”. Anh Truyết trách như vậy là không hiểu dụng ý của tôi. Nhờ vơ đũa cả nắm thì mới có một vị Tiến sĩ trong nắm đũa đó lên tiếng, để tôi đem những sự kiện ngu xuẩn của trí thức Miền Nam nhằm chứng minh cho độc giả hiểu vì sao một nền văn minh, nhân bản đã bị một chế độ man rợ đánh bại. (nhận định của nhà văn Dương Thu Hương).

Thưa anh Nguyễn Anh Tuấn,

Tôi, một quân nhân nhà nghề (militaire de carrière, career military), chuyên ngành lái máy bay quân sự. Tất nhiên kiến thức của tôi hạn hẹp về lịch sử chính trị và tôn giáo. Hôm nay, trước tình trạng suy đồi của nước Mỹ, tôi cũng xin mạo muội lạm bàn với anh đôi điều, chứ không dám “đánh trống qua cửa nhà sấm”.

Thuở học lịch sử ở trường, ông thầy dạy rằng nước Mỹ là nơi lưu đày của những thành phần bất hảo từ Âu Châu, những thành phần cơ hội đi đào vàng mà trở nên giàu có. Người Mỹ đã đi săn người tại các bộ lạc Phi Châu để đem về làm nô lệ. Tôi hỏi thầy: “Thưa thầy, theo lời thầy dạy, nước Mỹ được dựng lên bởi thành phần bất hảo, cơ hội. Tại sao họ có thể trở thành cường quốc số #1 thế giới, lãnh đạo khối Tự Do chống lại chủ nghĩa vô thần cộng sản mau chóng đến thế?” Anh Tuấn biết đó, cái lối giáo dục của Việt Nam, khi thấy học trò đặt câu hỏi, thì người thầy tỏ ra khó chịu, coi người học trò là loại rắn mắt. Vì thế, đa số học trò Việt Nam ngoan ngoãn học thuộc bài để thi đậu, lấy mảnh bằng đi kiếm việc, nên thầy dạy sao biết vậy, không có tinh thần phản biện để tìm hiểu nguyên ủy của vấn đề. Có lẽ bị Thực dân đô hộ, người dân bị trị quen thói nghe lệnh. Dần dần sự ngoan ngoãn trở thành quán tính. Cho nên bốn ngàn tuổi không lớn được là vậy!

Vốn yêu thích môn lịch sử, tôi tự tìm hiểu lịch sử các nước trên thế giới qua sách báo ngoại quốc. Nhờ đọc sách, tôi được biết những người Âu Châu bị lưu đày sang Tân Thế Giới không phải là thành phần bất hảo, mà là những người bị tù vì có tư tưởng yêu chuộng tự do, chống lại Giáo quyền Vatican. Có hai yếu tố, tôi nghĩ, khiến cho nước Mỹ mau chóng trở thành cường quốc số 1 trên thế giới. Đó là:

Thứ nhất, những nhà lập quốc của nước Mỹ có Đức Tin mạnh mẽ vào Thượng Đế, nên họ chọn câu “In God We Trust” (Tin tưởng vào Thượng Đế) làm phương châm. Vì có Niềm Tin vào Thượng Đế, những nhà lãnh đạo khai quốc lấy lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh làm nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, vị tha. Hiến Pháp của Mỹ là một triết lý trị quốc tương đối toàn hảo. Khi nào tìm thấy khoản nào không hợp thời, thì họ làm Tu Chính Án. Họ thực sự là những nhà lãnh đạo có lý tưởng, chứ không phải là loại chính trị gia giả hình, khoa trương cái lý tưởng cao đẹp, nhưng tồi bại trong cách hành xử, bóc lột kẻ yếu. Đạo Phật cũng dạy cho loài người từ bi, yêu thương chúng sinh như Đạo Chúa. Nhưng các vị cao tăng của Đạo Phật đã biến Đạo Phật trở nên bi quan, yếm thế bởi câu “đời là bể khổ”. Các nhà sư Phật giáo thường tìm nơi thanh vắng để tu tâm dưỡng tính. Thành thử, Đạo Phật xuất thế, xa rời quần chúng, không màng tới chuyện chính trị. Do đó, các Quốc gia Phật giáo thường cam phận, khó lòng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Bằng chứng là Đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong, nương nhờ ở quốc gia không cộng sản.

Thứ hai, sau khi chiến thắng giành độc lập từ Đế quốc Anh, những cận thần đề nghị Đại tướng George Washington lên ngôi vua để ngang hàng với vua nước Anh. Ngài Washington từ chối, vì Ngài muốn xây dựng một chế độ Dân Chủ trên đất nước này. Ngài trở thành Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Sau đó, lại có người đề nghị Ngài làm Tổng thống mãn đời, Ngài cũng từ chối. Ngài bảo rằng dù một người là thiên tài đi nữa, nhưng sau hai nhiệm kỳ thì đã hết sáng kiến. Hãy để cho người khác lãnh đạo Đất Nước. Kể từ đó, những Tổng thống kế thừa chỉ làm hai nhiệm kỳ. Cho đến khi Tổng thống Franklin Roosevelt viện cớ Đệ Nhị Thế Chiến chưa chấm dứt để ứng cử tới bốn nhiệm kỳ. Nhưng Tổng thống Roosevelt qua đời trước khi nhiệm kỳ thứ tư chấm dứt. Phó Tổng thống Harry Truman lên thay. Vì sự kiện phá lệ của Tổng thống Franklin Roosevelt, Quốc Hội mới làm Tu Chính Án giới hạn nhiệm kỳ Tổng thống tối đa là 8 năm. (Nếu không có Tu Chính Án giới hạn hai nhiệm kỳ, có lẽ Barack Hussein Obama có đầy đủ mánh khóe để làm Tổng thống Mỹ trọn đời?).

Hành động không tham quyền cố vị của Tổng thống George Washington đã tạo cho Hoa Kỳ thành đất nước của cơ hội (Land of Opportunity hay Promised Land) đồng đều để cho mọi người thi thố tài năng. Tấm gương của Tổng thống Washington đã trở thành truyền thống, làm cho những nhà lãnh đạo kế thừa noi theo để lưu lại tiếng thơm trong lịch sử.

Còn nước Việt Nam ta thì sao? Tôi hy vọng những nhận định về Đất Nước của tôi không làm phật lòng các vị trong Hoàng tộc Nhà Nguyễn. Hãy xét từ thời nước ta mang Quốc hiệu Việt Nam.

Chúa Nguyễn Phúc Ánh là người có công lớn đối với dòng họ Nguyễn Phúc. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta cần xét lại. Chúa Nguyễn Hoàng có công mở mang bờ cõi, nhưng dần dần mất lòng dân. Nhờ đó, anh em Nhà Tây Sơn mới có thể dấy lên được vì đông đảo quần chúng tham gia. Với mục đích giành lại quyền cai trị cho dòng họ Nguyễn Phúc, Chúa Nguyễn Phúc Ánh đã sang cầu viện vua Thái Lan để đánh nhau với quân lính Nhà Tây Sơn. Chúa Nguyễn Phúc Ánh cũng gửi Hoàng tử Cảnh theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Nếu Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ không chết sớm, có lẽ giấc mộng tranh bá đồ vương của Chúa Nguyễn Phúc Ánh sẽ không thành? Các sử gia dưới triều Tây Sơn sẽ kết tội Chúa Nguyễn Phúc Ánh rước voi về giày mồ, giống như lịch sử đã kết tội “mãi quốc cầu vinh” cho vua Lê Chiêu Thống.

Theo tôi, thứ nhất vua Gia Long (Chúa Nguyễn Phúc Ánh) sau khi đánh bại Nhà Tây Sơn, thì đào mả Nguyễn Huệ, đốt xương cốt ra tro, rồi trộn vào thuốc súng để bắn đi và lấy cái sọ làm chậu để hàng ngày đái vào đó, là hành động trả thù nhỏ nhen của kẻ tiểu nhân, không xứng đáng với khí độ của bậc quân vương. Thứ hai, Nguyễn văn Thuyên, con trai của Nguyễn văn Thành, làm bài thơ như lịch sử đã ghi dưới đây:

“Ái Châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phác Kinh Sơn tài sẵn đó
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

Vì bài thơ này mà cha con Nguyễn Văn Thành bị bắt. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” có đoạn chép: Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được”. Vua bèn sai bắt Nguyễn Văn Thành và con trai giam ở nhà quan Thị lang. Bầy tôi họp để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không? Có muốn lật ngôi không?”. Thành nói: “Không”.

Vài ngày sau, Thống chế Hoàng Công Lý nói với Văn Thành rằng: “Án đã xong rồi, vua bắt bầy tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Nguyễn Văn Thành lặng im uống thuốc độc chết. Vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?”, Công Lý nói: “Bẩm không”. Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Đúng lúc đó, có quân lính lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Nguyễn Văn Thành trước lúc chết ở nhà, quân đem dâng. Vua cầm tờ trình đọc, rồi khóc to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay, trẫm không bảo hộ được, ấy là trẫm kém đức”.

Cái khóc và câu nói của vua Gia Long, tôi nghĩ, là cái khóc giả dối, giống như Lưu Bị vờ khóc trước mặt Tào Tháo. Chỉ vì hai câu cuối của bài thơ của Nguyễn văn Thuyên – con trai của Nguyễn văn Thành – mà vua kết tội người đã dày công khuyển mã giúp mình lên ngôi Hoàng Đế thì thật quá đáng. Sự trả thù ti tiện của vua Gia Long đối với vua Quang Trung, sự hành hình tàn ác với nữ Tướng Bùi thị Xuân đang mang thai bằng voi giày, ngựa xé và ép cha con ông Nguyễn văn Thành đến chỗ chết, thì con cháu của vua phải nhận lấy hậu quả đau thương mà thôi.

Tôi nói vua Gia Long chỉ quan tâm đến dòng họ Nguyễn Phúc, chứ không đặt nặng dòng giống Việt Nam lên hàng đầu là ở điểm này: Vua dùng luật của Nhà Thanh (dòng giống Mãn Châu cai trị dòng giống Hán) là cốt yếu giữ ngai vàng cho dòng họ Nguyễn Phúc. Tại sao vua Gia Long không dùng bộ luật Hồng Đức dưới triều Lê Thánh Tông để áp dụng trong việc cai trị dân? Nếu áp dụng câu hát “Gia tài của Mẹ để lại cho con một bọn lai căng, một lũ bội tình” của Trịnh Công Sơn, thì rõ ràng sự lai căng và sự bội bạc đã khởi đi từ vị vua sáng lập Nhà Nguyễn.

Nối ngôi vua Gia Long là vua Minh Mạng, cũng là người có đầu óc hẹp hòi, ti tiện như vua cha. Dù vua Gia Long tiếc thương và hối hận đã xử oan ông Nguyễn văn Thành có công giúp mình lên ngôi vua, nhưng vua Minh Mạng vẫn quyết diệt bà con dòng họ Nguyễn văn Thành để trừ hậu họa, vì sợ hậu duệ của ông Nguyễn văn Thành nổi lên làm phản. Cái việc vua Minh Mạng dùng dây xích để trói lăng Tả Quân Lê văn Duyệt (đã chết), cũng là hành động trả thù ti tiện. Đến đời vua Tự Đức thì mới mở khóa để giải oan cho Tả Quân Lê văn Duyệt. Ngoài ra, vua Minh Mạng chủ trương tiêu diệt nòi giống Chàm một cách có hệ thống, thì không sao tránh khỏi nghiệp báo “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Khi đọc mẩu chuyện của Giáo sư Lê Tuyên tường thuật cuộc viếng thăm Nhà Thờ Công Giáo Santander ở Tây Ban Nha thì tôi càng cho rằng sự suy nghĩ của tôi về Luật Nhân Quả càng đúng. Từ năm 1957, vị Linh Mục tại Nhà Thờ Santander đã nói với phái đoàn của Giáo sư Lê Tuyên rằng nước Việt Nam đã mất vào tay người Chàm, mặc dầu vị Linh Mục ở Nhà Thờ Santander chưa hề đọc lịch sử Việt Nam và chưa hề đặt chân đến Việt Nam.

Tôi không phải là nhà nghiên cứu tâm linh, nhưng tôi tin vào Luật Nhân Quả. Hoa Kỳ là Quốc Gia tân lập, mau chóng trở thành Quốc Gia hùng cường số một trên thế giới, là nhờ những tổ phụ dựng lên Nước Mỹ có đức tin tôn giáo: Tin đấng Cứu Thế thì mới có một nền chính trị đạo đức vì nhân dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng muốn noi gương các tổ phụ Hoa Kỳ để thiết kế một nền Dân chủ theo triết thuyết Cần Lao Nhân Vị, nhưng thất bại vì ông Diệm bị thừa hưởng một gia tài gồm một bọn lai căng (chủ nghĩa cộng sản) và một lũ bội tình (phản quốc, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản). Tôi tin rằng oan hồn người Chàm đã và đang dùng cộng sản làm âm binh để trả thù nòi giống Việt Nam cho đến khi nào nòi giống Việt Nam bị tận diệt thì mới thôi.

Quốc gia duy nhất có đủ sức mạnh chống lại tham vọng thống trị hoàn cầu của Trung Cộng là Hoa Kỳ. Hiện nay bọn chính trị gia Hoa Kỳ “ăn cơm Tư Bản thờ ma cộng sản”, chống Thiên Chúa (Antichrist) đang tàn phá nước Mỹ để giúp Trung Cộng hoàn thành giấc mộng bá chủ thế giới. Trung Cộng thành công, thì nước Việt Nam ta nhất định một lần nữa trở thành Giao Chỉ Quận một cách công khai. Những cái đứa Việt Nam làm truyền thông hiện nay chống lại những nhà ái quốc của nước Mỹ đều là âm binh, tay sai của quỷ sứ.

Từ bài nói chuyện của anh về các tổ phụ Hoa Kỳ dựng lên nước Mỹ, thì tôi liên tưởng đến câu “cha nào, con nấy” (Tel père, tel fils) để bàn bạc với anh về các vua triều Nguyễn. Trong các nước Dân chủ, người dân đẻ ra Chính quyền, nên mới có câu “nhân dân nào, chính quyền đó”. Còn trong chế độ Quân chủ, vua là cha mẹ dân, có lẽ phải thay bằng câu “vua nào, dân nấy” thì mới đúng? Khai sinh ra Nhà Nguyễn là vua Gia Long với những cá tính ti tiện và ác độc như tôi tường trình ở trên, thì dân mình là sản phẩm của vua mà thôi! 

Xin giới thiệu với độc giả bài nói chuyện của Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh để  tường: 

https://www.youtube.com/watch?v=8EZ9aEYugyY

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 10 tháng 10 năm 2022

10200 Bolsa Avenue, Westminster, CA.92683. Telephone: 714 – 276 – 5600

Email Address: bangphongdva033@gmail.com

 

Monday, October 10, 2022

THƯ GỬI TIẾN SĨ NGUYỄN ANH TUẤN - BẰNG PHONG

 

THƯ GỬI TIẾN SĨ NGUYỄN ANH TUẤN

Bằng Phong Đặng văn Âu

Anh Nguyễn Anh Tuấn thân mến,

Xin cám ơn anh đã gửi cho cái “audio clip” cuộc nói chuyện của anh với Lạc Việt về lịch sử chính trị và tôn giáo của nước Mỹ. Tôi đã nghe hết bài nói chuyện của anh và muốn trao đổi thêm với anh về những tổ phụ Hoa Kỳ đã thiết lập nền tự do dân chủ của nước Mỹ. Anh theo đuổi khoa Chính trị học nhiều năm, đỗ bằng Tiến sĩ, dành nhiều năm nghiên cứu lịch sử chính trị, tôn giáo của Mỹ và dạy học. Tất nhiên, anh nắm vững vấn đề của nước Mỹ hơn nhiều người.

Xin lỗi anh về sự hồi âm chậm trễ, vì phải viết thư cho Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Bức thư của tôi viết cho Tiến sĩ Mai Thanh Truyết vừa gửi lên diễn đàn không bao lâu, đã có nhiều độc giả gọi cho tôi tới tấp. Họ nói nhờ đọc bức thư của tôi mà họ có thêm kiến thức để phân biệt giữa chủ nghĩa và chủ thuyết. Thực ra, tôi đã giải nghĩa hai chữ chủ thuyết và chủ nghĩa từ hơn 20 năm trước, nhưng có lẽ họ chưa đọc nên họ mới nói thế.

Tôi cũng đã nhận thư hồi âm của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Anh Truyết trách tôi đã vơ đũa cả nắm, khi viết “trí thức Việt Nam ngu”. Anh Truyết trách như vậy là không hiểu dụng ý của tôi. Nhờ vơ đũa cả nắm thì mới có một vị Tiến sĩ trong nắm đũa đó lên tiếng, để tôi đem những sự kiện ngu xuẩn của trí thức Miền Nam nhằm chứng minh cho độc giả hiểu vì sao một nền văn minh, nhân bản đã bị một chế độ man rợ đánh bại. (nhận định của nhà văn Dương Thu Hương).

Thưa anh Nguyễn Anh Tuấn,

Tôi, một quân nhân nhà nghề (militaire de carrière, career military), chuyên ngành lái máy bay quân sự. Tất nhiên kiến thức của tôi hạn hẹp về lịch sử chính trị và tôn giáo. Hôm nay, trước tình trạng suy đồi của nước Mỹ, tôi cũng xin mạo muội lạm bàn với anh đôi điều, chứ không dám “đánh trống qua cửa nhà sấm”.

Thuở học lịch sử ở trường, ông thầy dạy rằng nước Mỹ là nơi lưu đày của những thành phần bất hảo từ Âu Châu, những thành phần cơ hội đi đào vàng mà trở nên giàu có. Người Mỹ đã đi săn người tại các bộ lạc Phi Châu để đem về làm nô lệ. Tôi hỏi thầy: “Thưa thầy, theo lời thầy dạy, nước Mỹ được dựng lên bởi thành phần bất hảo, cơ hội. Tại sao họ có thể trở thành cường quốc số #1 thế giới, lãnh đạo khối Tự Do chống lại chủ nghĩa vô thần cộng sản mau chóng đến thế?” Anh Tuấn biết đó, cái lối giáo dục của Việt Nam, khi thấy học trò đặt câu hỏi, thì người thầy tỏ ra khó chịu, coi người học trò là loại rắn mắt. Vì thế, đa số học trò Việt Nam ngoan ngoãn học thuộc bài để thi đậu, lấy mảnh bằng đi kiếm việc, nên thầy dạy sao biết vậy, không có tinh thần phản biện để tìm hiểu nguyên ủy của vấn đề. Có lẽ bị Thực dân đô hộ, người dân bị trị quen thói nghe lệnh. Dần dần sự ngoan ngoãn trở thành quán tính. Cho nên bốn ngàn tuổi không lớn được là vậy!

Vốn yêu thích môn lịch sử, tôi tự tìm hiểu lịch sử các nước trên thế giới qua sách báo ngoại quốc. Nhờ đọc sách, tôi được biết những người Âu Châu bị lưu đày sang Tân Thế Giới không phải là thành phần bất hảo, mà là những người bị tù vì có tư tưởng yêu chuộng tự do, chống lại Giáo quyền Vatican. Có hai yếu tố, tôi nghĩ, khiến cho nước Mỹ mau chóng trở thành cường quốc số 1 trên thế giới. Đó là:

Thứ nhất, những nhà lập quốc của nước Mỹ có Đức Tin mạnh mẽ vào Thượng Đế, nên họ chọn câu “In God We Trust” (Tin tưởng vào Thượng Đế) làm phương châm. Vì có Niềm Tin vào Thượng Đế, những nhà lãnh đạo khai quốc lấy lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh làm nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, vị tha. Hiến Pháp của Mỹ là một triết lý trị quốc tương đối toàn hảo. Khi nào tìm thấy khoản nào không hợp thời, thì họ làm Tu Chính Án. Họ thực sự là những nhà lãnh đạo có lý tưởng, chứ không phải là loại chính trị gia giả hình, khoa trương cái lý tưởng cao đẹp, nhưng tồi bại trong cách hành xử, bóc lột kẻ yếu. Đạo Phật cũng dạy cho loài người từ bi, yêu thương chúng sinh như Đạo Chúa. Nhưng các vị cao tăng của Đạo Phật đã biến Đạo Phật trở nên bi quan, yếm thế bởi câu “đời là bể khổ”. Các nhà sư Phật giáo thường tìm nơi thanh vắng để tu tâm dưỡng tính. Thành thử, Đạo Phật xuất thế, xa rời quần chúng, không màng tới chuyện chính trị. Do đó, các Quốc gia Phật giáo thường cam phận, khó lòng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Bằng chứng là Đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong, nương nhờ ở quốc gia không cộng sản.

Thứ hai, sau khi chiến thắng giành độc lập từ Đế quốc Anh, những cận thần đề nghị Đại tướng George Washington lên ngôi vua để ngang hàng với vua nước Anh. Ngài Washington từ chối, vì Ngài muốn xây dựng một chế độ Dân Chủ trên đất nước này. Ngài trở thành Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Sau đó, lại có người đề nghị Ngài làm Tổng thống mãn đời, Ngài cũng từ chối. Ngài bảo rằng dù một người là thiên tài đi nữa, nhưng sau hai nhiệm kỳ thì đã hết sáng kiến. Hãy để cho người khác lãnh đạo Đất Nước. Kể từ đó, những Tổng thống kế thừa chỉ làm hai nhiệm kỳ. Cho đến khi Tổng thống Franklin Roosevelt viện cớ Đệ Nhị Thế Chiến chưa chấm dứt để ứng cử tới bốn nhiệm kỳ. Nhưng Tổng thống Roosevelt qua đời trước khi nhiệm kỳ thứ tư chấm dứt. Phó Tổng thống Harry Truman lên thay. Vì sự kiện phá lệ của Tổng thống Franklin Roosevelt, Quốc Hội mới làm Tu Chính Án giới hạn nhiệm kỳ Tổng thống tối đa là 8 năm. (Nếu không có Tu Chính Án giới hạn hai nhiệm kỳ, có lẽ Barack Hussein Obama có đầy đủ mánh khóe để làm Tổng thống Mỹ trọn đời?).

Hành động không tham quyền cố vị của Tổng thống George Washington đã tạo cho Hoa Kỳ thành đất nước của cơ hội (Land of Opportunity hay Promised Land) đồng đều để cho mọi người thi thố tài năng. Tấm gương của Tổng thống Washington đã trở thành truyền thống, làm cho những nhà lãnh đạo kế thừa noi theo để lưu lại tiếng thơm trong lịch sử.

Còn nước Việt Nam ta thì sao? Tôi hy vọng những nhận định về Đất Nước của tôi không làm phật lòng các vị trong Hoàng tộc Nhà Nguyễn. Hãy xét từ thời nước ta mang Quốc hiệu Việt Nam.

Chúa Nguyễn Phúc Ánh là người có công lớn đối với dòng họ Nguyễn Phúc. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta cần xét lại. Chúa Nguyễn Hoàng có công mở mang bờ cõi, nhưng dần dần mất lòng dân. Nhờ đó, anh em Nhà Tây Sơn mới có thể dấy lên được là nhờ quần chúng tham gia. Với mục đích giành lại quyền cai trị cho dòng họ Nguyễn Phúc, Chúa Nguyễn Phúc Ánh đã sang cầu viện vua Thái Lan để đánh nhau với quân lính Nhà Tây Sơn. Chúa Nguyễn Phúc Ánh cũng gửi Hoàng tử Cảnh theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Nếu Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ không chết sớm, có lẽ giấc mộng tranh bá đồ vương của Chúa Nguyễn Phúc Ánh sẽ không thành? Các sử gia dưới triều Tây Sơn sẽ kết tội Chúa Nguyễn Phúc Ánh rước voi về giày mồ, giống như lịch sử đã kết tội “mãi quốc cầu vinh” cho vua Lê Chiêu Thống.

Theo tôi, thứ nhất vua Gia Long (Chúa Nguyễn Phúc Ánh) sau khi đánh bại Nhà Tây Sơn, thì đào mả Nguyễn Huệ, đốt xương cốt ra tro, rồi trộn vào thuốc súng để bắn đi và lấy cái sọ làm chậu để hàng ngày đái vào đó, là hành động trả thù nhỏ nhen của kẻ tiểu nhân, không xứng đáng với khí độ của bậc quân vương. Thứ hai, Nguyễn văn Thuyên, con trai của Nguyễn văn Thành, làm bài thơ như lịch sử đã ghi dưới đây:

“Ái Châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phác Kinh Sơn tài sẵn đó
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

Vì bài thơ này mà cha con Nguyễn Văn Thành bị bắt. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” có đoạn chép: Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được”. Vua bèn sai bắt Nguyễn Văn Thành và con trai giam ở nhà quan Thị lang. Bầy tôi họp để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không? Có muốn lật ngôi không?”. Thành nói: “Không”.

Vài ngày sau, Thống chế Hoàng Công Lý nói với Văn Thành rằng: “Án đã xong rồi, vua bắt bầy tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Nguyễn Văn Thành lặng im uống thuốc độc chết. Vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?”, Công Lý nói: “Bẩm không”. Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Đúng lúc đó, có quân lính lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Nguyễn Văn Thành trước lúc chết ở nhà, quân đem dâng. Vua cầm tờ trình đọc, rồi khóc to đưa lên cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc nhỏ theo trẫm có công lao to. Nay, trẫm không bảo hộ được, ấy là trẫm kém đức”.

Cái khóc và câu nói của vua Gia Long, tôi nghĩ, là cái khóc giả dối, giống như Lưu Bị vờ khóc trước mặt Tào Tháo. Chỉ vì hai câu cuối của bài thơ của Nguyễn văn Thuyên – con trai của Nguyễn văn Thành – mà vua kết tội người đã dày công khuyển mã giúp mình lên ngôi Hoàng Đế thì thật quá đáng. Sự trả thù ti tiện của vua Gia Long đối với vua Quang Trung, sự hành hình tàn ác với nữ Tướng Bùi thị Xuân đang mang thai bằng voi giày, ngựa xé và ép cha con ông Nguyễn văn Thành đến chỗ chết, thì con cháu của vua phải nhận lấy hậu quả đau thương mà thôi.

Tôi nói vua Gia Long chỉ quan tâm đến dòng họ Nguyễn Phúc, chứ không đặt nặng dòng giống Việt Nam lên hàng đầu là ở điểm này: Vua dùng luật của Nhà Thanh (dòng giống Mãn Châu cai trị dòng giống Hán) là cốt yếu giữ ngai vàng cho dòng họ Nguyễn Phúc. Tại sao vua Gia Long không dùng bộ luật Hồng Đức dưới triều Lê Thánh Tông để áp dụng trong việc cai trị dân? Nếu áp dụng câu hát “Gia tài của Mẹ để lại cho con một bọn lai căng, một lũ bội tình” của Trịnh Công Sơn, thì rõ ràng sự lai căng và sự bội bạc đã khởi đi từ vị vua sáng lập Nhà Nguyễn.

Nối ngôi vua Gia Long là vua Minh Mạng, cũng là người có đầu óc hẹp hòi, ti tiện như vua cha. Dù vua Gia Long tiếc thương và hối hận đã xử oan ông Nguyễn văn Thành có công giúp mình lên ngôi vua, nhưng vua Minh Mạng vẫn quyết diệt bà con dòng họ Nguyễn văn Thành để trừ hậu họa, vì sợ hậu duệ của ông Nguyễn văn Thành nổi lên làm phản. Cái việc vua Minh Mạng dùng dây xích để trói lăng Tả Quân Lê văn Duyệt (đã chết), cũng là hành động trả thù ti tiện. Đến đời vua Tự Đức thì mới mở khóa để giải oan cho Tả Quân Lê văn Duyệt. Ngoài ra, vua Minh Mạng chủ trương tiêu diệt nòi giống Chàm một cách có hệ thống, thì không sao tránh khỏi nghiệp báo “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Khi đọc mẩu chuyện của Giáo sư Lê Tuyên tường thuật cuộc viếng thăm Nhà Thờ Công Giáo Santander ở Tây Ban Nha thì tôi càng cho rằng sự suy nghĩ của tôi về Luật Nhân Quả càng đúng. Từ năm 1957, vị Linh Mục tại Nhà Thờ Santander đã nói với phái đoàn của Giáo sư Lê Tuyên rằng nước Việt Nam đã mất vào tay người Chàm, mặc dầu vị Linh Mục ở Nhà Thờ Santander chưa hề đọc lịch sử Việt Nam và chưa hề đặt chân đến Việt Nam.

Tôi không phải là nhà nghiên cứu tâm linh, nhưng tôi tin vào Luật Nhân Quả. Hoa Kỳ là Quốc Gia tân lập, mau chóng trở thành Quốc Gia hùng cường số một trên thế giới, là nhờ những tổ phụ dựng lên Nước Mỹ có đức tin tôn giáo: Tin đấng Cứu Thế thì mới có một nền chính trị đạo đức vì nhân dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng muốn noi gương các tổ phụ Hoa Kỳ để thiết kế một nền Dân chủ theo triết thuyết Cần Lao Nhân Vị, nhưng thất bại vì ông Diệm bị thừa hưởng một gia tài gồm một bọn lai căng (chủ nghĩa cộng sản) và một lũ bội tình (phản quốc, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản). Tôi tin rằng oan hồn người Chàm đã và đang dùng cộng sản làm âm binh để trả thù nòi giống Việt Nam cho đến khi nào nòi giống Việt Nam bị tận diệt thì mới thôi.

Quốc gia duy nhất có đủ sức mạnh chống lại tham vọng thống trị hoàn cầu của Trung Cộng là Hoa Kỳ. Hiện nay bọn chính trị gia Hoa Kỳ “ăn cơm Tư Bản thờ ma cộng sản”, chống Thiên Chúa (Antichrist) đang tàn phá nước Mỹ để giúp Trung Cộng hoàn thành giấc mộng bá chủ thế giới. Trung Cộng thành công, thì nước Việt Nam ta nhất định một lần nữa trở thành Giao Chỉ Quận một cách công khai. Những cái đứa Việt Nam làm truyền thông hiện nay chống lại những nhà ái quốc của nước Mỹ đều là âm binh, tay sai của quỷ sứ.

Từ bài nói chuyện của anh về các tổ phụ Hoa Kỳ dựng lên nước Mỹ, thì tôi liên tưởng đến câu “cha nào, con nấy” (Tel père, tel fils) để bàn bạc với anh về các vua triều Nguyễn. Trong các nước Dân chủ, người dân đẻ ra Chính quyền, nên mới có câu “nhân dân nào, chính quyền đó”. Còn trong chế độ Quân chủ, vua là cha mẹ dân, có lẽ phải thay bằng câu “vua nào, dân nấy” thì mới đúng? Khai sinh ra Nhà Nguyễn là vua Gia Long với những cá tính ti tiện và ác độc như tôi tường trình ở trên, thì dân mình là sản phẩm của vua mà thôi! 

Xin giới thiệu với độc giả bài nói chuyện của Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh để  tường: 

https://www.youtube.com/watch?v=8EZ9aEYugyY

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 10 tháng 10 năm 2022

10200 Bolsa Avenue, Westminster, CA.92683. Telephone: 714 – 276 – 5600

Email Address: bangphongdva033@gmail.com

 

Sunday, October 9, 2022

THƯ THỨ NHẤT GỬI TIẾN SĨ MAI THANH TRUYẾT - BẰNG PHONG

                  THƯ GỬI TIẾN SĨ MAI THANH TRUYẾT.

Bằng Phong Đặng văn Âu.

Westminster, Ngày 8 tháng 10 năm 2022.

Anh Mai Thanh Truyết thân mến,

Sáng nay tôi khá vui khi nhận được Email của anh bằng mỗi một câu ngắn ngủi như sau: Cứ nói như vầy hoài... Bọn trí thức Việt Nam ngu,...”. Ông Âu khó thuyết phục người khác qua các lập luận của mình”. Anh Truyết có biết tại sao tôi vui không? Tại vì sau khi tôi viết bài có tựa đề “Trí Thức Việt Nam Bất Xứng và Vô Trách Nhiệm” mà không có ông/bà trí thức nào phản ứng thì buồn lắm. Buồn vì tiếng nói của mình bị rơi vào khoảng không. Nay có anh – một vị Tiến sĩ dễ thương mà tôi hân hạnh được quen biết khá lâu – phản ứng, thì không vui làm sao được?

Thưa anh Truyết,

Tại vì anh là nhà trí thức nên anh không thấy cái ngu của trí thức Việt Nam. Còn tôi là quân nhân, từng đem mạng sống của mình ra để bảo vệ nền tự do của Miền Nam, thì tôi thấy trí thức Miền Nam ngu từ khuya rồi. Ngu từ thời ông Nguyễn Trường Tộ dâng bản điều trần lên vua Tự Đức đề nghị canh tân nền giáo dục (bỏ lối học tầm chương trích cú để phát triển ngành khoa học kỹ thuật), cải tổ hệ thống Hành chánh, Ngoại giao, Kinh tế, Thương mại, Quốc phòng để theo kịp đà văn minh của các nước Phương Tây. Nhưng các quan Đại thần phê vào bản điều trần bốn chữ “yêu ngôn hoặc chúng” (nghĩa là những lời ma mị nhằm mê hoặc lòng người) để trình lên Vua. Câu hỏi đặt ra: “Nếu nghi ngờ bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ không xác thực, tại sao Vua quan nhà Nguyễn không yêu cầu Nguyễn Trường Tộ hướng dẫn một phái đoàn sang Âu Châu tìm hiểu thực tế?”. Vào thời điểm ấy, một nhà trí thức Nhật cũng dâng lên Minh Trị Thiên Hoàng một bản điều trần thì được trân trọng tiếp nhận. Nhờ đó, nước Nhật tiến bộ nhanh chóng. Hải Quân Nhật đã đánh tan Hạm đội Nga vào năm 1905, khiến cho cả thế giới kinh ngạc.

Anh Truyết đã thấy cái ngu của vua quan Nhà Nguyễn dưới trào vua Tự Đức chưa? Giá như vua quan Nhà Nguyễn có cái thông minh như Minh Trị Thiên Hoàng và trí thức Nhật Bản, thì nước Việt Nam mình đâu có bị Thực dân Pháp đô hộ! Đúng không?

Nhà thơ Tản Đà viết: “Bởi tại thằng dân ngu quá lợn. Cho nên quân ấy mới làm quan”. Có lẽ Tản Đà ngại đụng chạm đến các nhà trí thức, nên ông mới đổ tội cho thằng dân ngu quá lợn. Dân mà ngu là vì trí thức ngu, không nhìn thấy hiểm họa mất nước trước mắt để dạy dân. Trách thằng dân ngu là tội nghiệp cho thằng dân!

Tôi không nhớ danh sĩ nào đã nói: “Trong tất cả cái ngu dốt, thì sự ngu dốt về chính trị là tệ hại hơn cả”. Đúng vậy, người Việt Nam mình thông minh, học hành đỗ đạt chẳng kém sinh viên các nước trên thế giới. Nhưng phần lớn trí thức Việt Nam đều dốt về chính trị. Đến như Giáo sư Trần Đức Thảo là một nhà triết học mà không thấy chủ nghĩa cộng sản là tai họa của nhân loại. Tôi là một quân nhân chuyên nghề đánh đấm với kẻ thù, không có thời giờ tham cứu kinh điển giống như các nhà trí thức. Thế mà tôi còn biết chủ nghĩa (Ism) giống như tôn giáo, vì nó có một quan điểm về nhân sinh, một quan điểm về vũ trụ riêng biệt. Còn Tư bản không phải là Chủ nghĩa, vì nó không đề ra một nhân sinh quan, vũ trụ quan riêng biệt. Vậy Tư bản chỉ là một chủ thuyết (theorie hay theory) cho phép tự do kinh doanh, tôn trọng quyền tư hữu. Do đó, Tư bản không có giáo điều như cộng sản. Chủ nghĩa là tôn giáo thì nó phải nhất nguyên, chứ không thể đa nguyên. Giống như một người không thể vừa là Phật giáo, vừa là Công giáo. Không những thế, chủ nghĩa cộng sản dùng bạo lực áp đặt lên người dân một nền chính trị vô sản chuyên chính, thì nhất định nó là một nền độc tài toàn trị (totalitarianism). Vậy đánh đuổi Thực dân Pháp làm gì để hứng lấy một nền chính trị chuyên chính mạn rợ, coi dân như thú vật?

Nhà văn André Gide sau cuộc hành trình sang Liên Bang Xô Viết, trở về Pháp, viết cuốn sách “Le Retour de l’URSS” mô tả xã hội Xô Viết là nỗi kinh hoàng của nhân dân Nga. Nhà văn George Well viết cuốn “The Animal Farm” tả xã hội cộng sản là trại súc vật. Nếu Giáo sư Trần Đức Thảo chịu khó đọc hai cuốn sách nêu trên, tôi tin chắc rằng Giáo sư Trần Đức Thảo sẽ không rời bỏ Paris, về Việt Nam để giúp Hồ Chí Minh thiết lập một chủ nghĩa công sản nhân đạo như lời ông tiết lộ. Vậy anh Truyết thấy GS Trần Đức Thảo là người thông minh hay ngu? Anh có thấy cái ngu của nhà đại trí thức như GS Trần Đức Thảo tất nhiên kéo theo cái ngu của nhiều thanh niên đầy ắp lòng yêu nước chấp nhận làm con thiêu thân cho Hồ Chí Minh lợi dụng?

Tôi từng tường thuật cuộc đối thoại giữa tôi với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – anh ruột bà chị dâu tôi – khi nghe ông tuyên bố: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”. Ông Viện bào chữa rằng tại vì thấy Thực dân Pháp bóc lột, ngược đãi, hà hiếp dân mình, nên quá đỗi khát khao độc lập, nên bất cứ ai phất ngọn cờ đánh Tây giành độc lập. là ủng hộ ngay. Tôi hỏi tại sao ông không thấy Hồ Chí Minh theo chủ nghĩa Quốc tế, tức là chịu sự thống thuộc Quốc tế, thì làm gì có độc lập? Ông Viện đáp: “Tại vì anh ngây thơ, chú ạ!!”. Không kìm được cảm xúc, tôi nói: “Không! Anh không ngây thơ! Anh ngu! Cái ngu của anh là vì ông cụ anh là một vị quan thanh liêm, chẳng có tội gì đối với dân, với nước mà bị cộng sản đem ra đấu tố cho tới chết, nhưng anh vẫn theo Hồ Chí Minh”. Trí thức được trời ban cho trí thông minh mà không chịu sử dụng, lại ứng xử theo cảm tính, thì không ngu là gì?

Cái ngu của trí thức Việt Nam không dừng ở đó. Sau năm 1954, gần một triệu người dân Bắc phải rời bỏ quê cha đất tổ, bỏ lại tài sản cả một đời tạo dựng để di cư vào Miền Nam, chấp nhận sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vì quá đỗi kinh hoàng về cuộc đấu tố long trời lở đất. Với một biến cố hãi hùng đến như thế, mà trí thức Miền Nam vẫn không chịu mở mắt để thấy rằng nếu Miền Nam bị rơi vào tay quân xâm lược cộng sản Miền Bắc, thì bản thân họ, gia đình học sẽ khốn khổ, khốn nạn. Rất nhiều trí thức Miền Nam ngu, được chế độ ưu đãi, nhưng vẫn ngấm ngầm làm tay sai cho kẻ thù.

Năm 1959, cụ Hoàng văn Chí được CIA cung cấp tài liệu để biên soạn cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”, mô tả những nhà trí thức Việt Nam lên Chiến Khu làm tay sai cho Hồ Chí Minh, chống Pháp. Nhưng khi hòa bình tái lập, trí thức ở Miền Bắc bị Hồ Chí Minh đối xử như súc vật. Nếu nhà Cách mạng Văn hóa Nhất Linh đề nghị đưa cuốn sách của cụ Hoàng văn Chí vào chương trình giáo dục để cho học sinh, sinh viên hiểu biết dã tâm của Hồ Chí Minh, thì Trí Quang làm sao có thể xúi giục học sinh, sinh viên biểu tình chống chế độ? Anh Truyết có thấy Nhất Linh để lại bức thư tuyệt mệnh lên án chế độ Miền Nam trước khi chết là một hành động không có dũng khí của kẻ sĩ không? Ngày nay, người ta ca tụng Nhất Linh thì có đúng không?

Năm 1960, hai sĩ quan Tình báo của Pháp là Trung tá Vương văn Đông, Trần Đình Lan do Pháp xúi giục, làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm mà có những nhà trí thức tên tuổi như nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, bác sĩ Phan Quang Đán, Luật sư Hoàng Cơ Thụy tham gia, thì thử hỏi trí thức Miền Nam ngu hay thông minh? Nhân dân Việt Nam đã đổ biết bao xương máu để đánh đuổi Thực dân Pháp ra khỏi đất nước, tại sao lại có một nhóm người trí thức tham gia cuộc đảo chánh do Thực dân Pháp chủ mưu? Có phải những nhà trí thức này muốn Thực dân Pháp trở lại cai trị Việt Nam?

Năm 1963, bọn Việt Cộng đội lốt nhà sư lên án chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, tại sao không thấy một nhà trí thức Phật giáo nào của Miền Nam lên tiếng bênh vực chế độ Ngô Đình Diệm không những không hề đàn áp Phật giáo, mà còn giúp cho Phật giáo tự do hành đạo, tự do xây chùa, tự do mở trường học. Nếu có đàn áp chăng là do cấp thừa hành lợi dụng chức quyền, chứ không phải là chính sách của chế độ. Tôi xin nêu lên một nhân vật trí thức được chế độ ưu đãi để anh thấy. Đó là Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu. Nếu ông Mẫu nhận thấy chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, tại sao ông ta không phản đối ngay? Tại sao ông đợi tới lúc Trí Quang đem Ngài Quảng Đức ra nướng, thì ông Mẫu mới bày đặt cạo trọc đầu, lên tiếng từ chức? Hành động cơ hội của Vũ văn Mẫu đáng khinh, không xứng đáng là người có học vị cao. Có ai trong hàng ngũ trí thức lên tiếng phê bình Vũ văn Mẫu là một loại chính trị gia cơ hội, vô đạo đức? Một con người như Vũ văn Mẫu vẫn được tiếp tục đi dạy học, thì những sinh viên được ông đào tạo sẽ trở thành cái giống gì? Tại sao Giáo sư Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Cao Hách vẫn đồng ý cho Vũ văn Mẫu được dạy trường Luật? Tại sao Chính quyền VNCH để cho Vũ văn Mẫu – một thứ phản quốc – đứng đầu Liên danh Hoa Sen đại diện Phật giáo Ấn Quang ra tranh cử Thượng Nghị Sĩ?

Sau khi cái gọi là “Cách mạng” đã giết cả gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm, các đảng viên Cần Lao đều bị bỏ tù, Trí Quang vẫn tiếp tục kết tội các Chính quyền kế tiếp là một “chế độ Diệm không Diệm”. Tại sao những nhà trí thức không nhìn thấy Trí Quang tiếp tục gây bạo loạn tại các thành phố ở Miền Nam là có ý đồ tiếp tay cho sách lược của Việt Cộng xâm lăng Miền Nam? Sự im lặng của trí thức trước hành vi của Trí Quang không đáng bị coi là ngu hay sao? Tại sao những trí thức Phật giáo không thấy hành vi của Trí Quang là phá hoại Đạo Phật? Dù chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh hùng, can đảm ngoài chiến trường đến thế nào đi nữa, mà Trí Quang quậy nát hậu phương, thì trước sau gì Việt Cộng sẽ thắng! Trí thức có thấy điều đó không?

Quân nhân tác chiến là thành phần mong mỏi Đất Nước sớm có hòa bình nhất. Bởi vì chiến tranh càng kéo dài thì mạng sống của họ càng ngắn lại. Bọn trí thức ngồi mát ăn bát vàng, hà cớ gì ủng hộ bọn Phật giáo Ấn Quang đưa Nhất Hạnh đứng đầu Phong trào Hòa Bình để đòi quân lính Miền Nam buông súng vô điều kiện và Đế quốc Mỹ phải rời khỏi Miền Nam? Tại sao trí thức không lên tiếng tố giác cái bọn vận động hòa bình là một lũ bịp? Anh Truyết hãy cho tôi biết có nhà trí thức nào lên tiếng kết án Phong trào Hòa Bình của Nhất Hạnh là tay sai Việt Cộng? Theo nhận định của giới quân nhân chúng tôi thì trí thức Miền Nam có ba loại: (1) Loại cực kỳ ngu đần như nữ luật sư Ngô Bá Thành, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn, sinh viên Huỳnh tấn Mẫm … tích cực hoạt động cho Việt Cộng. (2) Loại không theo, không ủng hộ Việt Cộng ra mặt, nhưng có tư tưởng thiên Cộng. (3) Loại thờ ơ vô cảm, sống chết mặc bây, coi việc Chống Cộng là công việc của bọn lính tráng, bọn an ninh và cảnh sát. (3)

Phải chăng trí thức Việt Nam bị ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo mà tuân theo lời dạy của Khổng Tử: Nước nguy thì chớ vào, nước loạn thì chớ ở, hoàn cảnh tốt thì ra làm quan, hoàn cảnh xấu thì ẩn mình” (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn - Luận Ngữ), thì trở nên khôn lỏi, thủ lợi cho riêng mình?

Học giả (?) Nguyễn Hiến Lê đọc nhiều sách, viết nhiều tác phẩm, nhưng sự hiểu biết của ông không bằng một học sinh bậc Trung học. Ông viết: “Tôi tuy ghét, tởm Stalin, Mao Trạch Đông… nhưng vẫn tin rằng chế độ cộng sản Việt Nam công bằng hơn chế độ tư bản … Cộng sản Bắc Việt không thể nào tàn nhẫn như Nga và Trung Hoa được! Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh, với cộng sản. Tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mỹ. Tôi phục tinh thần hy sinh, có kỷ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp”[Hồi K. – Tập III, trang 17-18] Sau khi nếm mùi Việt cộng thì cụ Lê mới chịu đổi giọng: “Muốn thấy một chế độ ra sao, thì phải sống dưới chế độ đó dăm năm. Muốn nghe ai phê bình, khen chê gì thì nghe, muốn đọc sách gì thì đọc, dù là người thông minh, chịu suy nghĩ, cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi.” [Hồi K. – Tập III trang 25-26]. Xin hỏi anh Truyết, căn cứ những gì cụ Lê viết, tôi nói trí thức Việt Nam ngu, có đúng không? Cụ Nguyễn Hiến Lê học thiệt hay học giả?

Tôi từng nói trước mặt hai vị Tiến sĩ (Nguyễn Tiến Hưng và Cung Tiến) rằng cái bất hạnh của dân tộc Việt Nam là người Việt Nam nào càng có bằng cấp to càng ngu về chính trị. Không phải tôi nói năng khiếm nhã, nhưng đó là sự thật, anh Mai Thanh Truyết ạ!

Năm 1975, anh không di tản, anh ở lại Việt Nam. Có phải anh cũng muốn đem tài trí của anh để giúp chế độ cộng sản xây dựng đất nước? Có phải vì Việt Cộng không trọng dụng nhân tài, thì anh mới bỏ nước ra đi? Tôi gửi anh đường link dưới đây, nếu những bạn trẻ Việt Nam ở Hải ngoại đọc thì họ sẽ hiểu Việt Cộng đối xử với trí thức như thế nào:

https://khongquanc130.blogspot.com/2022/10/tri-thuc-mien-nam-sau-nam-1975.html

Tôi không phải là trí thức, nên tôi không ngu tới độ nghĩ rằng mình có thể thuyết phục người trí thức như anh nghĩ. Tôi chỉ viết lên một thực trạng để cho nhà trí thức nào nhận thấy tôi viết sai, thì lên tiếng. Tôi muốn có cuộc thảo luận nghiêm chỉnh, xây dựng với những nhà trí thức để mở mang trí tuệ.

Thư đã khá dài, tôi hẹn anh thư sau. Tôi sẽ nói về cái ngu của trí thức Việt Nam ở Hải ngoại sau năm 1975. Nếu anh thấy tôi nói không đúng, xin anh vui lòng phản bác để tôi còn có chút hy vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Nếu anh im lặng, tôi sẽ nghĩ tôi viết đúng.

Kính chúc anh Truyết dồi dào sức khỏe.

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 8 tháng 10 năm 2022.

10200 Bolsa Avenue, Westminster, California 92683.

Địa chỉ Email: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600.

Friday, October 7, 2022

TRÍ THỨC MIỀN NAM SAU NĂM 1975

 

Trí thức miền Nam sau 75

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’. Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.


Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.


Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”. Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.


Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”. Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệm tối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cần kềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”


Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.
Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu mà… những ‘cái đầu’ thì như thế”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội.


Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.
Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước’. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi’. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.


Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải ‘phá vỡ’ để áp dụng kinh tế thị trường chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết’. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.


Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.
Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khảng khái”.


Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi y khoa đã bị ông đánh rớt dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.
Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.


Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”. Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.


Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.


Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải
vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ. Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.


Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.


Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.


Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức.


Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.


Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát.