Search This Blog

Sunday, June 26, 2022

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU - BÀI SỐ 4

 

Bài Thứ Tư

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

 

*********************************************************************

 

Nước Việt Nam ta không có những nhà hiền triết như Ấn Độ, như Tây phương. Nhưng Tổ tiên ta đã để lại cho con cháu một kho tàng Ca dao, Tục ngữ vô giá mà con cháu biết tuân theo, thì ngày nay cả thế giới kính trọng người Việt Nam chẳng kém gì kính trọng người Nhật Bản.

Chẳng hạn, chỉ bằng hai câu lục bát: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” vừa nhẹ nhàng vừa thiết tha tình người. Trong Cộng Đồng Dân Tộc có người Kinh, người Thượng, tuy chủng tộc khác nhau như bí với bầu, nhưng cùng chung sống trên một mảnh đất (tức là cùng một giàn) thì hãy tương thân tương trợ để cùng tồn tại có phải là tốt đẹp hơn không? Nếu vua Gia Long thấm nhuần ý nghĩa sâu sắc câu ca dao ấy thì đâu đến nỗi xuống tay một cách tàn nhẫn, nhỏ mọn đối với anh em dòng dõi Nhà Tây Sơn, đối với những tùy tướng của Nhà Tây Sơn? Sự kiện đào mả vua Quang Trung, lấy thủ cấp của kẻ thù làm cái chậu để ngày ngày phóng uế vào đó, là hành vi bất xứng của Đấng Quân Vương. Dù mối thù riêng đối với Nhà Tây Sơn cao đến mấy, là người lãnh đạo quốc gia, vua cũng phải tỏ ra kính trọng một bậc anh hùng dân tộc đánh đuổi quân thù ra khỏi nước. Giá như vua Gia Long có lối hành xử mã thượng anh hùng, con cháu của Ngài sẽ noi gương tâm hồn cao thượng vĩ đại của Vua Cha để mà trị nước, thì xã tắc sơn hà bền vững lâu dài.

Nếu vua Gia Long hiểu lời cảnh báo của tiền nhân “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” thì phải biết Luật Nhân Quả sẽ không trừ một ai, thì Ngài đã không để lại cho lịch sử một vết dơ đáng xấu hổ như thế! Vì Thái Tổ Nhà Nguyễn đã  lạnh lùng, tàn nhẫn sử dụng sự báo thù để hả dạ, nên con dân nước Việt mới bị lãnh hậu quả như ngày nay.

Dân tộc ta có những bậc khí phách như Thầy Chu văn An, dũng cảm như Tướng Trần Bình Trọng, thông minh như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại sao bộ óc của những nhà trí thức thông thái Việt Nam bỗng trở nên đần độn, u mê để không thấy Hồ Chí Minh dựng lên nền “vô sản chuyên chính” thì sẽ đẩy nhân dân tới chỗ bần cùng, tất nhiên cả nước chỉ còn biết đi ăn trộm để sống mà thôi? Tiền nhân đã khuyến cáo: “Bần cùng thì sinh đạo tặc” cơ mà! Tại sao họ không thấy?

Quê Nghệ An của tôi có một nhà trí thức tên là Tạ Quang Bửu nổi tiếng giỏi đủ các bộ môn khoa học, văn chương, ngoại ngữ, triết học. Bộ trưởng Thanh Niên – Luật sư Phan Anh – trong Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ định Giáo sư Tạ Quang Bửu làm Hiệu trường Thanh Niên Tiền Tuyến, một trường Quân sự đầu tiên của Việt Nam, gồm những tinh anh của nước nhà. Nhưng không ngờ Giáo sư Tạ Quang Bửu là người có tư tưởng cộng sản, nên hầu hết “rường cột nước nhà” đều trở thành công cụ cho Hồ Chí Minh thực hiện ý đồ diệt chủng dân tộc Việt Nam. Giáo sư Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, dưới quyền Võ Nguyên Giáp, là người ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước. Mặc dầu chứng kiến Hồ Chí Minh ngược đãi, đàn áp trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo … trong vụ Nhân văn Giai Phẩm, tại sao một người nổi tiếng thông minh về nhiều bộ môn như Tạ Quang Bửu không thấy đất nước sẽ bị thụt lùi trong ngu dốt? Nếu đánh đuổi Thực dân Pháp thành công, thử hỏi chế độ cộng sản chủ trương ngu dân, làm sao có thể mang lại một nền văn minh, một xã hội nhân ái, hài hòa bằng sự đô hộ của Thực dân? Bị bệnh tiểu đường, hai chân sưng húp, Tạ Quang Bửu vẫn cố gắng đứng cả ngày trong xưởng chế tạo vũ khí đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào”, vậy chỉ có hai chữ “quỷ ám” mới giải thích nổi sự ngu si, đần độn của thầy Tạ Quang Bửu mà thôi. Giáo sư Tạ Quang Bửu phải thấy sau Hoa Kỳ dội hai quả bom nguyên tử để sớm chấm chiến tranh với Nhật. Nhưng sau đó Hoa Kỳ đã đưa nước Nhật đến chế độ Dân Chủ và thịnh vượng đứng vào hàng thứ hai trên thế giới. Vậy có phải Hoa Kỳ là Đế Quốc hay không? Vậy tôi nói rằng trí thức Việt Nam thông minh, càng có bằng cấp to, càng ngu là đúng hay sai?

Hình như chủ nghĩa cộng sản có bùa mê thuốc lú hay sao đó, nó mới có thể làm cho nhiều nhà trí thức thức thông minh cỡ Giáo sư Tạ Quang Bửu trở thành ngu si, đần độn, điên say phục vụ cho một chế độ biến con người thành súc vật. Gần một triệu người Miền Bắc phải rời bỏ nơi chôn dau cắt rốn để chạy trốn vào Miền Nam tìm tự do, không thể làm trí thức mở mắt, không ngăn được sự phản bội của bọn Tướng lãnh, Tổng thống Ngô Đình Diệm và gia đình đành phải chết bởi chân tay bộ hạ mà thôi.

Sau cái chết của Tổng thống Diệm vào ngày 2 tháng 11 năm 1963, tình hình chính trị thêm bết bát. Tu sĩ Phật giáo trở thành bọn kiêu tăng. Các Tướng lãnh trong cái gọi là “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” tổ chức đảo chánh, chỉnh lý liên tục. Ba Tàu Chợ Lớn thừa cơ khuynh đảo thị trường. Việt Cộng thừa dịp tiến dần về thành thị. Quân sĩ vốn sống thiếu thốn vật chất, nay tinh thần thêm sa sút, hoang man, thì sự mất nước chỉ còn là vấn đề thời gian. Tướng Nguyễn Khánh trở thành anh hề chính trị, lúc để chòm râu dê, lúc cạo nhẵn thín theo sự chỉ dạy của các thầy tướng số. Kéo các Tướng lãnh ra Vũng Tàu làm Hiến Chương, bị Việt Cộng kích động sinh viên biểu tình phản đối, Tướng Nguyễn Khánh nhảy lên chiến xa, tung quả đấm tay lên trời và miệng hô lớn “Đả đảo Nguyễn Khánh”. Mang danh là lãnh đất nước, lại vung tay hô đả đảo chính mình, thì đất nước còn ra cái quái gì nữa! Tại sao ông Khánh không nghĩ đến câu “Nhật Tướng công thành, vạn cốt khô” mà hành xử cho ra tư cách của người làm Tướng? Thật là một cảnh tượng đáng xấu hổ trước mắt thế giới, trước Đồng Minh Hoa Kỳ! Quý vị chiến hữu còn hãnh diện mình là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa nữa không, khi phải chịu sự chỉ huy của thành phần Tướng lãnh bất xứng?

Chính phủ Dân Sự ra đời, dưới sự lãnh đạo của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát. Người dân hy vọng các Tướng lãnh trở về vị trí của mình, lo việc “Bảo Quốc, An Dân” để dân chúng an cư lạc nghiệp. Tôi nghĩ rằng chọn bác sĩ Phanh Huy Quát làm Thủ tướng là đúng, vì ông là một chính trị gia lương thiện, có đạo đức và có kinh nghiệm, vì lúc trẻ từng làm Bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim và sau đó lần lược làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao. Quốc trường Phan Khắc Sửu là một nhà hoạt động chính trị yêu nước, luôn luôn tranh đấu đòi hỏi Thực dân Pháp trả  độc lập cho nhân dân Việt Nam, từng bị tù Côn Đảo. Ai cũng tưởng hai nhà lãnh đạo cùng họ Phan có kinh nghiệm chính trị, có lòng yêu nước sẽ ổn định tình hình sau khi các Chính phủ Quân nhân thay nhau sụp đổ. Không ngờ chỉ vì mối hiềm khích rất nhỏ, hai vị không thể hòa giải nhau, đưa đến sự từ chức của Thủ tướng Phan Huy Quát vào ngày 18 tháng 6 năm 1965 và trao trách nhiệm cho Quân Đội. Có phải vì bị oan hồn người Chàm hành, đã khiến cho hai nhà chính trị yêu nước không thể đoàn kết với nhau? Đâu phải tại vì hai vị lãnh đạo đều ngu!?

Đêm 18 tháng 6, Thủ tướng Phan Huy Quát mời các Tướng lãnh đến Dinh Thủ tướng để tường trình sự xung khắc với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và tuyên bố quyết định giải tán Nội Các để giao lại cho Quân Đội. Lúc bấy giờ, Tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn Cao Kỳ lên tiếng đề nghị: “Hai nhà lãnh đạo cố gắng hòa giải với nhau, anh em quân nhân chúng tôi chán ngán chính trị lắm rồi, chúng tôi chỉ chú tâm lo đánh giặc”. Nhưng Thủ tướng Phan Huy Quát cho biết bản tuyên bố giải nhiệm Nội Các sẽ được đọc trên đài phát thanh trong chốc lát. Câu hỏi đặt ra: “Tại sao Cụ Phan Khắc Sửu và bác sĩ Phan Huy Quát đều là hai nhà trí thức yêu nước nhiệt tình, không thể vì sự sống còn của Tổ Quốc để cùng nhau điều khiển con thuyền đang chồng chềnh trong giông bão giữa biển khơi? Giông bão đây là Nhóm Phật giáo Ấn Quang – tay sai Việt Cộng – đang mưu toan dâng Miền Nam cho cộng sản ở Miền Bắc? Đâu phải hai ông không đủ trí tuệ để không thấy âm mưu của Việt Cộng dùng Phật giáo làm quân cờ?” Tôi càng nghi ngờ lời nguyền rủa của người Chàm đã tác động lên sự chia rẽ của người lãnh đạo Quốc gia!

Ngày hôm sau, các Tướng lãnh họp nhau tại Câu Lạc Bộ Hải Quân ở Bến Bạch Đằng để chọn người lãnh đạo Quốc Gia. Trước hết, Tướng Kỳ đề nghị Trung tướng Nguyễn văn Thiệu làm Thủ tướng – một vị Tướng cao niên và đương kim Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc Phòng trong Nội các Phan Huy Quát, một đề nghị rất chính đáng, nên được các Tướng lãnh vỗ tay tán thưởng. Nhưng Tướng Thiệu không nhận. Tướng Kỳ vẫn kiên nhẫn thuyết phục thêm ba lần nữa, đến nỗi Tướng Thiệu cứng rắn phát biểu: “Nếu anh em cứ ép buộc tôi làm Thủ tướng, tôi sẽ tuyên bố giải tán Đại Hội hôm nay”. Tướng Kỳ bèn quay sang đề nghị Trung tướng Nguyễn Chánh Thi. Nhưng giống như Tướng Thiệu, Tướng Thi cũng cương quyết chối từ. Chẳng phải hai ông Tướng Thiệu và Tướng Thi không ham chức Thủ tướng. Hai ông đều thấy tình hình quá khó khăn, sợ mình không đảm đương nổi, thì tương lai chính trị sẽ bị cháy rụi. Tới giờ ăn trưa, cuộc họp tạm ngưng. Tướng Thiệu, Tướng Thi bàn tính với nhau, rồi vẩy Tướng Kỳ bước tới và nói: “Moa (Tướng Thiệu) và anh Thi bàn tính nhau đưa toa (Tướng Kỳ) ra đảm nhiệm chức Thủ tướng. Khi xong buổi ăn trưa, vào họp tiếp, moa sẽ đề nghị toa giữ chức Thủ tướng, đừng từ chối nhé! Bọn moa sẽ yểm trợ toa hết mình”. Ở đây, tôi kể theo lời thuật của Trung tá KQ Nguyễn Khoa Dánh, cố vấn chính trị đặc biệt của Tướng Kỳ.

Vào họp lại, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu – Chủ tọa phiên họp – dõng dạc tuyên bố: “Chúng tôi đã bàn tính với nhau, chúng tôi đề cử Thiếu tướng Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Cao Kỳ trách nhiệm thành lập Chính phủ”. Lời tuyên bố của Tướng Thiệu giống như một mệnh lênh ban ra, người được chỉ định phải thi hành “phi vụ” theo quân kỷ. Đại Hội vỗ tay. Tướng Kỳ đứng lên đáp: “Là quân nhân, được Trung tướng đương kim Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Quốc phòng chỉ định thi hành phận sự, tôi xin tuân lệnh. Nhưng tôi có một yêu cầu, các Tướng vỗ tay ủng hộ tôi, thì các vị phải nghiêm chỉnh thi hành mệnh lệnh của tôi giao phó”. Đại Hội lại vỗ tay để biểu lộ họ chấp nhận.

Tôi thuật đoạn này để độc giả nhận thấy Tướng Kỳ làm Thủ tướng là do Tướng Thiệu và Tướng Thi có cấp bậc cao hơn trốn tránh trách nhiệm, đùn đẩy cho Tướng Kỳ, chứ chẳng phải vì lợi ích Quốc gia. Trung tướng Thiệu giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Thiếu tướng Kỳ giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương và Trung tướng Phạm Xuân Chiểu giữ chức Tổng Thư ký. Nội Các mang tên Nội Các Chiến tranh. Bộ trưởng các Bộ gọi là Ủy viên. Báo chí và dư luận trong dân chúng đều đoán rằng Nội các Chiến tranh sẽ đổ chừng vài tháng sau, vì Tướng Kỳ là một tay ăn chơi (playboy), không có kinh nghiệm chính trị, bốc đồng. Chẳng ngờ Tướng Kỳ đã mang lại sự ổn định, tinh thần quân sĩ phấn chấn, vì ông cấp tốc có biện pháp thiết thực giúp đỡ đời sống thiếu thốn của anh em đồng đội. Thấy ông là người nhiệt tình, thanh liêm, các Ủy viên dần dần tỏ ra mến phục ông.

Trước hết tôi xin đưa lên đây bài tường thuật của bà Fallaci, một ký giả tả khuynh, phỏng vấn Tướng Kỳ để độc giả biết nhà báo ngoại quốc đánh giá Tướng Kỳ là người thế nào:

https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/ky-gia-falaci-phong-van-tuong-ky.html

Và sau đây là mẩu chuyện do Đại tá Dương Thiệu Hùng kể cho tôi về cuộc họp đơn vị trưởng dưới sự chủ tọa của Tư lệnh Không Quân Nguyễn Xuân Vinh, Về sau, Đại tá Trần Đỗ Cung viết Hồi ký cũng thuật lại cuộc họp đơn vị trưởng này, nhưng với luận điệu chế giễu:

“Trong cuộc họp đơn vị trưởng, Trung tá Nguyễn Cao Kỳ – Chỉ huy trưởng Liên Phi Đoàn Vận tải – rút khẩu súng lục đeo bên người và nói: “Tôi không đồng ý chính phủ đưa chính trị vào Quân Đội. Vì làm như thế, cấp Chỉ Huy Quân Đội sẽ chỉ là kẻ bất tài và khéo nịnh. Còn người có tài, nhưng không muốn lệ thuộc vào đảng, sẽ bị loại.” Sau câu nói đó, không khí buổi họp trở nên căng thẳng, một sự im lặng khó thở, bởi vì ông Tư Lệnh không biết xử trí ra sao. Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng lên tiếng phá tan sự im lặng: “chiều nay có trận đá banh giữa Áo quốc với Hội tuyển Việt Nam, tôi đề nghị ngưng buổi họp hôm nay, rồi ngày hôm sau chúng ta sẽ tiếp tục họp”. Mọi người đều đồng ý đề nghị của bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng để hóa giải thế bí của ông Tư Lệnh. Nhân chứng về sự kiện này còn minh mẫn đến ngày hôm nay là Đại tá Đào Huy Ngọc – 92 tuổi – đang sống tại Hawaii.

Mọi người thư thái ra về. Tư Lệnh Nguyễn Xuân Vinh gọi điện thoại trách ông Kỳ: “Tại sao toa không nói riêng quan điểm của toa với moa, mà lại đem ra giữa buổi họp để làm cho moa khó xử?”. Ông Kỳ đáp: “Tôi muốn nói cho các đơn vị trưởng hiểu rằng đem chính trị vào Quân đội thì sẽ gây bè cánh, mất đoàn kết giữa anh em. Tôi nói riêng với Đại tá thì giải quyết được gì?”. Đại tá Đỗ Mậu biết sự gây cấn trong buổi họp đơn vị trưởng, trình nội vụ lên ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Ông Cố vấn nói: “Kỳ là con người bộc trực và lãng mạn, nhưng yêu nước. Tôi sẽ gặp riêng Kỳ và giải thích cho anh ta hiểu tại sao Quân Đội cần chính trị hóa trong hoàn cảnh đánh nhau với cộng sản”.

Tôi nghĩ rằng có lẽ ông Cố vấn Ngô Đình Nhu noi gương Tổng Thống Tưởng Giới Thạch sau khi rời lục địa, chạy ra đảo Đài Loan thì đem chủ nghĩa Tam Dân của Quốc Dân Đảng áp dụng vào tổ chức Quân Đội, giống như phía đảng Cộng sản có chính trị viên. Ông Kỳ may mắn phục vụ chế độ dân chủ dưới sự lãnh đạo của anh em ông Diệm. Nếu ở Miền Bắc, ông Kỳ bày tỏ sự bất đồng với chính sách của chế độ, ông Kỳ sẽ bị triệt tiêu ngay. Kết tội chế độ Ngô Đình Diệm độc tài là một sự vu khống trắng trợn, đáng khinh bỉ.

Dưới đây, tôi xin kể ra một số việc làm mà các sử gia có thể biết mà không viết ra, nhưng có một số anh em Không Quân chúng tôi biết:

1/  Chế độ Ngô Đình Diệm đã bị thanh toán, nhưng các nhà sư Phật giáo vẫn tiếp tục tranh đấu. Các Tướng lãnh, các chính trị gia có vẻ sợ thế lực Phật giáo Ấn Quang. Nhưng ông Kỳ không sợ. Vì ông Kỳ bị Quân Đội đẩy ra làm Thủ Tướng. Tuy là “Buddha Child” (Con Phật) nhưng ông không mắc nợ Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Ấn Quang. Với tư cách Thủ Tướng, ông Kỳ cho người đi mời các nhà sư “tranh đấu” vào tư dinh trong Tân Sơn Nhất để nghe quyết định của ông. Đợi các tu sĩ yên vị xong, ông nói: “Về chính trị, tôi không bằng cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhưng về sự can đảm, tôi hơn Tổng thống Diệm. Tôi sẽ ra tay giết quý vị trước khi quý vị có thể giết tôi như giết ông Diệm. Thượng tọa Tâm Châu ngồi bên cạnh Tướng Kỳ lên tiếng: “Chúng ta đều là con Phật. Tôi đề nghị Thiếu tướng đừng nặng lời, sinh ra khẩu nghiệp không tốt”. Tướng Kỳ đáp trả ngay: “Tôi mới thực sự là con Phật. Các vị chỉ là đầy tớ của Phật”. Tướng Kỳ xác nhận một lần nữa: “Quý vị đừng hòng giết được tôi. Nếu quý vị không chịu trở về Chùa tu tập, cứ tiếp tục gây rối loạn, tôi sẽ trừng trị thẳng tay. Tôi nói thật, chứ không phải đe dọa đâu!”.

Quả nhiên, mấy ông sư cũng sợ ông Tướng Cao Bồi làm ẩu. Kể từ cuộc họp hôm đó, Sài Gòn không còn có cuộc biểu tình xuống đường của Phật giáo Ấn Quang như trước.

2/ Ông Âu Trường Thanh, Ủy viên Kinh tế, vào căn cứ Tân Sơn Nhất báo cáo mấy xì thẩu Ba Tàu trong Chợ Lớn đầu cơ tích trữ gạo, khiến giá gạo tăng lên vùn vụt. Tướng Kỳ cho người gọi mấy xì thẩu Ba Tàu vào tư dinh trong Tân Sơn Nhất trình diện. Các xì thẩu Ba Tàu tỏ ra coi thường ông Tướng trẻ. Họ ăn mặc nhếch nhác, chân mang giép lẹt xẹt. Tướng Kỳ bắt họ ngồi trong phòng đợi chừng một giờ đồng hồ, không mở máy lạnh, các xì thẩu người nào người nấy toát mồ hôi vì cái nóng của Sài Gòn giống như lò lửa. Khi Tướng Kỳ bước vào phòng, các xì thẩu Ba Tàu vẫn ngồi nguyên, không thèm đứng dậy. Ông Kỳ nghiêm sắc mặt, đảo mắt nhìn quanh một vòng, rồi ra lệnh sĩ quan tùy viên mang vào giấy bút và cái hộp.  Ông bảo các xì thẩu ghi tên lên giấy, xếp làm bốn và bỏ vào hộp. Xong xuôi, ông cho tay vào hộp lấy ra một tờ giấy thứ nhất xướng danh từ người, đến tờ giấy cuối cùng. Người sĩ quan tùy viên ghi tên từng người một, thành danh sách, ông tuyên bố: “ Sau cuộc trình diện của quý vị với tôi hôm nay, tôi ra lệnh các ông phải mở kho gạo ra bán cho dân chúng theo giá trước kia. Nếu người nào không tuân lệnh, tôi sẽ đưa ra pháp trường cát lãnh án tử hình. Tôi không đùa với các ông.

Người ta cho rằng lối giải quyết vấn để của ông Kỳ là kiểu “cao bồi”. Nhưng đừng quên nước Việt Nam đang có chiến tranh với cộng sản chỉ có Tướng Kỳ mới dám sử dụng. Nhưng thời buổi chiến tranh, nếu không sử dụng theo kiểu đó, thì làm sao điều khiển được đất nước có bọn gian thương coi thường pháp luật?

3/  Giám đốc ngành xuất nhập cảng Tạ Vinh bị kết tội đầu cơ tích trữ, thao túng thị trường. Tòa Án Quân sự tuyên bố tử hình. Hội Tam Hoàng của Ba Tàu trong Chợ Lớn dùng tiền mua chuộc ông Thủ tướng trẻ không xong. Vợ Tạ Vinh nhờ Lý Long Thân đưa vào Tân Sơn Nhất, bỏ ra 250 triệu tiền Việt Nam để xin tha tội cho chồng. Tướng Kỳ bảo: “Bà hãy mang tiền về để nuôi con, dạy dỗ chúng nó làm ăn lương thiện”. Ba Tàu còn vận động Chính phủ Đài Loan của Tổng thống Tưởng Giới Thạch can thiệp cũng không xong. Một Tiểu đoàn Nhảy Dù được điều động tới pháp trường để đề phòng xì thẩu Ba Tàu xúi giục dân Tàu Chợ Lớn gây bạo loạn. Có tin đồn thất thiệt loan ra: “Tạ Vinh không bị xử tử. Chính quyền thay một tên tù khác để xử tử hình”. Mục đích của tin đồn thất thiệt đò nhằm đổ tội Tướng Kỳ ăn tiền của gia đình phạm nhân, nhưng ra cái điều thanh liêm, trong sạch!

Mời quý bạn đọc mở cái Video Clip sau đây ra xem https://youtu.be/wFEy6FS1lHM.  (Dù cái Clip do Việt Cộng thực hiện, nhưng rất đúng với những gì đã xảy ra).

4/ Đại tá Nguyễn Chánh Thi là con cưng của Tổng thống Ngô Đình Diệm, được trao chức Tư lệnh Chiến đoàn Nhảy Dù, một đơn vị thuộc hạng thiện chiến nhất Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1960, ông Thi theo Trần Đình Lan, Vương văn Đông làm cuộc đảo chánh, lật đổ ông Diệm. Cuộc đảo chánh thất bại, ông Thi được Đại úy Phan Phụng Tiên lái máy bay sang Kampuchia tị nạn. Ông Thi không có khả năng tìm kế sinh nhai, sống nhờ vào tiền của phi công phản loạn Nguyễn văn Cử đi dạy Pháp văn. Về sau, có một cô gái tới phục dịch ông vì thương một người già neo đơn tội nghiệp! Sau đó, cô gái có lòng từ tâm giúp đỡ người già, giới thiệu một ông cậu tên Sáu (giả) đến làm bầu bạn với ông, để ông dỡ buồn chán. Sau cuộc đảo chánh 1963, Đại tá Nguyễn Chánh Thi hồi hương, mang theo ông Sáu về làm quản gia. Một người phản chế độ, về nước được thăng cấp Thiếu tướng.

Trong Đại Hội ngày 19 tháng 6 năm 1965, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng chọn người làm Thủ tướng. Thiếu Tướng Kỳ đề cử Tướng Thi, nhưng ông nhất định không chấp nhận. Tới khi thấy Tướng Kỳ làm Thủ tướng một cách dễ dàng, Tướng Thi bèn trải lòng tham vọng với thuộc cấp: “thằng Kỳ làm Thủ Tướng được, thì tau cũng làm Thủ Tướng được và tau sẽ làm hay hơn nó”. Trí Quang nghe được câu tâm sự đó, bèn lợi dụng lợi dụng thời cơ, hiến kế để lật đổ Nguyễn Cao Kỳ.

Trong chuyến kinh lý Vùng I Chiến Thuật, Tướng Kỳ nhận thấy Tướng Thi tỏ thái độ coi thường Tướng Kỳ, khi Tướng Thi cử một nhân viên cấp thấp báo cáo tình hình chính trị và quân sự tại địa phương thay vì Tướng Thi phải đích thân đứng ra thuyết trình với Thủ tướng. Khi lên máy bay trở về Sài Gòn, Tướng Kỳ nhìn qua cửa sổ máy bay, thấy Tướng Thi đưa tay lên cao “high five” với một sĩ quan khác, một cử chỉ chứng tỏ với thuộc cấp “ tau chẳng coi lão Kỳ ra gì. Tướng Kỳ dùng điện thoại trên phi cơ gọi cho Tướng Nguyễn Hữu Có – đương kim Ủy viên (Bộ trưởng Quốc Phòng – làm lệnh cách chức Tư Lệnh của Tướng Nguyễn Chánh Thi. Lập tức, Trí Quang tập hợp sư sãi biểu tình phản đối sự độc tài của Nguyễn Cao Kỳ và yêu cầu Nguyễn Cao Kỳ phải phục hồi chức vị Tư Lệnh cho Tướng Nguyễn Chánh Thi. Thế là cuộc Biến Động Miền Trung nổ ra. Luận điệu của Trí Quang tuyên truyền trong dân chúng là: Chính quyền Quân nhân của Thiệu Kỳ là bất hợp pháp, vì không do dân bầu để coi cuộc đấu tranh của Phật giáo là ví lý tưởng Dân Chủ – Tự Do . Đó là luận điệu mị dân, rất được quần chúng và một số quân nhân tin theo. Làm sao có thể bầu cử khi đang đánh nhau với quân xâm lược và bọn Việt Cộng đội lốt Phật giáo làm nội tuyến?

Tướng Kỳ cử Tướng Nguyễn văn Chuân – người Huế – ra Huế dẹp loạn, nhưng thất bại.

Tướng Kỳ cử Tướng  Huỳnh văn Cao – người Huế – ra Huế dẹp loạn, rồi cũng thất bại. Tướng Cao viện cớ mình là người có đạo Công Giáo, nếu thẳng tay thì mang tiếng với Phật Giáo!

Tướng Kỳ cử Tướng Tôn thất Đính – cũng người Huế – thì Tướng Đính láu cá, nhảy sang phe Phật giáo Ấn Quang (để đồng hành với dân tộc?) nhằm chống là Chính Quyền Trung Ương.

Cuối cùng Tướng Kỳ phải cùng Tướng Nguyễn Ngọc Loan – Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia–   đích thân ra Huế dẹp loạn. Trong cuốn sách Biến Động Miền Trung, tác giả Liên Thành vì lý do “tế nhị”, chỉ đề cao vai trò của Tướng Loan, mà không nhắc đến vai trò chỉ huy cuộc dẹp loạn là Tướng Kỳ. Tất cả những trở ngại không thể giải quyết, Tướng Loan đều xin chỉ thị của Tướng Kỳ.

Chẳng hạn, vị trụ trì Chùa Phổ Đà yêu cầu đạo hữu “tử thủ”, nhất định không thi hành lệnh của Quân Đội phải giải tán cuộc tập họp bất hợp pháp. Tướng Loan phải gọi điện cho Tướng Kỳ để giải quyết thế nào. Tướng Kỳ bảo Tướng Loan cúp điện, cúp nước thì với cái khí hậu khắc nghiệt của Đà Nẵng vào mùa Hè mà không có điện nước thì không ai có thể chịu đựng cái nóng và sự mất vệ sinh do không nước. Ngoài ra, Tướng Kỳ còn ra lệnh cho Đại tá Dương Thiệu Hùng – Tư lệnh Không Đoàn 41 – đưa phi tuần Khu trục bốn chiếc Skyraider bay thấp trên mái Chùa để uy hiếp tinh thần. Không bao lâu sau, các đạo hữu tự động giải tán. Tướng Kỳ đã có quyết định sáng suốt, nên sự đổ máu đã không xảy ra.

Tướng Lewis William Walt – Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Chu Lai – cho phi cơ Phantom F-4C lên uy hiếp phi cơ Không Quân Việt Nam. Tướng Kỳ dùng tần số “Guard” của phương tiện vô yêu cầu  phi cơ Hoa Kỳ phải trở về căn cứ, nếu bất tuân lệnh, pháo binh Việt Nam sẽ biến Chu Lai thành bình địa. Thế là phi cơ Hoa Kỳ trở về đáp, vì sợ Tướng Kỳ là người dám nói, dám làm, thì không có phi trường để đáp.

Sau khi cuộc biến loạn chấm dứt, Tướng Tư lệnh TQLC Lewis Walt vào căn cứ Không Quân Đà Nẵng xin gặp Tướng Kỳ. Tướng Walt bước vào phòng làm việc của Đại tá Dương Thiệu Hùng (nơi Tướng Kỳ tạm dùng đại bản doanh), đứng nghiêm chào đúng với lễ nghi quân cách. Tướng Kỳ không nhìn lên, vẫn cúi mặt đọc báo cáo tình hình. Chừng 10 phút sau ông mới ngẩng mặt lên và hỏi Tướng Walt vào gặp ông có chuyện gì. Tướng Walt lễ phép thưa:

 –   Tôi vào gặp ông Thủ tướng để hỏi tại sao ông đưa quân đến vùng trách nhiệm của tôi, mà không cho tôi hay biết?

Tướng Kỳ hỏi:

 –  Ông Tướng đã phục vụ bao nhiêu năm trong Quân Đội? Trung tướng có hiểu hệ thống quân giai là gì không? Tôi đang là người lãnh đạo đất nước này. Tôi có phải xin phép Trung tướng để điều hành đất nước này không? Trung tướng có biết rằng chỉ cần một cú điện thoại của tôi gọi Tổng thống Lyndon B. Johnson, thì Trung tướng phải rời chức vụ trong vòng 24 tiếng đồng hồ không?

Trung tướng Walt nghe xong câu hỏi của Tướng Kỳ, vội vàng đưa tay lên chào kính và “đàng sau” quay!

Sau năm 1975, biết Tướng Kỳ định cư tại California, Tướng Walt đến nhà Tướng Kỳ thăm viếng và thổ lộ: “Tôi rất biết ơn Ngài Phó Tổng thống, vì Ngài đã dạy cho tôi một bài học về lãnh đạo và chỉ huy. Chúng tôi rất tiếc là Chính phủ Hoa Kỳ đã bỏ rơi một dân tộc dũng cảm, anh hùng”.

Đại tá Dương Thiệu Hùng – Tư Lệnh Không Đoàn 41 ở Đà Nẵng – hiện diện trong cuộc gặp gỡ giữa Tướng Walt và Tướng Kỳ, đã vô cùng hãnh diện cấp chỉ huy của mình, đã làm cho ông Tướng Mỹ cảm phục dân tộc Việt Nam.

Tôi thuật lại mẩu chuyện này để bạn đọc biết một nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ mới 36 tuổi, người nhỏ thó, đối diện với một ông Tướng Thủy Quân Lục Chiến cao hơn 6 feet, nhưng không hề có một chút mặc cảm về thân hình nhỏ bé của mình. Với giọng nói uy nghiêm, dõng dạc và thông minh của Tướng Kỳ với ông Tướng Mỹ, tôi tin rằng không một nhà lãnh đạo chính trị nào, một vị Tướng nào của Việt Nam Cộng Hòa có thể làm cho Trung tướng Walt bày tỏ niềm cảm phục để nhìn nhận mình đã học được một bài học về lãnh đạo, chỉ huy. Đại tá Dương Thiệu Hùng – Tư Lệnh Không Đoàn 41 ở Đà Nẵng cũng như Đại tá Lưu Kim Cương, hiện diện trong phòng họp Hành Quân của Không Đoàn 41, không ngớt bày tỏ sự ngưỡng mộ cung cách ứng xử của Tướng Kỳ đối với Đồng Minh.

Tôi tin rằng, chẳng phải riêng tôi, mà bất cứ quân nhân nào khác, đều muốn mình được phục vụ dưới quyền của một vị chỉ huy thông minh, có bản lĩnh và không có mặc cảm đối với Đồng Minh. Một số anh em Không Quân chưa được dịp tiếp xúc với Tướng Kỳ, khi đọc báo chí của đối phương gièm pha, thì cũng về hùa với dư luận. Tướng Nguyễn Cao Kỳ là vị Tư Lệnh Không Quân duy nhất dám gọi điện thoại cho Trung tướng Đỗ Cao Trí – Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật – để yêu cầu thả Đại Úy Trương Dzù ra khỏi quân lao ngay lập tức. Sở dĩ, Đại Úy Trương thường được anh em Không Quận gọi ông bằng ngoại danh “Trương Dzù”, vì ông nguyên là sĩ quan Nhảy Dzù được chuyển sang Không Quân.

Xin nói một chút về điểm này. Từ khi Tướng Kỳ làm Tư Lệnh KQ, thì mới được các ông Tướng Bộ Binh bên Tổng Tham Mưu nể trọng. Sự thật này chỉ có những Không Quân thâm niên cỡ tuổi tôi trở lên, thì mới biết mà thôi. Mời quý vị độc giả kiên nhẫn theo dõi những bài kế tiếp của tôi để biết về một giai đoạn lịch sử đã qua, mà không một nhà viết sử nào đề cập tới.

Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 25 tháng 6 năm 2022.

10200n Bolsa Avenue, Westminster, California 92683.

Email Address: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 - 5600

 

Thursday, June 23, 2022

KÝ GIẢ FALLACI PHỎNG VẤN TƯỚNG KY

 

Gặp lại tướng Nguyễn Cao Kỳ năm 1967

 


Nhà báo ký giả người Ý Oriana Fallaci, người phỏng vấn tướng Nguyễn Cao Kỳ

Nhà báo, tác giả người Ý Oriana Fallaci là người đã thực hiện các cuộc phỏng vấn với các nhân vật chính trị nổi tiếng như Henry Kissinger, giáo chủ Shah của Iran, Ayatollah Khomeini, Willy Brandt, Nguyễn Cao Kỳ, Yasser Arafat, Indira Gandhi, Golda Meir, Nguyễn Văn Thiệu, Sean Connery, và nhiều người khác.

Từng được coi là một trong những nhà văn nữ nổi tiếng, và người có tài thuyết phục giới lãnh đạo chịu nhận trả lời phỏng vấn.

Kể từ năm 1967 bà trở thành phóng viên chuyên viết bài về các vùng nóng trên thế giới, như cuộc chiến tại Việt Nam, cuộc chiến Ấn Độ-Pakistan, vùng Trung Đông, và Mỹ La Tinh. Nhiều năm bà là phóng viên chính trị cho tạp chí L'Europeo, và viết bài cộng tác cho các tờ báo hàng đầu khác tại Âu châu, và Hoa Kỳ.

Để có thêm cái nhìn về tính cách, và ngôn ngữ trả lời báo chí của vị tướng, từng là phó tổng thống chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi xin giới thiệu cuộc phỏng vấn của bà Oriana Fallaci với tướng Nguyễn Cao Kỳ thực hiện năm 1967, được trích từ sách Egotists, của nhà xuất bản Tempo Brooks, tại New York, năm 1969. Giới Tử dịch.

Fallaci Tướng Kỳ này, có phải ông đang nói về cách mạng không?

Nguyễn Cao Kỳ Ðã hẳn. Ðiều người Mỹ không biết là Miền Nam cần một cuộc cách mạng để ngang hàng với lý tưởng cách mạng ở Miền Bắc, để chứng tỏ không phải chỉ ở Miền Bắc mới cần công chính... Tôi không màng những cuộc bầu cử mà Mỹ đòi hỏi phải có. Hầu hết những người được bầu ra ở Miền Nam không phải là những kẻ dân muốn chọn, họ không đại diện cho ai cả... Những cuộc bầu cử vừa rồi của chúng tôi là một cách phung phí thì giờ và tiền bạc, một trò hề...
Tôi cũng đã ra ứng cử, đã đắc cử như một Phó Tổng Thống của một chế độ đã được chọn ra như thế, nghĩa là tôi cũng có trách nhiệm với trò hề đó. Nhưng ít ra thì tôi cũng thấy được cái xấu xa quỷ quái chỗ nào. Và tôi nói luật pháp phải thay đổi, vì những luật lệ hiện hành của chúng tôi là luật bảo vệ nhà giàu. Chúng tôi cần những luật lệ bảo vệ người nghèo.

Fallaci Tướng Kỳ này, đó chính là điều Hồ chí Minh nói, điều Việt Cộng nói. Ðó là xã hội chủ nghĩa, là Mác-xít.

Nguyễn Cao Kỳ Thì có ai chối đâu? Tôi đâu có ngán mấy chữ "xã hội chủ nghĩa". Chính người Mỹ đã làm cho mấy chữ đó trở thành xấu xa... Cô bảo tôi là một tay Mác-xít.

Ðây không phải là lần đầu tiên một người Âu Tây bảo tôi như thế. Như vậy, có thể tôi là một tay Mác-xít. Thì đã sao? Tôi không hề biết Marx, Engels, hoặc bất cứ một lý thuyết gia nào gốc Âu châu. Họ lập thuyết và tôi không hơi đâu mất thì giờ với lý thuyết. Thành thật mà nói, tôi không đọc sách. Tôi cũng không xấu hổ nhận rằng tôi ít học. Sức học của tôi chưa quá trung học. Tôi nghỉ học lúc 18 tuổi khi người Pháp đóng cửa trường và đẩy chúng tôi đi đánh nhau. Tôi là một phi công, sống chết với máy bay chứ không phải với sách của Marx hay của Engels. Tôi không cần bận tâm chuyện Marx đã khám phá ra rằng nhà nghèo không cần phải nghèo mãi. Tôi không cần khám phá của Marx mới biết điều sơ đẳng đó. Tôi là người da vàng, người Á châu, tôi hiểu đất nước tôi hơn những người da trắng đã viết ra sách vở.

Fallaci Tướng Kỳ ơi, nói gì thì nói sự thật là nếu ông đọc những sách đó thì ông sẽ ý thức rằng ông đang nói những điều mà chính những người ông đang đánh nhau với cũng nói y hệt. Ông có thể cho tôi biết tại sao ông chống Cộng Sản không?

Nguyễn Cao Kỳ Tôi chỉ biết Cộng Sản trong xứ tôi thôi. Và tôi không thích thứ Cộng Sản ấy. Tôi không thích thấy một đứa con nhân danh đảng đấu tố mẹ mình. Tôi không thích một đảng nhân danh ý thức hệ để đạp đổ gia đình và những tình cảm gia tộc. Tôi không thích một xã hội trong đó mỗi người là một đảng viên. Do đó, dù tôi chống cái tự do đã gây nên hỗn độn và ngăn trở thực hiện công bằng xã hội, nhưng tôi cũng chống độc tài nữa. Tôi không biết phải nói sao về điều ấy. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Nhưng dĩ nhiên tôi không chống Cộng khi họ phân chia tài sản, và tôi đồng ý trăm phần trăm với họ khi họ tước đất của người giàu đem phân phát cho người nghèo. Khi họ trao súng cho nông dân và bảo: “Hãy đấu tranh cho một cuộc đời tốt đẹp hơn. Khi họ tước bỏ những đặc quyền đặc lợi giai cấp, khi họ nói rằng phân chia giai cấp là sai. Như Khổng Tử từng nói, chúng ta phải nâng kẻ nghèo lên và hạ người giàu đến một mức mà mọi người có thể hoàn toàn hòa hợp chung sống.

Fallaci Tướng Kỳ này, có lúc nào ông nghĩ rằng ông đã lựa chọn sai chỗ đứng không? Có bao giờ ông nghĩ rằng ông có thể hợp với Hồ chí Minh không?

Nguyễn Cao Kỳ Vâng... nếu số phần của tôi khác thì tôi đã đứng về phía ông ấy rồi. Nhưng theo ông ấy thì bây giờ tôi là gì? Tôi có thể chỉ là một cán bộ quèn câm nín trong guồng máy đảng, chẳng làm nên tích sự gì. Còn ở phía bên này, tôi là Nguyễn Cao Kỳ; và tôi có thể làm được việc này việc khác. Dĩ nhiên, một con én không làm nên mùa Xuân nhưng con én ít ra cũng báo hiệu mùa Xuân... Ðôi khi người ta hỏi tôi: anh có muốn biết qua về Hồ chí Minh không? Thành thật mà nói tôi không muốn, và cô biết tại sao không? Vì ông ấy thuộc thế hệ khác. Dĩ nhiên ông ấy là một lãnh tụ tài ba, nhưng ông ấy già rồi. Ông ấy ngoài bảy mươi còn tôi thì mới 37... Những người như Hồ chí Minh không thuộc thế kỷ này, hệ thống chính trị của họ cũng đã lỗi thời...

Fallaci Nhưng Tướng Kỳ ơi, nếu ngày nào đây, ông thấy ông không thể thực hiện cuộc cách mạng của ông, rằng ông đã chọn lầm phe, ông có sẵn sàng nhảy qua bên kia không?

Nguyễn Cao Kỳ Không. Ðã chọn thì phải đi đến cùng. Sớm muộn gì, nếu tôi thấy tôi đã chọn nhầm thế đứng thì tôi thà chết còn hơn là đổi phe... Tôi thà chết hơn là phải thú nhận mình đã chọn lầm đường đi...

Fallaci Ông thực sự tin ông sẽ thành công, hay ông chỉ mơ ông thành công?

Nguyễn Cao Kỳ Tôi tin vào vận mạng của tôi, cho nên tôi tin tôi sẽ thành công, trừ trường hợp chúng (không phải là cộng sản) giết tôi. Nếu chúng không giết tôi thì tôi chắc thắng vì tôi không thuộc phe thiểu số. Ðại khối quần chúng -- người nghèo, nông dân -- ủng hộ tôi.

Lời người dịch Cảm tưởng của cô Oriana Fallaci sau cuộc phỏng vấn là: “Nguyễn Cao Kỳ đáng... là lãnh tụ của một vùng đất thiếu lãnh tụ một cách đau đớn”. Qúy vị sẽ nhận thấy điều đó khi ngỡ ngàng lắng nghe ông ta khoảng hơn 10 phút. Tướng Kỳ không phải là một anh chàng ngố, ông ta có điều muốn nói, và ông nói huỵch toẹt mà không sợ vạ miệng

Sunday, June 19, 2022

GẶP GỠ THẦY NGUYỄN VĂN LÀNH - BẰNG PHONG

 

GẶP GỠ THẦY NGUYỄN VĂN LÀNH.

Bằng Phong Đặng văn Âu.

Thầy Nguyễn văn Lành, cựu sinh viên sĩ quan Khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. cùng khóa với Trung tá Lê văn Mễ, Trung tá Nguyễn Lô và nhà văn nổi tiếng Phan Nhật Nam.

Hôm nay, ngày 18 tháng 6 năm 2022, trước Ngày Quân Lực một ngày, tôi ra tiệm Cà phê Factory gặp Thầy Nguyễn văn Lành, nhà nghiên cứu Dịch Lý được nhiều người biết đến. Tôi không xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia, tôi xuất thân Không Quân VNCH. Hai chúng tôi chưa hề biết nhau từ trước. Tôi chỉ nghe danh Thấy Nguyễn văn Lành qua bạn hữu. Sau khi Tổng thống Donald Trump xuất hiện, chúng tôi mới quen biết nhau. Thầy Lành tiên đoán ông Trump sẽ trở thành Tổng tống năm 2016. Còn tôi ủng hộ ông Donald Trump vì tôi thấy ứng cử viên đảng Dân Chủ - bà Hillary Clinton – mà đắc cử, tức là Barack Hussein Obama làm Tổng thống nhiệm kỳ thứ III, thì tương lai nước Mỹ sẽ vô cùng tâm tối, vì ảnh hưởng của Trung Cộng lên nước Mỹ sẽ nặng nề hơn.

Tôi ủng hộ chương trình hành động MAGA của tỷ phú Donald Trump. Còn tôi thực tình chán ngấy những chính trị gia của Mỹ đều là loại “NATO” (Talk Only, No Action), kể cả George Bush, McCain, Mitt Romney. Phía ủng hộ đảng Dân Chủ, chống tỷ phú Donald Trump, gọi những người ủng hộ tỷ phú Trump là “Cuồng Trump” để miệt thị hơn là có lý lẽ để tranh luận.

Còn Thầy Nguyễn văn Lành ủng hộ tỷ phú Trump vì tin vào mệnh TRỜI (Thượng Đế). Năm 2020, mọi người đều tin Tổng thống Donald Trump sẽ đắc cử landslide. Ngay cả Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng chấm tử vi, cũng tin Tổng thống Donald Trump sẽ đắc cử vẻ vang. Riêng nhà nghiên cứu dịch lý Nguyễn văn Lành quả quyết rằng Tổng thống Donald Trump sẽ thất cử và những RINO (Republican in the name) phản bội. Tổng thống Donald Trump sẽ bị phe Dân Chủ và RINO đánh đuổi cùng đường, tới chân tường thì Thượng Đế sẽ đưa cái thang xuống để Tổng thống Donald Trump bước qua. Thầy Lành còn nói Ivanka Trump – con gái TT Trump – sẽ có thể là nữ Tổng thống đầu tiên của Mỹ.

Thầy Lành tiết lộ rằng Thầy đã đọc không sót một bài tham luận nào của tôi. Thầy nhận thấy tôi là người lính thiết tha với đất nước Việt Nam, lập trường không hề lung lay. Thầy còn nói, qua những bài viết của tôi, rằng tôi sẽ rửa tội theo Đạo Công Giáo. Nhân hôm nay Thầy Lành đề cập chuyện Đức Tin, tôi mới tâm sự với Thầy.

Tháng Ba năm 2015, tôi bị mổ tim banh ngực để thay 3 cái valves. Bác sĩ bảo rằng tôi có 50% sống sót. Sau khi bị đánh thuốc mê, chưa hoàn toàn mê, tôi thoáng thấy hình ảnh Chúa Jesus hiện ra và nói: “Đừng lo! Con sẽ sống để tiếp tục làm nhiệm vụ Người Lính mà con ao ước”. Sau khi qua cơn mê, tôi hồi tưởng hình ảnh Chúa Jesus và tôi nguyện sẽ theo chân Chúa, mặc dầu tôi biết rằng theo chân Chúa thì phải vác Thánh Giá và đi trên con đường chông gai.

Sau một thời gian khá dài đấu tranh tư tưởng trước khi chịu phép rửa tội, vì tôi vốn là một Phật tử tham gia sinh hoạt trong Gia đình Phật tử Chơn Tuệ từ khi còn là thiếu niên. Tôi đã quỳ rất lâu trước bàn thờ, thờ vong linh Ông Bà Nội tôi, Cha Mẹ tôi để xin phép rửa tội thành tín đồ Công Giáo. Hai anh tôi – bác sĩ Đặng văn Sung và kỹ sư Hàng Hải Đặng văn Châu – cũng rửa tội trong giờ lâm chung. Còn tôi muốn được rửa tội khi còn tỉnh táo, không đợi tới phút lâm chung. Ngày Lễ Phục Hưng, tôi được rửa tội. Tôi chọn Giáo Hoàng John Paul II làm Thánh bổn mạng vì câu nói bất hủ của Ngài: “Tôi (Giáo Hoàng) sẽ cởi áo Giáo Hoàng, trở về Ba Lan chiến đấu, nếu xe tăng của Hồng Quân Nga Sô Viết tiến vào đất nước Ba Lan”. Có một số bạn hữu cho tôi là đứa Chống Cộng cực đoan, Chống Cộng quá khích. Tôi không giải thích, vì tôi có học, có lương tri, nên không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản súc vật hóa con người. Tôi không bao giờ chấp nhận đội trời chung với chúng, chỉ thế thôi. Cái thứ cực đoan, quá khích là bọn người không có trí tuê, ngu dốt như cộng sản mà thôi! Tôi không vô cảm trước nỗi thống khổ của đồng bào dưới gót giày cai trị của lũ ngu dốt, bất nhân, bất nghĩa.

Nghe tin tôi rửa tội theo Đạo Công Giáo, một người anh bà con bên phía Mẹ tôi đến nhà, nghiêm sắc mặt nói: “Anh là đứa con bất hiếu! O ở vậy (bà góa không chịu bước thêm bước nữa) nuôi anh ăn học thành tài, mà nay anh theo Đạo, thì anh đâu còn cúng giỗ O nữa?” Không! Tôi vẫn cúng giỗ Thầy Mẹ tôi như thường, vì Giáo hội Công Giáo đã cho phép, thì tôi mới theo Đạo Chúa. Tôi trả lời người anh em bà con: “Anh không thấy các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức chém đầu hơn 100 ngàn tín đồ Công Giáo, mà vị vua cuối cùng – Hoàng Đế Bảo Đại – xin rửa tội theo Đạo Công Giáo đấy thôi! Anh có biết vua Bảo Đại đến Vatican xin gặp Giáo Hoàng John Paul II và xin Ngài cùng quý xuống với vua Việt Nam để xin Thiên Chúa tha tội cho các Tiên Đế đã bách hại các tín đồ Công Giáo không?”

Nhiều người bạn của bà xã tôi gọi điện thoại đến hỏi với giọng khích bác, châm biếm: “Trong nhà có chống theo Đạo Cộng Giáo, vợ theo đạo Phật, có hòa thuận được không?” Không! Chúng tôi thuộc thành phần có học, có văn hóa, có đạo đức nên biết tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhau. Tôi vẫn đến Chùa dự đám tang thân nhân, bạn bè thì có sao đâu? Tôi chỉ thấy buồn vì thấy có những Phật tử tị nạn cộng sản, siêng năng đi Chùa, mặc dù biết các vị sư trụ trì trẻ ở Chùa là Sư Quốc Doanh được Việt Cộng gửi sang.

Nhà nghiên cứu dịch lý Nguyễn văn Lành tiết lộ thầy qua khỏi cơn đột quỵ (stroke) là nhờ Đức Phật cứu. Tốt! Đức Tin vào Đấng Thiêng Liêng là rất cần thiết. Có Đức Tin Tôn Giáo mới có đạo đức để biết Sám Hối để tự cứu chuộc. Người có Đức Tin thì mới có giáo dục để không báng bổ, xúc phạm Tôn giáo. Nền Dân Chủ đang xuống cấp về Đạo Đức vì tôn thờ “cứu cánh biện minh phương tiện”. Gian lận bầu cử thì mất dân chủ, xã hội sẽ loạn. Trước mắt, tôi nhận thấy thời đại chúng ta đang sống là thời đại Quỷ Sứ lên ngôi, nên sự dối trá đang hoành hành.

Tôi rời tiệm Cà Phê Factory sau cuộc nói chuyện với Thầy Nguyễn văn Lành. Tôi hy vọng những gì Thầy tiên đoán tương lai sẽ đúng như Thầy đã tiên đoán đúng trong quá khứ.

Vài dòng tường thuật buổi nói chuyện với Thầy Nguyễn văn Lành, nhà nghiên cứu dịch lý, để nhớ ngày mai là Ngày Kỷ Niệm 19 Tháng 6 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận lãnh trách nhiệm lịch sử với đồng bào Miền Nam. Mỗi người lính tưởng nhớ ngày này thì phải sống cho xứng đáng với NIỀM TIN của đồng bào mình dưới gót giày cai trị của bè lũ Việt Cộng.

Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 18 tháng 6 năm 2022.

 

Saturday, June 18, 2022

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU (bài thứ ba)

 

 https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/khong-con-la-moi-nguy-co-bang-phong-ang.html

Bài Thứ Ba

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

____________________________________________________________

Tôi từng thưa với độc giả nhiều lần rằng tôi không phải là nhà văn, vì tự biết mình không có văn tài, nên không dám mang sứ mệnh “tải đạo”. Cũng không phải là nhà viết sử, tôi chỉ là người có cơ duyên “lạc đường vào lịch sử”, vì đã đích thân tham dự vào cuộc chiến chống Con Ma Cộng Sản, thì viết lên suy nghĩ của mình để giải thích vì sao nòi giống Việt Nam anh hùng mà phải mang nỗi ô nhục này. Tôi công khai nêu lên ý nghĩ để biết đâu có vị cao minh nào đó có lời giải thích tình trạng xuống cấp của dân tộc một cách thuyết phục hơn.

Do sự xung khắc gia đình, Chúa Nguyễn Hoàng nhờ bà chị của mình – vợ Chúa Trịnh Kiểm – xin cho mình đi về Miền Nam khai hoang lập ấp. Nếu gia đình êm thấm, các bậc tiền bối không phạm tội với Thiên đình vì tiêu diệt nòi giống Chàm, thì dân Việt ta không bị quả báo như ngày nay. Đây không phải là lời oán trách tiền nhân. Đây chỉ là sự suy nghiệm của hàng hậu bối đi tìm căn nguyên vì sao một dân tộc thông minh, anh hùng mà trí óc không chịu lớn.

Đất Thuận Hóa là nơi hậu duệ của Chúa Nguyễn Hoàng – Nguyễn Phúc Ánh – chọn Phú Xuân để lập Đế đô Nhà Nguyễn và mang Đế hiệu Gia Long. Theo lời dạy của Thầy Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Tại sao chỉ mới 143 năm tính từ năm 1802 là năm Chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi đến năm 1945 vua Bảo Đại thoái vị, mà Nhà Nguyễn mất ngôi vào tay một tên gian hùng, cùng hung cực ác Hồ Chí Minh? Tại sao con cháu Nhà Nguyễn không thể dung thân vạn đại? Tại sao chỉ 143 năm là mất ngai vàng và con cháu phải mang nỗi nhục ăn nhờ ở đậu nơi đồng đất nước người? Có phải“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” là hậu quả tất yếu, đúng không?

Năm 1627, do xung đột dòng họ, cuộc nội chiến xảy ra chia đôi đất nước tại sông Gianh.

Năm 1954, nước Việt Nam lần này bị Quốc tế chia đôi tại sông Bến Hải, vĩ tuyến 17. Huế không còn là Kinh đô của Nhà Nguyễn, mà nước Việt Nam bị chia làm hai thủ phủ: Hà Nội và Sài Gòn. Thủ phủ Hà Nội – chốn ngàn năm văn vật – thuộc về bọn quỷ sứ ma vương do tên đại ma đầu Hồ Chí Minh cai trị, biến toàn xã hội thành Trại Súc Vật đói rách; còn thủ phủ Sài Gòn từ một bãi rác được nhà ái quốc Ngô Đình Diệm biến thành Hòn Ngọc Viễn Đông, nhân dân được sống tương đối tự do và no cơm ấm áo. Miền Nam có cần được giải phóng hay không? Tại sao có những đứa bằng cấp đầy mình mà chạy theo cái chiêu bài “giải phóng” ngu xuẩn đó? Rõ ràng lời nguyền rủa của những oan hồn đã tác động lên trí tuệ Việt Nam, đúng không?

Lẽ ra Miền Nam trù phú, tự do, hùng mạnh được cường quốc số 1 thế giới – Hoa Kỳ – yểm trợ mọi mặt, thừa sức giải phóng nhân dân Miền Bắc. Nhưng tại sao “một nền văn minh lại bị một chế độ man rợ đánh bại?”. Tôi thấy chỉ có cách đem Luật Nhân Quả ra để mà luận giải cái lẽ “vô thường” như những bài viết trước tôi đã trình bày. Không một ai chính danh lên tiếng phản bác một cách nghiêm túc những luận điểm của tôi. Điều đó chứng tỏ lập luận của tôi là hữu lý, chứ còn gì nữa?

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, có ba Quốc gia bị chia đôi. một nửa thuộc phe Cộng sản, một nửa theo phe Tự do. Đó là Đức Quốc (Germany), Triều Tiên (Korea) và Việt Nam. Nước Đức được thống nhất trong tự do, thịnh vượng nhờ Liên Xô sụp đổ. Triều Tiên nhờ nhà độc tài Phác-Chính-Hy mà vẫn nguyên trạng chia cắt, chưa thống nhất được, nhưng Nam Hàn (ROK) trở thành Quốc Gia giàu mạnh, cạnh tranh kinh tế với Nhật. Trong khi ở Miền Nam Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm làm cho bãi rác trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông, bị quy tội đàn áp Phật giáo và đàn áp đối lập, giúp cho Hồ Chí Minh và bè lũ thống nhất đất nước. Thống Nhất mà “cái cột đèn biết đi, cũng bỏ nước ra đi”?

Tại sao văn hào Nhất Linh không thấy trong Nội các Chính phủ Ngô Đình Diệm đa số Bộ trưởng là Phật giáo? Tại sao văn hào Nhất Linh không thấy đa số Tướng lãnh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là Phật giáo? Văn hào Nhất Linh ca ngợi cái chết vì Đạo Pháp của Ngài Quảng Đức là đúng hay sai? Nếu tôi là con cháu của văn hào Nhất Linh, chắc chắn tôi đã đứng ra xin lỗi đồng bào Việt Nam ngay! Nhà cách mạng Văn Hóa Nhất Linh cũng bị quỷ ám?

Thử bàn láo chuyện thiên cơ một chút chơi. Có mất gì?

Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm, vốn dòng dõi họ Hồ, vào Bình Định lập nghiệp, đổi sang họ Nguyễn. Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm La (Thái Lan) ở trong Nam do Chúa Nguyễn phúc Ánh cầu viện sang giúp. Nguyễn Huệ đánh bại quân Mãn Thanh ở ngoài Bắc do vua Lê Chiêu Thống cầu viện sang giúp. Nguyễn Huệ đánh hai kẻ thù do chính người Việt Nam rước voi về giày mồ, thống nhất đất nước, lên ngôi vua, lấy hiệu là Quang Trung Hoàng Đế. Nếu nói cho chính xác triều đại Nhà Tây Sơn đúng là Nhà Hồ. Chúa Nguyễn Phúc Ánh thừa dịp Hoàng Đế Quang Trung mất sớm, Quang Toản còn nhỏ, nên lật đổ Nhà Tây Sơn (Nhà Hồ), lập lên Nhà Nguyễn. Các sử gia dưới triều Nhà Nguyễn viết công lao thống nhất đất nước do Chúa Nguyễn Phúc Ánh là không đúng sự thật. Chính vua Quang Trung Hồ Thơm mới là người có công thống nhất.

Hồ Chí Minh vốn họ Nguyễn, tên thật là Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc. Nguyễn Sinh Cung đi làm bồi tàu thủy cho Thực dân Pháp là để sinh nhai, chứ không phải là nhà ái quốc đi tìm đường cứu nước. Bằng cớ là Nguyễn Sinh Cung làm đơn xin vào học trường Trường Thuộc Địa của Thực dân Pháp để phục vụ Thực dân Pháp. Nhưng vì Trường Thuộc Địa của Pháp không nhận, thì Hồ Chí Minh mới gia nhập đảng Cộng sản để bán nước Việt Nam cho Tàu. Đó là sự thật lịch sử. Người viết không bịa chuyện.

Chúa Nguyễn Phúc Ánh cướp ngôi Nhà Hồ (Nhà Tây Sơn) của Hoàng Đế Quang Trung. Hồ Chí Minh cướp lại ngôi Nhà Nguyễn (Vua Nguyễn văn Thiệu phải bỏ chạy).

Huế là nơi vua Gia Long đặt làm kinh đô, là nơi vua Minh Mạng ra lệnh cho quan chức dưới quyền hàng tháng phải nộp đầu người đầu dân Chàm để lãnh thưởng. Năm 1963, Huế là sào huyệt của bọn quỷ sứ dùng bọn Việt Cộng giả Sư để phát động cuộc “tranh đấu vì Đạo pháp” để lật đổ nền Cộng Hòa của Miền Nam. Năm Mậu Thân 1968, người dân vô tội của Thành phố Huế bị Việt Cộng chôn sống nhiều hơn tất cả các thành phố khác.

Bạn đọc có thấy sự đời vay trả, trả vay đã xảy ra trong dòng sinh mệnh dân tộc Việt Nam chưa?

Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu viết cuốn Chính Đề Việt Nam đã tiên đoán, nếu nền Cộng Hòa của Việt Nam sụp đổ, chừng 9 hoặc 10 năm sau thì toàn thể đất nước Việt Nam rơi vào tay cộng sản Hà Nội và trở thành một phiên thuộc của Trung Cộng. Tại sao ông Ngô Đình Nhu đoán biết trước được điều đó? Tại vì ông Nhu là người thông minh, sáng suốt, ông nhìn thấy trong số các Tướng lãnh, trong số các nhà hoạt động chính trị, không có một ai có tài, có lòng yêu nước để lãnh đạo toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu bán nước của Hồ Chí Minh. Nạn Sứ Quân sẽ xảy ra vì ông Nhu thấy được tất cả đều tham chức, tham quyền, chứ không có người thực tâm yêu nước, dũng cảm để lái con thuyền Việt Nam giữa phong ba, bão táp (họa cộng sản diệt chủng).

Quả nhiên, sự thể đã xảy ra giống như ông Ngô Đình Nhu đã tiên đoán.

Cái gọi là Cuộc Cách Mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963 không phải là Cách Mạng để lật đổ một Chính quyền thối nát, nhằm xây dựng một Chính quyền lành mạnh hơn, dân chủ hơn, an ninh hơn. Đó là một sự vu khống lếu láo của bọn Việt Cộng nằm vùng trong Phật Giáo ở Huế để cướp Chính quyền hợp pháp nhằm dâng Miền Nam cho cộng sản Tàu. Bọn cầm quyền Cộng sản Hà Nội đều là những tên tay sai đắc lực của Trung Cộng. Nếu cái gọi là Cách Mạng Tháng 11 đúng nghĩa, thì tình hình chính trị Miền Nam phải tốt đẹp hơn, xã hội Miền Nam phải vững chãi hơn. Nếu bạn đọc còn có trí nhớ, sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 11, Tướng Dương văn Minh – người đứng đầu – ra lệnh phá bỏ Quốc sách Ấp Chiến Lược và cho phép các tiệm Nhảy Đầm (dancing) hoạt động trở lại, vui chơi thâu đêm suốt sáng. Quyền lực điều khiển Quốc gia nằm trong tay các tu sĩ Phật giáo, vì các Tướng lãnh, các nhà hoạt động chính trị đảng phái đều “nể” mấy anh nhà Sư đầy tham vọng chính trị!

Thầy dạy học Phan Quang Đông cùng quê Nghệ An – Hà Tĩnh với tôi. Cha Mẹ thầy đều bị Việt Cộng đấu tố và giết trong Cải Cách Ruộng Đất. Thầy Phan Quang Đông là một người hiền lành, sống kín đáo, dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, được bác sĩ Trần Kim Tuyến tuyển mộ vào làm việc tại Sở Nghiên Cứu Chính trị (thực chất là cơ quan Tình Báo). Về sau, thầy Đông được giao nhiệm vụ Giám đốc Sở Bắc, tức là cơ quan lo việc gửi gián điệp hoạt động trong lòng địch. Thầy Đông hoàn toàn không dính đến an ninh, mật vụ của ông Ngô Đình Cẩn ở Miền Trung.

Lúc nghe tin quân phản phúc đảo chánh ông Diệm ở Sài Gòn thành công, thầy Phan Quang Đông mang tất cả hồ sơ của những gián điệp hoạt động trong lòng địch trao cho Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân Khu I và yêu cầu Tướng Trí chăm lo an ninh cho những anh em hoạt động gián điệp. Nhưng Tướng Trí không giữ lời, có lẽ sợ hãi thanh thế của Trí Quang, nên ông đã giao tất cả danh sách gián điệp của ta cho Trí Quang. Tướng Đỗ Cao Trí còn sợ Trí Quang, nói gì đến ai?

Vợ của thầy Phan Quang Đông là Nguyễn Thúy Toan học lớp Đệ Nhất C trường Quốc Học, tôi học lớp Đệ Nhất ban B. Tuy khác ban, nhưng chúng tôi có thể biết hầu hết tên các nữ sinh Đệ Nhất C1 (Pháp văn) và C2 (Anh văn). Sau khi thầy Phan Quang Đông bị xử tử hình ngày 28 tháng 3 năm 1964 tại sân Vận Động Huế, tôi có gặp nàng nữ sinh Quốc Học tên Thúy Toan. Nàng kể với tôi trong nước mắt: “Em có gặp Tướng Nguyễn Chánh Thi để nhờ ông can thiệp cho chồng em bị xử oan, nhưng Tướng Thi từ chối và bảo em đi gặp thầy Trí Quang để mà xin. Thầy Trí Quang cũng từ chối. Thầy nói Thầy là người tu hành, không dính dáng đến chính tr (!), hãy đi gặp các ông Tướng mà xin”. Tướng Trí, Tướng Thi đều sợ “uy danh” Thầy Trí Quang thì quân sĩ Việt Nam Cộng Hòa dù thiện chiến đến thế nào cũng phải thua trận thôi! "Thầy Trí Quang" là người có công đầu, dâng Miền Nam cho Cộng sản Hà Nội!

Sau năm 1975, tôi nghe nói Thúy Toan đem con xuống thuyền đi vượt biên và cả mẹ lẫn con đều chết trên biển? Thương tâm hết sức! Bạn đọc có thấy sự nghiệt ngã của một người có cha mẹ chết dưới bàn tay Cộng sản, bản thân chống Cộng để trả mối thù cho cha mẹ mình, thì bị tử hình vì những viên đạn của phía mệnh danh là Quốc Gia? Thầy Trí Quang, thủ lãnh Phật giáo tranh đấu lật đổ nền Cộng Hòa đã chối mình không làm chính trị, thì có đáng khinh bỉ hay không? Cao Huy Thuần tôn Trí Quang là vị Bồ Tát, thì có xứng đáng phỉ nhổ vào mặt tên Tiến sĩ ấy hay không?

Một giờ sau khi lãnh nhận bản án tử hình, trở lại nhà giam trung ương của tỉnh Thừa Thiên, ông Đông lấy giấy viết lá thư vĩnh biệt hiền thê dấu ái tên Margarita Thúy Toan như sau : “Tòa án cách mạng vừa kết án tử hình cho anh. Anh cố gắng cầm nước mắt để viết cho em những hàng chữ cuối cùng này, vì ngày còn lại cuộc đời anh nơi dương thế có thể đếm được trên các đầu ngón tay. Anh chỉ nghĩ đến duy nhất một mình em. Trong 5 tháng tù đày, hình ảnh em là suối nguồn mang niềm an ủi đến cho anh. Giờ đây đứng trước cái chết gần kề, anh giữ lại âu lo cho riêng mình và nguyện cầu cùng THIÊN CHÚA, Đức Mẹ MARIA ban cho chúng ta niềm an bình nội tâm và được hàn huyên lần cuối. Em yêu dấu, quả thực, không gì mạnh hơn tình yêu. Tình yêu xóa tan nỗi lo sợ cái chết gần kề. Tình yêu chiến thắng tất cả. Mấy tháng nay, anh cầu nguyện thật nhiều cùng Chúa và Mẹ Ngài, cùng Thánh Cả GIUSE và thánh nữ Magarita. Xin Các Ngài phù hộ chúng ta”.

Xin bạn đọc hãy lấy lương tâm trong sáng của mình để so sánh, lượng giá bức thư tuyệt mạng của văn hào Nhất Linh lên án chế độ Ngô Đình Diệm với bức thư của Thầy Đông viết cho vợ, mà không một lời phiền trách bọn phản bội giết oan ông, thì có thấy sự khác xa nhau một trời một vực giữa người chiến sĩ Chống Cộng có niềm tin Thiên Chúa với lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng kiêm nhà văn hóa viết tiểu thuyết luận đề không? Tôi đã ngậm ngùi thương tiếc thầy Phan Quang Đông và người nữ sinh Thúy Toan – đồng môn Quốc Học – khi đọc lại bức thư này.

Ông Ngô Đình Cẩn bị Tướng Đỗ Cao Trí – Tư lệnh Quân Khu I – giải giao về Sài Gòn và giao cho Quân Cách Mạng giam giữ. Chánh án xử ông Cẩn là Đại tá Đặng văn Quang, con đỡ đầu của mẹ Đức Cha Nguyễn văn Thuận và chị của ông Ngô Đình Cẩn. Luật sư bào chữa cho ông Cẩn là luật sư Võ văn Quang (nếu tôi nhớ không lầm). Ông Ngô Đình Cẩn bị bệnh tiểu đường rất nặng, khi bị tù không được cho thuốc uống, nên ông không ngồi dậy được. Theo luật nhân đạo quốc tế, không xử tử khi phạm nhân mắc trọng bệnh. Luật sư Quan viết đơn gửi lên Quốc trưởng Nguyễn Khánh xin ân xá. Nhưng Nguyễn Khánh vì sợ hãi quyền hành của Trí Quang, nên bác đơn. Vì vậy, Tổng thống Lyndon B. Johnson mới gọi bọn Tướng lãnh phản bội giết gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm là một lũ côn đồ (gang of thugs). Các chiến sĩ anh hùng VNCH nghĩ gì về các ông Tướng của mình?

Tướng Edwards Lansdale, một sĩ quan Không Quân, đổi sang làm việc cho CIA. Lansdale là người có công giúp Tổng thống Ramon Magsaysay của Phi Luật Tân tiễu trừ quân phiến loạn Cộng sản. Năm 1954, Lansdale sang Việt Nam giúp ông Diệm thuyết phục lãnh tụ Cao Đài, Hòa Hảo trở về hợp tác với Chính quyền. Năm 1960 Trung tá Vương văn Đông – một sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia, nhưng là tay sai của Thực dân Pháp – làm cuộc đảo chánh. Lansdale yêu cầu Tướng Khiêm đem quân về Thủ đô chống cuộc đảo chánh. Tổng thống Diệm tưởng rằng  Tướng Trần Thiện Khiêm trung thành với chế độ, nên thăng cho Tướng Khiêm làm Tham Mưu trưởng Liên Quân, được quyền tuyển chọn sĩ quan trung thành giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn đóng quân gần Sài Gòn để cứu giá trong trường hợp Sài Gòn có biến. Đại tá Nguyễn văn Thiệu là người bạn thân của Tướng Khiêm, nên được ông Khiêm đề cử làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Tháng 11 năm 1963, Sài Gòn có biến, Đại tá Nguyễn văn Thiệu đem quân về Thủ đô, nhưng áng binh bất động, chờ xem bên nào thắng thế thì ngã theo. Những Tướng lãnh sau khi đảo chánh Tổng thống Diệm vẫn còn tiếp tục đảo chánh, chỉnh lý liên tục đều bị cháy. Hai ông Trần Thiện Khiêm, Nguyễn văn Thiệu được ông Nguyễn văn Kiểu – anh ruột ông Thiệu – giới thiệu gia nhập đảng Đại Việt. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và kỹ sư Hà Thúc Ký nhận lời tuyên thệ của hai ông Thiệu, ông Khiêm trước bàn thờ Tổ Quốc và di ảnh cố đảng trưởng Trương Tử Anh. Chủ thuyết của đảng Đại Việt do đảng trưởng Trương Tử Anh viết ra là “Dân Tộc Sinh Tồn”. Ông Thiệu và ông Khiêm gia nhập đảng Đại Việt không phải vì lý tưởng Dân Tộc Sinh Tồn, mà có mục đích đầu cơ chính trị. Bằng cớ là sau đó, ông Thiệu âm thầm lập đảng Dân Chủ cho sự nghiệp của riêng mình.

Trong cuộc họp thống nhất Đại Việt năm 1988 tại tư gia người bạn cùng khóa phi công với tôi – anh Nguyễn Quan Vĩnh – tại Thành phố San Jose, bắc California, tôi nói: “Đảng Đại Việt có nhiều dịp cầm quyền, nhưng các anh lãnh đạo đảng không nghiêm túc, làm cho nước mất. Theo quy luật đảng, người nào tự ý rời bỏ đảng đều phải chịu kỷ luật. Ông Thiệu bỏ đảng Đại Việt, tự động lập ra đảng Dân Chủ cạnh tranh với Đại Việt, mà các anh không phản ứng, lại còn chia quyền với ông Thiệu, thì các anh đã làm mất tư thế lãnh đạo quần chúng. Những lãnh tụ Đại Việt có mặt trong buổi họp gồm có bác sĩ Đặng văn Sung, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Đại sứ Bùi Diễm, Kỹ sư Hà Thúc Ký đều đã qua đời. Nhưng Tiến sĩ Nguyễn văn Canh còn đó, sẽ chứng thực cho những gì tôi đã phát biểu trong buổi họp, hoặc anh chủ nhà Nguyễn Quan Vĩnh còn lưu giữ cuốn băng ghi âm buổi họp lịch sử ấy.

Cho đến nay vẫn còn có người trách ông Ngô Đình Diệm gia đình trị, đầu óc địa phương, chân tay bộ hạ đa số gốc Miền Trung. Năm 1959, sau khi đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” do cụ Hoàng văn Chí biên soạn, nói về Phong trào Nhân văn Giai Phẩm, tôi suy nghĩ rất nhiều và tự ý đi tìm một đảng có quá trình Chống Cộng để tham gia. Bởi vì Việt Cộng có tổ chức, thì mình phải gia nhập một tổ chức để chống lại âm mưu Việt Cộng thôn tính Miền Nam. Tôi gia nhập Đại Việt, vì đảng trưởng đảng này bị Việt Cộng giết, thì nhất định đảng sẽ quyết tâm diệt Cộng để báo thù. Vậy những gì tôi sắp sửa viết ra đây là từ một cựu đảng viên Đại Việt, chứ không phải bênh vực ông Diệm vì “hoài Ngô” như bọn dư đảng Ấn Quang chụp mũ tôi.

Ông Ngô Đình Diệm người Miền Trung, cựu quan lại của Triều đình Nhà Nguyễn ở Huế, tất nhiên ông cần người tâm phúc để đặt niềm tin. Đỗ Mậu gốc lính Khố Xanh, cùng quê Quảng Bình với ông Diệm, phục vụ dưới quyền Tổng Đốc Ngô Đình Khôi, anh ruột Tổng thống Diệm. Ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại vì Thực dân từ chối thi hành yêu sách của ông. Không còn chức vụ, ông Diệm không còn có lính hầu. Ông Ngô Đình Khôi biệt phái Đỗ Mậu sang kéo xe cho ông Diệm. Đỗ Mậu tỏ ra lễ phép, kính trọng vị quan thanh liêm Ngô Đình Diệm. Từ đó, tình thầy trò trở nên sâu đậm. Ông Diệm chọn ông Đỗ Mậu, một bề tôi tâm phúc của mình, làm Giám đốc An Ninh Quân Đội để làm tai mắt cho mình là hết sức đúng. Ai cũng làm như vậy thôi!

Nhân vật số 2 của chế độ là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, người Miền Nam. Nhân vật số 3 của chế độ là Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu, người Miền Bắc. Tại sao người dân tin vào sự tuyên truyền chia rẽ của Việt Cộng kết tội ông Diệm là nhà lãnh đạo có đầu óc địa phương?

Tiếc cho ông Diệm không cái kính chiếu yêu như Tề Thiên Đại Thánh để biết lòng dạ của thuộc cấp. Những kẻ chịu ơn mưa móc của ông Diệm đều phản ông. Đỗ Mậu là người đi móc nối các đơn vị trưởng chỉ huy Quân Đội để làm cuộc đảo chánh năm 1963. Trung tướng Tôn Thất Đính nhờ tài nịnh hót ông Cụ, lúc nào cũng xưng con với ông Diệm, nên cùng một lúc được trao ba chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Quân Đoàn III, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Tổng trấn Saigon – Gia Định. Nhưng Tướng Tôn Thất Đính lại là người phản bội đầu tiên, chịu trách nhiệm về cái chết tức tưởi của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kẻ phản bội được bầu làm Thượng Nghị sĩ Quốc Hội VNCH!

Dưới thời Tổng thống Eisenhower, báo chí Mỹ ca ngợi ông Diệm không tiếc lời. Sang thời Tổng thống Kennedy, báo chí tả khuynh bắt đầu chê bai ông Diệm. Nếu bất bình chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ thiếu gì cách để đẩy anh em ông Diệm ra khỏi vai trò lãnh đạo Miền Nam? Chẳng hạn, cúp viện trợ tài chánh thì ông Diệm lấy tiền đâu để trả lương cho quân nhân, công chức? Cúp viện trợ quân sự, không súng đạn, không có xăng dầu cho cho tàu thủy, tàu bay và xe cơ giới, chẳng lẽ Tổng thống Ngô Đình Diệm chống Cộng bằng hai bàn tay trắng được sao? Lucien Conein là nhân viên Tình Báo CIA, gốc Pháp có máu Thực dân, là người chủ chốt bỏ tiền ra mua chuộc một số Tướng lãnh phản phúc làm đảo chánh. Theo tường thuật của một vài sĩ quan tùy viên của các ông Tướng âm mưu đảo chánh như sau: “Lucien Conein tuy chỉ là Trung tá, nhưng tỏ ra hách dịch. Ông ta gác hai chân lên bàn, ngồi dựa ngửa vào thành ghế và ra lệnh cho mấy ông Tướng phải làm gì, làm gì”. Tôi tin lời kể của sĩ quan tùy viên, vì tôi từng lái máy bay chở mấy ông Tướng bị Tướng Nguyễn Khánh làm Chỉnh Lý bắt và đày ra Tiên Sa ở Vùng I. Các ông Tướng lúc sa cơ, mặt mũi thất thần khá tội nghiệp, chứ không còn cái vẻ oai vệ trước hàng quân dưới quyền.

Giết anh em ông Diệm, Hoa Kỳ đã tự tạo cho bạn Đồng Minh thấy rõ bộ mặt tàn ác của mình. Uy tín của Hoa Kỳ bắt đầu sa sút trên thế giới kể từ ngày đó. Chơi với Hoa Kỳ rất khó, bởi vì chính sách của Mỹ thay đổi tùy theo thời điểm đảng Cộng Hòa hay đảng Dân Chủ ngồi vào Tòa Bạch Ốc. Nhật Bản “chơi” với Mỹ dài lâu được là vì chính trị gia Nhật yêu nước, biết đặt quyền lợi nước Nhật lên trên hết, nên ngoại ban khó lòng mua chuộc. Truyền thống dân chủ Hoa Kỳ là “thăm dò dư luận” (Surveil hay Poll) để bắt mạch thời cuộc. Tôi bảo đảm rằng Hoa Kỳ đã thăm dò lãnh tụ của các đảng phái về Tổng thống Ngô Đình Diệm, thì ông nào cũng chê ông Diệm độc tài, gia đình trị để họ được là “ứng viên” (candidate) lọt vào mắt xanh của Mỹ. Tôi biết các bạn đọc cảm thấy đau lòng về sự kiện này, nhưng tôi nói ra thực trạng ấy để bạn đọc hiểu tại sao Việt Nam khó giành độc lập. Thủ phạm của tình trạng này là do bè lũ  bán nước Hồ Chí Minh mang về cái chủ nghĩa cộng sản áp đặt lên đầu dân ta. Không có cộng sản, thì làm gì có cuộc chiến tranh Việt Nam? Không có cộng sản thì dân Việt Nam đâu phải mang nỗi nhục mất nước?

Rất có thể bạn đọc cho rằng cái gì xấu xa, thối nát tôi đều đổ cho cộng sản? Không! Tôi không đổ tội cho cộng sản mà không có lý do. Nếu trí thức Việt Nam ta khi thấy Hồ Chí Minh nhận Trung Cộng – kẻ thù tiền kiếp của ta – làm anh em, thì tẩy chay ngay, đừng nhắm mắt cúi đầu phục vụ nó, làm sao Hồ Chí Minh có thể vận động toàn dân hy sinh xương máu giành độc lập? Sở dĩ trí thức Việt Nam trở nên ngu, là bởi vì lời nguyền rủa của những oan hồn người Chàm dùng quỷ sứ cộng sản để trả mối thù xưa. Ai có thể giải thích khác hơn về cái ngu của bọn trí thức Miền Nam trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng vừa qua, vui lòng giảng cho tôi hiểu, tôi xin cảm phục và cám ơn vô cùng. Đồng ý hay không đồng ý, các trí thức hãy lên tiếng đi! Nếu cứ ngậm miệng ăn tiền giống như Đại Tướng Trần Thiện Khiêm thì tám ngàn năm dân Việt Nam cũng không thể lớn được, chứ đừng nói bốn ngàn năm mà không lớn giống như cô giáo Trần thị Lam đã viết thành thơ.

Hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo. Xin quý bạn đọc kiên nhẫn theo dõi, vì đây là vấn đề tồn vong của nòi giống Việt Nam, xin đừng quên!

Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 18 tháng 6 năm 2022.

Địa chỉ Email: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600.