Search This Blog

Monday, May 19, 2025

CÁCH ĐÂY MỘT THẾ KỶ - NGUYÊN NGỌC

 

CÁCH ĐÂY MỘT THẾ KỶ, NHỮNG NGƯỜI KHỔNG LỒ.

 

Gần đây, do những chuyển động mới trong đời sống xã hội và hoạt động tích cực của những người tâm huyết, một số tác phẩm của nhiều người trước đây từng bị coi là “có vấn đề” đã được in và giới thiệu lại, đáng chú ý chẳng hạn những bài viết phong phú, sắc sảo và sinh động, cả cập nhật ngay đối với hôm nay nữa của Phan Khôi, hay những tác phẩm uyên thâm, thống thiết, và lạ thế, cũng cập nhật không kém của Phạm Quỳnh - một tập tiểu luận dịch từ nguyên bản tiếng Pháp của ông đang gây chú ý rộng rãi trong dư luận.

Một nhân vật đặc biệt khác cũng đang thu hút sự quan tâm của nhiều người nhiều giới: Nguyễn Văn Vĩnh. Theo chỗ tôi được biết một bộ phim tài liệu quý về cuộc đời và sự nghiệp của ông đang được chuẩn bị. Tôi có được xem một phần bản thảo phim ấy.

Mở đầu là một người cháu gái của Nguyễn Văn Vĩnh, nay chắc cũng đã quá tuổi tứ tuần, kể chuyện cách đây mấy mươi năm một hôm đi học về tủi thân và khóc ròng, lại gặp cơn mưa lớn, phải vào trú dưới mái hiên một nhà bên đường. Bà cụ chủ nhà thấy có cô học trò đứng dưới hiên nhà mình mà khóc, liền ra hỏi:

“Sao cháu khóc nhiều thế?”.

Cô bé sụt sùi:

“Sáng nay ở lớp cô giáo dạy rằng ông nội cháu là một tên đại Việt gian, tay sai, bồi bút cho thực dân Pháp, cháu buồn, cháu nhục quá…”.

“Vậy ông nội cháu là ai?”.

“Dạ, ông cháu là Nguyễn Văn Vĩnh ạ...”.

Bà cụ ôm chầm lấy cô bé:

“Trời ơi, cháu là cháu nội Tân Nam Tử ư? Ôi, cháu vào ngay đây với bà, cháu không việc gì phải khóc cả, Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất vĩ đại, mặc ai nói gì thì nói, cháu phải rất tự hào. Cháu có một người ông từng có công lớn lắm với đất nước này... Rồi xã hội cũng sẽ phải công bằng thôi, cháu ạ...”.

Quả thật ngày nay cuộc sống đã bắt đầu trả lại sự công bằng - muộn mằn và chậm chạp - cho nhân vật cao lớn đến kỳ lạ ấy của đất nước: một nhà văn, một nhà báo, một dịch giả, một nhà văn hóa lớn, hầu như lĩnh vực nào cũng là người khai phá và luôn ở hàng đầu, người sáng lập tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc, ông tổ của ngành in hiện đại ở nước ta, người đầu tiên thiết lập nền sân khấu hiện đại ở Việt Nam, và bằng những bài thơ dịch La Fontaine tuyệt vời, cũng là người đầu tiên phá vỡ thể thơ truyền thống, giải phóng thơ Việt ra khỏi khuôn khổ cổ cứng nhắc hàng nghìn năm, mở đường cho thơ mới ra đời, hiện đại hoá thơ Việt, cũng lại là một trong những người tiên phong sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục: một nhà khai sáng chói lọi của đất nước đầu Thế Kỷ XX…

Cuộc sống cũng đã và đang dần dần trả lại công bằng cho một số tên tuổi lớn từng bị soi rọi nhiều chục năm dưới những nguồn sáng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, và không ít người khác nữa, những tài năng xuất chúng, những nhà khai sáng lớn trong một thời kỳ chuyển động lịch sử quan trọng.

Một số nhân vật khác, ít gay cấn hơn, nhưng cũng từng bị hiểu sai, công khai hay lập lờ, bị gán cho những danh hiệu tuỳ tiện và quy chụp, hoặc bị quên lãng, đẩy xuống những hàng khuất lấp bất công, những Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Trương Gia Mô, Nguyễn Trọng Lợi, Huỳnh Tá Bang, Nguyễn Bá Trác..., nay người ít người nhiều, người sớm người muộn, người đã tương đối rõ ràng người còn phải tiếp tục làm sáng rõ, đã dần dần được đánh giá lại theo đúng tầm cỡ, vị trí và cống hiến của họ trong lịch sử cận đại và hiện đại...

Thời gian đang làm công việc lâu dài mà sòng phẳng của nó, không thế lực, cường quyền nào ngăn chặn được, bất chấp những tiếng la ó ngày càng lạc lõng của ai đó. Đời sống tinh thần, văn hóa, cả chính trị của đất nước vì thế ngày mỗi giàu thêm lên. Và được thụ hưởng là tất cả chúng ta, là nhân dân. Có lẽ còn hơn thế nữa, đây không chỉ là một sự khôi phục công bằng lịch sử lành mạnh. Còn có thể là một đóng góp không hề nhỏ cho chính sự phát triển nhiều triển vọng mà cũng đầy thách thức hôm nay. Bởi những thế hệ quá khứ không chỉ đã đóng trọn vai trò hoá ra là hết sức to lớn của họ, họ còn có thể tham gia trực tiếp vào cuộc đi tới hôm nay của chúng ta, bằng những bài học còn nóng hổi, nếu ta biết từ họ mà đối chiếu và ngẫm nghĩ, từ đó tính lại bao nhiêu công việc của chúng ta bây giờ.

CÁCH ĐÂY MỘT THẾ KỶ, NHỮNG NGƯỜI KHỔNG LỒ.

 

Gần đây, do những chuyển động mới trong đời sống xã hội và hoạt động tích cực của những người tâm huyết, một số tác phẩm của nhiều người trước đây từng bị coi là “có vấn đề” đã được in và giới thiệu lại, đáng chú ý chẳng hạn những bài viết phong phú, sắc sảo và sinh động, cả cập nhật ngay đối với hôm nay nữa của Phan Khôi, hay những tác phẩm uyên thâm, thống thiết, và lạ thế, cũng cập nhật không kém của Phạm Quỳnh - một tập tiểu luận dịch từ nguyên bản tiếng Pháp của ông đang gây chú ý rộng rãi trong dư luận.

Một nhân vật đặc biệt khác cũng đang thu hút sự quan tâm của nhiều người nhiều giới: Nguyễn Văn Vĩnh. Theo chỗ tôi được biết một bộ phim tài liệu quý về cuộc đời và sự nghiệp của ông đang được chuẩn bị. Tôi có được xem một phần bản thảo phim ấy.

Mở đầu là một người cháu gái của Nguyễn Văn Vĩnh, nay chắc cũng đã quá tuổi tứ tuần, kể chuyện cách đây mấy mươi năm một hôm đi học về tủi thân và khóc ròng, lại gặp cơn mưa lớn, phải vào trú dưới mái hiên một nhà bên đường. Bà cụ chủ nhà thấy có cô học trò đứng dưới hiên nhà mình mà khóc, liền ra hỏi:

“Sao cháu khóc nhiều thế?”.

Cô bé sụt sùi:

“Sáng nay ở lớp cô giáo dạy rằng ông nội cháu là một tên đại Việt gian, tay sai, bồi bút cho thực dân Pháp, cháu buồn, cháu nhục quá…”.

“Vậy ông nội cháu là ai?”.

“Dạ, ông cháu là Nguyễn Văn Vĩnh ạ...”.

Bà cụ ôm chầm lấy cô bé:

“Trời ơi, cháu là cháu nội Tân Nam Tử ư? Ôi, cháu vào ngay đây với bà, cháu không việc gì phải khóc cả, Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất vĩ đại, mặc ai nói gì thì nói, cháu phải rất tự hào. Cháu có một người ông từng có công lớn lắm với đất nước này... Rồi xã hội cũng sẽ phải công bằng thôi, cháu ạ...”.

Quả thật ngày nay cuộc sống đã bắt đầu trả lại sự công bằng - muộn mằn và chậm chạp - cho nhân vật cao lớn đến kỳ lạ ấy của đất nước: một nhà văn, một nhà báo, một dịch giả, một nhà văn hóa lớn, hầu như lĩnh vực nào cũng là người khai phá và luôn ở hàng đầu, người sáng lập tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc, ông tổ của ngành in hiện đại ở nước ta, người đầu tiên thiết lập nền sân khấu hiện đại ở Việt Nam, và bằng những bài thơ dịch La Fontaine tuyệt vời, cũng là người đầu tiên phá vỡ thể thơ truyền thống, giải phóng thơ Việt ra khỏi khuôn khổ cổ cứng nhắc hàng nghìn năm, mở đường cho thơ mới ra đời, hiện đại hoá thơ Việt, cũng lại là một trong những người tiên phong sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục: một nhà khai sáng chói lọi của đất nước đầu Thế Kỷ XX…

Cuộc sống cũng đã và đang dần dần trả lại công bằng cho một số tên tuổi lớn từng bị soi rọi nhiều chục năm dưới những nguồn sáng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, và không ít người khác nữa, những tài năng xuất chúng, những nhà khai sáng lớn trong một thời kỳ chuyển động lịch sử quan trọng.

Một số nhân vật khác, ít gay cấn hơn, nhưng cũng từng bị hiểu sai, công khai hay lập lờ, bị gán cho những danh hiệu tuỳ tiện và quy chụp, hoặc bị quên lãng, đẩy xuống những hàng khuất lấp bất công, những Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Trương Gia Mô, Nguyễn Trọng Lợi, Huỳnh Tá Bang, Nguyễn Bá Trác..., nay người ít người nhiều, người sớm người muộn, người đã tương đối rõ ràng người còn phải tiếp tục làm sáng rõ, đã dần dần được đánh giá lại theo đúng tầm cỡ, vị trí và cống hiến của họ trong lịch sử cận đại và hiện đại...

Thời gian đang làm công việc lâu dài mà sòng phẳng của nó, không thế lực, cường quyền nào ngăn chặn được, bất chấp những tiếng la ó ngày càng lạc lõng của ai đó. Đời sống tinh thần, văn hóa, cả chính trị của đất nước vì thế ngày mỗi giàu thêm lên. Và được thụ hưởng là tất cả chúng ta, là nhân dân. Có lẽ còn hơn thế nữa, đây không chỉ là một sự khôi phục công bằng lịch sử lành mạnh. Còn có thể là một đóng góp không hề nhỏ cho chính sự phát triển nhiều triển vọng mà cũng đầy thách thức hôm nay. Bởi những thế hệ quá khứ không chỉ đã đóng trọn vai trò hoá ra là hết sức to lớn của họ, họ còn có thể tham gia trực tiếp vào cuộc đi tới hôm nay của chúng ta, bằng những bài học còn nóng hổi, nếu ta biết từ họ mà đối chiếu và ngẫm nghĩ, từ đó tính lại bao nhiêu công việc của chúng ta bây giờ.

Riêng tôi, từ ít lâu nay, tôi vẫn thường trở đi trở lại với một câu hỏi: Tại sao hồi đầu TK.XX chúng ta lại có được một thế hệ những người khổng lồ như vậy, trong văn hóa, tức là ở cái nền tảng cơ bản nhất của tất cả, mà hình như ngày nay chúng ta lại không có, không còn có được? Những điều kiện lịch sử nào và những nỗ lực cá nhân nào đã tạo nên “thế hệ vàng” ấy của văn hóa Việt Nam vào đúng thời điểm vô cùng quan trọng mà chắc rồi chúng ta còn phải nhiều lần trở lại công phu tìm hiểu, nghiên cứu?

Trong nhiều yếu tố, nhiều nguyên nhân, phải chăng có một nguyên nhân hết sức quan trọng, thậm chí quyết định này: thế hệ ấy có một lợi thế đặc biệt, họ là một thế hệ đa văn hóa. Đặc điểm quan trọng nhất của họ là từ Hán học chuyển sang Tây học. Một nền Hán học rất uyên thâm, mà trước nay ta quá dễ hời hợt coi thường, khinh miệt, chế giễu, cả lên án nữa. Về điều này, lâu nay tôi nghĩ có hơi khác một chút.

Tôi đã thử đặt câu hỏi: nền đại học nào đã tạo nên những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Đào Nguyên Phổ, Ngô Đức Kế, Trần Cao Vân, Đặng Nguyên Cẩn…, cả những Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu…?

Chính là nền đại học “phong kiến” vào một thời kỳ mạt vận nhất của chế độ ấy tức nhà Nguyễn.

Vậy hóa ra nền đại học ấy không hề tầm thường chút nào, ít ra cũng không tầm thường hơn nền đại học ta đang có hiện nay. Họ học gì? Tứ Thư, Ngũ Kinh. Và Tứ Thư, Ngũ Kinh là gì? Đấy là trí tuệ cao nhất, tập trung, cô đúc nhất của thời trung đại phương Đông. Họ không học tràn lan như chúng ta bây giờ, vơ cho kỳ hết đủ thứ, bỏ cái gì cũng sợ thiếu, đến nỗi học trò lớp một phổ thông đã phải vẹo cả cột sống với chiếc cặp sách khốn khổ của bộ Giáo dục trên lưng! Họ chỉ học rất ít, chắt lọc lấy cái cơ bản nhất mà học, học cho đến nhuần nhuyễn, để rồi từ cái cơ bản đó mà đủ sức tự mình vận dụng hành xử trong mọi tình huống suốt đời.

Có lẽ cũng chính vì vậy mà có một điểm rất đáng chú ý: chính những người giỏi nhất trong số họ, những nhà Hán học uyên thâm nhất lại là những người được nền học vấn ấy tạo nên trí tuệ và ý chí độc lập hết sức mạnh mẽ để dám và biết cách từ bỏ thầy, từ bỏ sách, đạp đổ cái cũ, chống lại chính cái đã học, đi trên cái mới, tự giải phóng cho trí tuệ của mình và cho đất nước, dân tộc. Nghĩa là họ học để trở thành người độc lập, tự chủ, chứ không phải thành người nô lệ, nô lệ cho những giáo điều bất khả xâm phạm, như ta từng lầm tưởng. Người nổi bật nhất trong số đó và xu hướng đó là Phan Châu Trinh, mà Huỳnh Thúc Kháng đã đánh giá xác đáng là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Vậy thì, nghịch lý thay, nền giáo dục đó rất hiện đại: nó tạo nên không phải những đầu óc được nhồi sọ u tối mà là những nhân cách độc lập, tất nhiên, như bao giờ cũng vậy, ở bộ phận ưu tú nhất của nó…

Những con người đó lại gặp một chuyển đổi thời đại hết sức quan trọng, khi Việt Nam, và cả phương Đông đối mặt với phương Tây, khi diễn ra sự gặp gỡ và va chạm quyết định giữa hai nền văn hóa, văn minh lớn của nhân loại. Những phần tử sáng suốt nhất trong Hán học đã chuyển sang Tây học, dũng cảm, quyết liệt. Có điều thoạt thấy rất lạ: chính thế hệ Tây học đầu tiên đó lại là những nhà Tây học rất sâu.

Vì sao?

Phải chăng chính là vì họ xuất phát từ Hán học cũng rất sâu. Đây là sự gặp gỡ giữa hai đỉnh cao, từ đỉnh cao này họ nhìn ngắm đỉnh cao kia, từ đỉnh cao này họ đến với đỉnh cao kia. Trong họ là sự kết nối hai nền văn hóa lớn nhất của nhân loại, vấn đề của họ luôn là vấn đề của sự kết nối đó, những khả năng, những khó khăn, thách thức, những lời giải cố tìm cho sự kết nối đó.

Hãy đọc kỹ lại, chẳng hạn Phan Khôi. Thật đáng kinh ngạc vì tri thức bác học cả Đông lẫn Tây của ông, hầu như không có lĩnh vực nào bị ông bỏ qua, không vấn đề lớn nhỏ nào không được ông quan tâm, đề cập và dù chỉ một bài báo nhỏ của ông cũng là một công trình nghiên cứu công phu, trung thực, thậm chí khá cơ bản. Ông cũng là người đầu tiên dịch Kinh Thánh. Vì sao ông bỏ công sức lớn để làm công việc khó khăn và thoạt trông rất lạ đó, dầu ông không hề là người Công giáo? Có thể, một là ông dịch để học, hai là, và điều này còn quan trọng hơn, ông hiểu rất sâu rằng đấy là một tác phẩm lớn, cội nguồn của văn hóa phương Tây. Ông muốn tìm đến văn hóa phương Tây ở tận cội nguồn của nó…

Tôi cũng thường chú ý đến Huỳnh Thúc Kháng, một nhân vật có lẽ chúng ta cũng chưa để tâm nghiên cứu đầy đủ và đánh giá thật xác đáng. Thường được nhắc đến giai thoại về việc Huỳnh Thúc Kháng học tiếng Pháp: ông học trong nhà tù Côn Đảo, bằng cách học thuộc lòng từ đầu đến cuối toàn bộ cuốn từ điển Larousse!

Có điều đáng ngạc nhiên: văn quốc ngữ của Huỳnh Thúc Kháng rất hay, tôi đọc đi đọc lại ông và cuối cùng nhận ra điều này: hoá ra đấy là lối viết văn quốc ngữ mà chỉ có những người thông thạo Hán học chuyển sang Tây học mới có được; một lối tư duy khúc chiết, chặt chẽ, sáng sủa của lý tính phương Tây mà họ quyết chiếm lĩnh, kết hợp với một lối suy tư và diễn đạt súc tích đến không thừa một chữ, nghĩa ẩn trong chữ, sau chữ, giữa các dòng của người phương Đông. Nói về tính cách độc lập vô cùng mạnh mẽ của Phan Châu Trinh và việc Phan Châu Trinh sáng suốt tìm ra con đường mới từ Tân thư chẳng hạn, Huỳnh Thúc Kháng viết, cực gọn mà sắc, lại đầy hình ảnh:

“Tiên sinh đọc sách có con mắt riêng”.

Và đây là tuyên ngôn dõng dạc của ông trên số báo Tiếng Dân đầu tiên trong điều kiện làm báo dưới chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. Khí tiết và văn phong, cô lại đến đậm đặc và sắc tựa gươm chỉ trong một dòng!...

Cũng không thể không nhắc đến Phạm Quỳnh. Sau nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, cuốn tiểu luận viết bằng tiếng Pháp từ năm 1922 đến năm 1932 của ông vừa được dịch và in là một hiện tượng xuất bản năm qua. Mối ưu tư thống thiết của ông cố đi trên một con đường cho dân tộc trong cuộc va chạm dữ dội và chấn động giữa hai thế giới Đông Tây, lạ thế, đọc cứ như đang nghe ông nói về chính những vấn đề của hôm nay. Sức nghĩ của con người có thể vượt thời gian đến thế, thật khó ngờ!...

Và về Nguyễn Văn Vĩnh, chỉ xin nói một khía cạnh “nhỏ” này: sự nghiệp dịch thuật, cũng như tất cả các hoạt động sôi nổi của ông trong mọi lĩnh vực khác, đều có tính tiên phong và ngay từ đầu đã rất đặc sắc Nguyễn Văn Vĩnh có một quan niệm thâm thuý về dịch thuật. Ông dịch là để đem về cho đồng bào mình những giá trị văn hóa lớn của nhân loại, điều vô cùng cần thiết, thậm chí khẩn cấp trong công cuộc khai hoá dân tộc mà ông thống thiết theo đuổi suốt đời. Nhưng không chỉ có thế: ông chủ trương đẩy mạnh dịch thuật một mặt là để chứng minh khả năng giàu có của tiếng Việt đồng thời cũng còn là để góp phần hiện đại hoá ngôn ngữ dân tộc, làm cho ngôn ngữ ấy - và qua đó, tất nhiên, cả người Việt, dân tộc Việt - được tăng cường thêm các khả năng chiếm lĩnh những thành quả văn hóa, văn minh cao nhất và cập nhật nhất của nhân loại. Hiện đại biết bao quan niệm và tư duy đó, và tha thiết, sâu đậm biết bao tấm lòng yêu nước của thế hệ dân tộc ta từng có được thời bấy giờ…

Quả thực, hồi đầu TK,XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi.

Thế hệ ưu tú đó đã đi qua. Cần tiếp tục sự minh định công bằng của lịch sử đối với họ. Nhưng điều còn quan trọng hơn, cần tìm biết vì sao thời ấy đất nước khó khăn hơn bây giờ biết bao nhiêu lần, mà lại xuất hiện được thế hệ đặc sắc ấy.

Và bây giờ thì chưa có lại được.

Vì sao? Có quy luật gì ở đây chăng?

Tôi tin rằng có. Có một quy luật: nhất thiết phải đa văn hóa. Phải tìm mọi cách để, như cha ông ta cách đây đúng một thế kỷ, làm chủ được những đỉnh cao của văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây. Không thể, như do cạn cợt và thiển cận suốt một thời gian khá dài, chúng ta đã làm thế nào đó để mà cuối cùng đánh mất cả Đông lẫn Tây, Đông không còn mà Tây cũng vứt đi hết, Đông không ra Đông - Tây không ra Tây. Chỉ còn trơ khấc cái được gọi là “dân tộc” kỳ thực là tước đi hết của dân tộc tất cả những tiếp thụ phong phú và cần thiết cho chính cái “dân tộc” đó là một dân tộc giàu có vì liên thông với những đỉnh cao nhất của tinh thần và trí tuệ nhân loại.

Cải cách giáo dục, cả cải cách xã hội nữa, phải được đặt trên nền tảng của một tầm nhìn lớn, rất xa và rất rộng, những lạ thay và kỳ diệu thay, những người khổng lồ đầu TK.XX của chúng ta đã thật anh minh nhìn ra và thiết kế cho đất nước này.

Nguyên Ngọc

 

 

 

Trong nhiều yếu tố, nhiều nguyên nhân, phải chăng có một nguyên nhân hết sức quan trọng, thậm chí quyết định này: thế hệ ấy có một lợi thế đặc biệt, họ là một thế hệ đa văn hóa. Đặc điểm quan trọng nhất của họ là từ Hán học chuyển sang Tây học. Một nền Hán học rất uyên thâm, mà trước nay ta quá dễ hời hợt coi thường, khinh miệt, chế giễu, cả lên án nữa. Về điều này, lâu nay tôi nghĩ có hơi khác một chút.

Tôi đã thử đặt câu hỏi: nền đại học nào đã tạo nên những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Đào Nguyên Phổ, Ngô Đức Kế, Trần Cao Vân, Đặng Nguyên Cẩn…, cả những Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu…?

Chính là nền đại học “phong kiến” vào một thời kỳ mạt vận nhất của chế độ ấy tức nhà Nguyễn.

Vậy hóa ra nền đại học ấy không hề tầm thường chút nào, ít ra cũng không tầm thường hơn nền đại học ta đang có hiện nay. Họ học gì? Tứ Thư, Ngũ Kinh. Và Tứ Thư, Ngũ Kinh là gì? Đấy là trí tuệ cao nhất, tập trung, cô đúc nhất của thời trung đại phương Đông. Họ không học tràn lan như chúng ta bây giờ, vơ cho kỳ hết đủ thứ, bỏ cái gì cũng sợ thiếu, đến nỗi học trò lớp một phổ thông đã phải vẹo cả cột sống với chiếc cặp sách khốn khổ của bộ Giáo dục trên lưng! Họ chỉ học rất ít, chắt lọc lấy cái cơ bản nhất mà học, học cho đến nhuần nhuyễn, để rồi từ cái cơ bản đó mà đủ sức tự mình vận dụng hành xử trong mọi tình huống suốt đời.

Có lẽ cũng chính vì vậy mà có một điểm rất đáng chú ý: chính những người giỏi nhất trong số họ, những nhà Hán học uyên thâm nhất lại là những người được nền học vấn ấy tạo nên trí tuệ và ý chí độc lập hết sức mạnh mẽ để dám và biết cách từ bỏ thầy, từ bỏ sách, đạp đổ cái cũ, chống lại chính cái đã học, đi trên cái mới, tự giải phóng cho trí tuệ của mình và cho đất nước, dân tộc. Nghĩa là họ học để trở thành người độc lập, tự chủ, chứ không phải thành người nô lệ, nô lệ cho những giáo điều bất khả xâm phạm, như ta từng lầm tưởng. Người nổi bật nhất trong số đó và xu hướng đó là Phan Châu Trinh, mà Huỳnh Thúc Kháng đã đánh giá xác đáng là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Vậy thì, nghịch lý thay, nền giáo dục đó rất hiện đại: nó tạo nên không phải những đầu óc được nhồi sọ u tối mà là những nhân cách độc lập, tất nhiên, như bao giờ cũng vậy, ở bộ phận ưu tú nhất của nó…

Những con người đó lại gặp một chuyển đổi thời đại hết sức quan trọng, khi Việt Nam, và cả phương Đông đối mặt với phương Tây, khi diễn ra sự gặp gỡ và va chạm quyết định giữa hai nền văn hóa, văn minh lớn của nhân loại. Những phần tử sáng suốt nhất trong Hán học đã chuyển sang Tây học, dũng cảm, quyết liệt. Có điều thoạt thấy rất lạ: chính thế hệ Tây học đầu tiên đó lại là những nhà Tây học rất sâu.

Vì sao?

Phải chăng chính là vì họ xuất phát từ Hán học cũng rất sâu. Đây là sự gặp gỡ giữa hai đỉnh cao, từ đỉnh cao này họ nhìn ngắm đỉnh cao kia, từ đỉnh cao này họ đến với đỉnh cao kia. Trong họ là sự kết nối hai nền văn hóa lớn nhất của nhân loại, vấn đề của họ luôn là vấn đề của sự kết nối đó, những khả năng, những khó khăn, thách thức, những lời giải cố tìm cho sự kết nối đó.

Hãy đọc kỹ lại, chẳng hạn Phan Khôi. Thật đáng kinh ngạc vì tri thức bác học cả Đông lẫn Tây của ông, hầu như không có lĩnh vực nào bị ông bỏ qua, không vấn đề lớn nhỏ nào không được ông quan tâm, đề cập và dù chỉ một bài báo nhỏ của ông cũng là một công trình nghiên cứu công phu, trung thực, thậm chí khá cơ bản. Ông cũng là người đầu tiên dịch Kinh Thánh. Vì sao ông bỏ công sức lớn để làm công việc khó khăn và thoạt trông rất lạ đó, dầu ông không hề là người Công giáo? Có thể, một là ông dịch để học, hai là, và điều này còn quan trọng hơn, ông hiểu rất sâu rằng đấy là một tác phẩm lớn, cội nguồn của văn hóa phương Tây. Ông muốn tìm đến văn hóa phương Tây ở tận cội nguồn của nó…

Tôi cũng thường chú ý đến Huỳnh Thúc Kháng, một nhân vật có lẽ chúng ta cũng chưa để tâm nghiên cứu đầy đủ và đánh giá thật xác đáng. Thường được nhắc đến giai thoại về việc Huỳnh Thúc Kháng học tiếng Pháp: ông học trong nhà tù Côn Đảo, bằng cách học thuộc lòng từ đầu đến cuối toàn bộ cuốn từ điển Larousse!

Có điều đáng ngạc nhiên: văn quốc ngữ của Huỳnh Thúc Kháng rất hay, tôi đọc đi đọc lại ông và cuối cùng nhận ra điều này: hoá ra đấy là lối viết văn quốc ngữ mà chỉ có những người thông thạo Hán học chuyển sang Tây học mới có được; một lối tư duy khúc chiết, chặt chẽ, sáng sủa của lý tính phương Tây mà họ quyết chiếm lĩnh, kết hợp với một lối suy tư và diễn đạt súc tích đến không thừa một chữ, nghĩa ẩn trong chữ, sau chữ, giữa các dòng của người phương Đông. Nói về tính cách độc lập vô cùng mạnh mẽ của Phan Châu Trinh và việc Phan Châu Trinh sáng suốt tìm ra con đường mới từ Tân thư chẳng hạn, Huỳnh Thúc Kháng viết, cực gọn mà sắc, lại đầy hình ảnh:

“Tiên sinh đọc sách có con mắt riêng”.

Và đây là tuyên ngôn dõng dạc của ông trên số báo Tiếng Dân đầu tiên trong điều kiện làm báo dưới chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. Khí tiết và văn phong, cô lại đến đậm đặc và sắc tựa gươm chỉ trong một dòng!...

Cũng không thể không nhắc đến Phạm Quỳnh. Sau nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, cuốn tiểu luận viết bằng tiếng Pháp từ năm 1922 đến năm 1932 của ông vừa được dịch và in là một hiện tượng xuất bản năm qua. Mối ưu tư thống thiết của ông cố đi trên một con đường cho dân tộc trong cuộc va chạm dữ dội và chấn động giữa hai thế giới Đông Tây, lạ thế, đọc cứ như đang nghe ông nói về chính những vấn đề của hôm nay. Sức nghĩ của con người có thể vượt thời gian đến thế, thật khó ngờ!...

Và về Nguyễn Văn Vĩnh, chỉ xin nói một khía cạnh “nhỏ” này: sự nghiệp dịch thuật, cũng như tất cả các hoạt động sôi nổi của ông trong mọi lĩnh vực khác, đều có tính tiên phong và ngay từ đầu đã rất đặc sắc Nguyễn Văn Vĩnh có một quan niệm thâm thuý về dịch thuật. Ông dịch là để đem về cho đồng bào mình những giá trị văn hóa lớn của nhân loại, điều vô cùng cần thiết, thậm chí khẩn cấp trong công cuộc khai hoá dân tộc mà ông thống thiết theo đuổi suốt đời. Nhưng không chỉ có thế: ông chủ trương đẩy mạnh dịch thuật một mặt là để chứng minh khả năng giàu có của tiếng Việt đồng thời cũng còn là để góp phần hiện đại hoá ngôn ngữ dân tộc, làm cho ngôn ngữ ấy - và qua đó, tất nhiên, cả người Việt, dân tộc Việt - được tăng cường thêm các khả năng chiếm lĩnh những thành quả văn hóa, văn minh cao nhất và cập nhật nhất của nhân loại. Hiện đại biết bao quan niệm và tư duy đó, và tha thiết, sâu đậm biết bao tấm lòng yêu nước của thế hệ dân tộc ta từng có được thời bấy giờ…

Quả thực, hồi đầu TK,XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi.

Thế hệ ưu tú đó đã đi qua. Cần tiếp tục sự minh định công bằng của lịch sử đối với họ. Nhưng điều còn quan trọng hơn, cần tìm biết vì sao thời ấy đất nước khó khăn hơn bây giờ biết bao nhiêu lần, mà lại xuất hiện được thế hệ đặc sắc ấy.

Và bây giờ thì chưa có lại được.

Vì sao? Có quy luật gì ở đây chăng?

Tôi tin rằng có. Có một quy luật: nhất thiết phải đa văn hóa. Phải tìm mọi cách để, như cha ông ta cách đây đúng một thế kỷ, làm chủ được những đỉnh cao của văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây. Không thể, như do cạn cợt và thiển cận suốt một thời gian khá dài, chúng ta đã làm thế nào đó để mà cuối cùng đánh mất cả Đông lẫn Tây, Đông không còn mà Tây cũng vứt đi hết, Đông không ra Đông - Tây không ra Tây. Chỉ còn trơ khấc cái được gọi là “dân tộc” kỳ thực là tước đi hết của dân tộc tất cả những tiếp thụ phong phú và cần thiết cho chính cái “dân tộc” đó là một dân tộc giàu có vì liên thông với những đỉnh cao nhất của tinh thần và trí tuệ nhân loại.

Cải cách giáo dục, cả cải cách xã hội nữa, phải được đặt trên nền tảng của một tầm nhìn lớn, rất xa và rất rộng, những lạ thay và kỳ diệu thay, những người khổng lồ đầu TK.XX của chúng ta đã thật anh minh nhìn ra và thiết kế cho đất nước này.

Nguyên Ngọc

 

 

 

Wednesday, May 14, 2025

ĐẢNG DÂN CHỦ CHỊU MỞ MẮT CHƯA - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

ĐẢNG DÂN CHỦ CHỊU MỞ MẮT CHƯA ?

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU.

Trong tất cả Tướng lĩnh Hoa Kỳ, chỉ có hai vị Tướng hiểu rõ hiểm họa của chủ nghĩa Marx hơn cả. Đó là Tướng George Patton và Tướng Douglas MacArthur. Năm 1945, sau khi giải phóng Berlin xong, Tướng Patton đề nghị với Tổng thống Truman cho phép ông sử dụng Quân Đức đánh thẳng sang Moscow để giải phóng dân tộc Nga thoát ách Cộng sản. Nhưng Tổng thống Truman không chấp thuận. Chẳng biết sau đó Tướng Patton chết vì tai nạn xe hơi hay do một âm mưu của tổ chức bí mật nào đó? Tháng Giêng năm 1951, Tướng MacArthur đề nghị Tổng thống Truman cho phép ông mở rộng Chiến tranh Triều Tiên sang Trung Quốc, bao gồm cả việc ném bom Mãn Châu và hỗ trợ Tưởng Giới Thạch trở về Đại lục. Tướng MacArthur tin tưởng ông thừa sức diệt các Lộ Quân của Mao Trạch Đông khôi phục chính quyền dân chủ cho Tưởng Giới Thạch. Nhưng Tổng thống Truman không chấp thuận, vì lo sợ chiến tranh lan rộng và viện cớ chế ngự con gấu Bắc Cực (tức là Liên Xô), thì cần có Con Rồng Châu Á (tức là Mao Trạch Đông). Nhưng tôi không tin vì nguyên do đó, mà Tổng thống Truman không cho phép Tướng MacArthur tấn công Mao Trạch Đông. Tại sao? Tôi nghi ngờ rằng dường như có một thế lực nào đó cố vấn cho Tổng thống Truman đừng diệt Cộng sản Tàu.

Tướng Patton và Tướng MacArthur có viễn kiến hơn Tổng thống Harry Truman, vì hai ông thấy trước rằng đối với Cộng sản, chỉ có biện pháp duy nhất là tiêu diệt nó bằng quân sự, chứ không thể dung túng nó trong một quốc gia dân chủ. Tại sao? Tại vì Cộng sản không phải là một chủ thuyết chính trị có mục đích đấu tranh cho dân nghèo thấp cổ bé miệng, để xây dựng một xã hội công bằng, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu. Đó là sự tuyên truyền bịp bợm, dối trá dùng để đánh lừa những bộ óc ngây thơ. Thực chất của chủ nghĩa Cộng sản là có mục đích đánh đổ nền văn minh Kitô giáo và biến con người thành súc vật để dễ bề thống trị.

Hai ngàn năm trước, người con duy nhất của Thượng Đế Chúa Jesus Christ xuống trần gian để dạy cho con cái Ngài về tình Yêu Thương tuyệt đối (đến độ bị kẻ thù tát vào má, thì đưa luôn má bên kia cho kẻ thù tát) và để chống lại bọn giả hình, bọn thu thuế. Nhưng bọn “Pharasees” không chấp nhận Chúa Jesus là Đấng Cứu thế. Cho nên, các giáo sĩ Do Thái vận động quần chúng áp lực quan Tổng Trấn Pilate ra lệnh đóng đinh Chúa Jesus lên cây thập tự giá.

Sau đó, dân Do Thái bị mất nước, lưu lạc khắp nơi và bị các dân tộc Âu Châu theo Kitô giáo khinh bỉ, bách hại. Vì thế, ông Do Thái Karl Marx lập ra đạo Cộng sản để trả thù Chúa Jesus.

Ông Do Thái Vladimir Lenin dạy tín đồ Cộng sản: Chúng ta phải căm thù – Lòng căm thù là điều cơ bản của Chủ nghĩa Cộng sản. Trẻ con phải được dạy để chúng biết căm thù cha mẹ của chúng, nếu cha mẹ của chúng không phải là những người Cộng sản”.

Hoa Kỳ là Quốc gia thờ Chúa Jesus, lấy câu “In God We Trust” làm tín lý để xây lên chế độ dân chủ, nhân bản. Sự sai lầm của Hoa Kỳ là cho phép đảng Cộng sản nuôi lòng căm thù Chúa Jesus hoạt động tại Quốc gia mình. Vào ngày lễ Lao động Quốc tế 1 tháng 5, đảng Cộng sản khai trương tại số nhà 235 W. 23th Street, Thành phố New York, Tiểu bang New York. Tên tờ báo là People’s World (Nhân Dân Thế Giới). Danh xưng là Liên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hoa Kỳ.

Năm 1945, nhà báo George Orwell xuất bản cuốn sách Trại Súc Vật để mô tả xã hội Cộng sản. Thế mà thành phần trí thức như triết gia Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell và nghệ sĩ lừng danh như Charlie Chaplin, Pablo Picasso lại tán tụng chủ nghĩa Cộng sản hết mình. Jean-Paul Sartre còn để lại cho đời câu nói bất hủ: “Kẻ nào chống chủ nghĩa Cộng sản là đồ con chó”. Cho đến khi chứng kiến nạn thuyền nhân Việt Nam trốn chạy Việt Cộng bị hải tặc hãm hiếp, Jean-Paul Sartre mới tỉnh ngộ, vận động nữ danh ca phản chiến Hoa Kỳ là Joan Baez cùng một trăm nhà trí thức phản chiến ký bản cáo trạng lên án tính man rợ của Cộng sản Việt Nam (Việt Cộng).

Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới chống Chủ nghĩa Cộng sản. Trớ trêu thay! Hoa Kỳ lại nuôi dưỡng con quỷ Cộng sản tại quốc gia mình. Giới khoa bảng, nghệ sĩ danh tiếng có thói làm dáng là phải tả khuynh thì mới đáng được coi là người trí thức. Do đó, bọn cán bộ tuyên truyền Cộng sản đã dần dần nhồi nhét vào đầu óc thanh niên (các nhà lãnh đạo tương lai) lối sống phóng túng.

Rất có thể Tổng thống John Kennedy bị “Deep State” thanh toán, bởi vì đọc bài diễn văn trong buổi lễ tuyên thệ có câu “Ask not what your country can do for you – ask what you can do for your country” để kêu gọi lòng yêu nước của thanh niên, tức là đi ngược lại chủ trương “Vô Tổ Quốc” của Cộng sản. Phải “Vô Tổ Quốc” thì mới thực hiện được “Thế giới đại đồng”

Tỷ phú Donald Trump là một nhà ái quốc bén nhạy chẳng khác gì hai ông Tướng George Patton và Tướng Douglas MacArthur. Từ năm 1995, khi trả lời cuộc phỏng vấn của Oprah Winfrey và Larry King, nhà tỷ phú Donald  Trump đã tỏ ra ưu tư về sự xuống dốc của Hoa Kỳ.

Bà Oprah Winfrey hỏi ông có tính ra tranh cử Tổng thống để phục hồi sức mạnh của nước Mỹ, ông trả lời: “Không! Tôi rất hạnh phúc với những công việc của tôi đang làm. Tôi trông chờ có một lãnh tụ yêu nước xuất hiện để làm công việc cứu nước!”

Tháng 9 ngày 11 năm 2001, xảy ra vụ khủng bố do những chiến binh Hồi Giáo quá khích dùng phi cơ thương mại đâm vào Pentagon và Twin Towers. Câu hỏi đặt ra: “Tại sao sự kiện khủng khiếp đó xảy ra vào Tháng 9 Ngày 11”? Tôi đã tự đặt câu hỏi đó cho mình rất nhiều lần. Phải chăng Chúa báo trước cho nhân dân Hoa Kỳ điều gì? Bởi vì “một sợi tóc rơi là ý Chúa”, thì không lẽ con số “911” là tình cờ? Con số “911” mà người Hoa Kỳ dùng để báo động khi có điều gì nguy nan cần đến sự cấp cứu! Lần đầu tiên nước Mỹ bị tấn công từ bên trong bởi chiến binh Hồi giáo.

Phải chăng Chúa Jesus báo động cho nhân dân Mỹ biết sẽ bị kẻ thù tấn công từ bên trong?

Quả nhiên, năm 2008, tỷ phú George Soros là một người Hung Gia Lợi, gốc Do Thái, nhập Quốc tịch Mỹ, có tư tưởng Mác-xít đưa một người Da Đen – Barack Hussein Obama – có tín ngưỡng Hồi giáo, đệ tử hàng đầu của thủ lĩnh Cộng sản Frank Marshall Davis lên làm Tổng thống. Theo ông David Horowitz, tác giả cuốn sách “The Last Battle”, viết: “tình trạng của nước Mỹ hiện nay không phải ngày một ngày hai mà nó xảy ra”. Tức là Cộng sản đã nhồi vào đầu óc quần chúng Mỹ tư tưởng phản quốc, thì George Soros mới đưa Barack Obama lên làm Tổng thống được.

Năm 2015, nhận thấy đường lối lãnh đạo của Barack Hussein Obama quá tai hại cho tương lại nước Mỹ, Tỷ phú Donald Trump tuyên bố ra tranh cử Tổng thống để “drain the Swamp”, thì mới mong cứu nguy nước Mỹ. Là một người chưa hề tranh một chức vụ dân cử nào, nhưng tỷ phú Trump đã đánh bại tất cả 16 nhân vật có thành tích trong đảng trong đảng Cộng Hòa, để ra đấu với bà Hillary Clinton, từng làm Nghị sĩ, Bộ trưởng Ngoại giao. Không ai nghĩ ông Trump sẽ thắng, vì bà Hillary được Obama dùng mọi thủ đoạn để hỗ trợ cho bà và bà còn được Truyền thông Cánh tả dồn mọi nỗ lực đánh bóng bà. Tuy bị bọn Truyền thông Cánh tả dựng đứng những điều rất bẩn thỉu để bôi nhọ, nhưng cuối cùng tỷ phú Donald Trump chiến thắng.

Sự chiến thắng chức Tổng thống của ông Trump là dấu hiệu thứ hai, Chúa Jesus đã chọn tỷ phú Donald Trump để phục hưng nước Mỹ với chương trình “Make America Great Again”. Tổng thống Barack Hussein Obama chẳng có thành tích gì đáng kể, lại được Nobel trao giải thưởng Hòa Bình. Trong khi đó, Tổng thống Donald Trump thể hiện thỏa ước hòa bình Abraham giữa Israel với Khối Ả Rập ở Trung Đông và trong thời gian ông cầm quyền, không một người chiến sĩ Hoa Kỳ nào tử thương trên chiến trường, mà chẳng được truyền thông ca ngợi. Về phương diện Kinh tế, Quân sự, Ngoại giao, Tổng thống Donald Trump đều đoạt thắng lợi to lớn hơn tất cả Tổng thống tiền nhiệm. Mỗi lần đi vận động tranh cử, hàng trăm ngàn cử tri ủng hộ trên bộ, dưới sông, trên trời, cờ xí, biểu ngữ tung bay phấp phới. Ai cũng nghĩ Tổng thống Donald Trump chắc chắn sẽ tái đắc cử nhiệm kỳ II. Nhưng Tổng thống Donald Trump đã thất cử. Mười tám Tiểu bang gửi kháng cáo lên Tối Cao Pháp Viện, kết tội đảng Dân Chủ gian lận. Nhưng Tối Cao Pháp Viện gạt sang một bên, không cứu xét.

Sự thất cử nhiệm kỳ II của Tổng thống Donald Trump, theo tôi nghĩ, là do ý Chúa ra tay lần thứ III. Tại sao? Tại vì ý Chúa muốn cho nhân dân Hoa Kỳ thấy được bộ mặt phi dân chủ và trò bẩn thỉu hạ cấp  của đảng Dân Chủ để đoạt Chính Quyền. Ngoài ra, Chúa cũng muốn cho Tổng thống Trump thấy được sự phản bội của những cộng sự viên do ông chỉ định. Nếu Tổng thống Donald Trump đắc cử nhiệm kỳ II, thì làm sao thấy được sự phản bội của Phó Tổng thống Mike Pence và của nhiều nhân vật thân tín khác? Đó là dấu hiệu thứ Ba mà Chúa Jesus đã ra tay!

Mặc dầu bị đảng Dân Chủ đưa ra kiện trước Tòa Án cả chục lần, ông Trump vẫn không bị bỏ tù. Đảng Dân Chủ bèn bắt chước Công An Việt Cộng tấn công trang trại của anh Đoàn văn Vươn, FBI của Tổng thống Joe Biden tấn công biệt thự Mar-A-Lago giống như một bầy thảo khấu, cũng chẳng tìm ra một tài liệu gì để tố giác Tổng thống Donald Trump vi phạm Hiến Pháp.

Cuộc ám sát xảy ra vào ngày 13 tháng 7 năm 2024 tại Quân Butler, Tiểu bang Pennsylvania bất thành là nhờ sự che chở của Chúa. Hành động anh hùng của Tổng thống Donald Trump khi đưa nắm đấm tay lên cao và hô lớn “Fight! Fight! Fight!”, làm cho cử tri liên tưởng đến bức tượng những người lính Mỹ dựng ngọn cờ Hoa Kỳ tại hòn đảo Iwo Jima vào ngày 23 tháng 2 năm 1945. Tỷ phú thiên tài Elon Musk vốn là người ủng hộ đảng Dân Chủ, nhìn thấy hình ảnh yêu nước hào hùng của Tổng thống Donald Trump, khiến ông đã hết lòng ủng hộ Tổng thống Trump bằng tiền bạc và bằng công sức đi vận động. Nếu Chúa không cứu Tổng thống Donald Trump lần thứ tư này, Tổng thống Donald Trump tử thương, ai biết được ngày hôm nay nước Mỹ ra sao?

Vậy có phải Chúa Jesus đã ra tay cứu Tổng thống Donald Trump không? Chính Tổng thống Donald Trump cũng nhìn nhận Chúa Jesus cứu ông là Chúa muốn trao cho ông một sứ mạng để chiến đấu chống lại thế lực Ma Quỷ ở Đầm Lầy. Chưa hết! Một tài năng xuất chúng chưa hề có trong lịch sử nhân loại mà người ta cho là nhân vật từ một hành tinh khác đến. Đó là Elon Musk tự nguyện giúp Tổng thống Donald Trump tìm ra sự thối nát, tham nhũng trong nhiều cơ quan của Chính Quyền Hoa Kỳ. Thú vị nhất là có người đến 360 tuổi mà vẫn còn được lãnh tiền an sinh xã hội. Chỉ không đầy 100 ngày, Bộ Hiệu Lực (DOGE) đã tìm ra rất nhiều điều dơ bẩn không một ai có thể tưởng tượng nổi. Nếu Chúa không ban phép lạ Elon Musk, thì ai có thể tìm ra được trò ăn cắp của đảng Dân Chủ?

Sự xuống cấp của đảng Dân Chủ về nhân cách cũng quá rõ ràng. Thượng Nghị sĩ Ted Crux công khai tố giác với quốc dân: “Đảng Dân Chủ là một đảng cướp vì bênh vực tội giết người, hãm hiếp của bọn di dân và bất cần đếm xỉa đến nỗi đau của nạn nhân Hoa Kỳ. Đảng Dân Chủ là đảng của những đứa ăn cắp vì hùng hổ chống lại biện pháp trong sạch hóa bộ máy Chính Quyền”.

Câu hỏi đặt ra: Tại sao đảng Dân Chủ từng có những nhà lãnh đạo đáng kính như Tổng thống Franklin Roosevelt, như John Kennedy, mà ngày nay lãnh đạo đảng Dân Chủ trở thành bọn phản quốc và nhân cách đồi bại? Rất dễ dàng trả lời câu hỏi này. Tại vì đảng Dân Chủ đi theo sự dẫn dắt của Deep State để tự biến mình thành những con quái vật dưới đầm lầy, nhằm đưa nước Mỹ “tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa”. Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev sau khi giải tán đảng Cộng sản Liên Xô thú nhận: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời hy sinh cho lý tưởng Cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà thú nhận rằng, Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.

Một người tử tế, có giáo dục mà theo Cộng sản, tất yếu sẽ trở thành lưu manh, gian ác ngay.

Bọn truyền Thông Cánh tả của Mỹ là một bè lũ đáng khinh, vì đã từ bỏ phương châm cao quý “Fair – Balance – Accurate” để lãnh đạo tư tưởng quần chúng hướng đến chân, thiện, mỹ mà dính tới đầu óc “Marxist” thì chỉ biết tuyên truyền và nói dối.

Tôi vốn là một Phật tử truyền thống. Gọi là Phật tử truyền thống, vì ông bà tôi, cha mẹ tôi đều thờ Phật. Nhưng khi tôi nhìn thấy sự mầu nhiệm của Chúa Jesus giúp Tổng thống Donald Trump bảo vệ nước Mỹ, tôi quyết định xin rửa tội theo chân Chúa để cùng vác Thánh Giá với nhà ái quốc. Tôi chọn Ngày Lễ Phục Sinh để rửa tội và chọn Giáo hoàng John Paul II làm Thánh Bổn Mạng. Bởi vì câu nói: “Nếu xe-tăng của Hồng Quân Nga tiến vào Thủ đô Warsaw, Ngài sẽ cởi áo Giáo Hoàng, về Ba Lan chiến đấu cho Tổ Quốc”, chứng tỏ Ngài dám lìa bỏ địa vị chủ chăn trên thế giới, để về nước làm nghĩa vụ công dân. Đối với tôi, ủng hộ Tổng thống Donald Trump trong công cuộc cứu nước là nghĩa vụ phải thi hành để đền ơn Quốc gia đã cưu mang mình và gia đình mình. Trong Công giáo, Đức Vâng Lời đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với Giáo Hoàng Francis, khi Ngài tuyên bố “Xây cầu, chứ sao lại xây tường” để chê trách Tổng thống Donald Trump không có lòng nhân đạo.

Có lẽ Ngài Francis sống trong tháp ngà của điện Vatican, nên không biết nước Mỹ đang gặp phải một thảm họa ghê gớm và Chúa chọn tỷ phú Donald Trump để bảo toàn nền văn minh Kitô giáo mà bọn Chống Chúa (Anti-Chris) đang âm mưu đánh đổ. Giá như Ngài Francis hiểu rằng nếu bà Hillary đắc cử Tổng thống năm 2016, nhân dân nước Mỹ sẽ bị bắt buộc thờ Karl Marx-Lenin, thì ngôi vị Giáo Hoàng chẳng còn và Tòa Thánh Vatican trở thành địa điểm du lịch.

Chúa Jesus Christ xuống trần gian để chống lại bọn giả hình (hypocrite), bọn thu thuế, bọn dối trá và bảo vệ giới nghèo khổ. Chương trình “Make America Great Again” của Tổng thống Donald Trump chính là lộ trình mà Chúa Jesus mong muốn.

Bọn chính trị gia Dân Chủ đúng là bọn giả hình, mở toang cửa biên giới để cho những phần tử tội phạm tràn vào phá hoại đất nước, trong khi đó nhà riêng của họ thì kín cổng cao tường.

Tổng thống Trump chống lại bọn Dân Chủ trả tiền khách sạn hạng sang để nuôi báo cô di dân bất hợp pháp, ắt phải lấy tiền thuế của dân bỏ túi riêng.

Tổng thống Trump chống lại bọn nhà báo “Fake News” tức là đề cao sự thật, chống dối trá.

Tổng thống Trump có biện pháp mang những hãng xưởng ở ngoại quốc về lại Mỹ. Tổng thống Trump bắt buộc giảm giá thuốc, không đánh thuế tiền “boa” và tiền làm giờ phụ trội (overtime) là bảo vệ dân nghèo một cách thiết thực. Tại sao Ngài Francis không thấy Tổng thống Donald Trump thay Chúa làm công việc mà Chúa dạy dỗ tín đồ? Đạo Công giáo có Giáo Hoàng. Đạo Chính Thống giáo (Orthodox) có Thượng Phụ (Patriarch), thì Donald Trump cũng xứng đáng là một Giáo Hoàng của đạo Tin Lành lắm chứ!

Vừa rồi, có một sự kiện lạ mà từ ngày lập quốc chưa từng xảy ra trong lịch sử nước Mỹ. Đó là vị Hồng Y Robert Francis Prevost sinh đẻ tại nước Mỹ được bầu làm Giáo Hoàng Leo. Giống như trường hợp của tỷ phú Donald Trump không ai ngờ ông Trump sẽ là Tổng thống Hoa Kỳ, Hồng Y Prevost vừa được tấn phong hơn một năm, ít ai biết tới thành tích, chẳng ai ngờ Ngài sẽ là Giáo Hoàng, nhưng được đích thân Chúa Jesus hay Chúa Thánh thần chọn là có mục đích chỉ cho Giáo Hoàng Leo XIV phải hợp tác với Tổng thống Donald Trump đánh đổ Đạo Marxist để cứu nước Mỹ đang bị bọn Anti-Christ quỳ lạy ông Thánh George Floyd để trị vì nước Mỹ.

Xin Giáo Hoàng Leo XIV phải hiểu rằng chỉ có nước Mỹ hùng mạnh thì mới có thể chế ngự nổi tham vọng bành trướng của Trung Cộng để thống trị nhân loại nhằm biến quả địa cầu thành hỏa ngục trên trần gian. Chúa Jesus Christ bảo vệ sự sống, Tổng thống Donald Trump cũng bảo vệ sự sống. Trong khi đó đảng Dân Chủ làm tay sai cho Đạo Karl Marx tiêu diệt sự sống.

Trước khi bầu Giáo Hoàng, Hồng Y Gerhard Muller viết một bài tham luận giống như là một hướng dẫn (guideline) để chọn Giáo Hoàng: “Các Hồng Y đồng viện hãy từ chối các tiêu chí trần tục khi chọn vị Giáo Hoàng mới. Thay vào đó, hãy tập trung vào một người sẽ duy trì sứ mệnh thiêng liêng của Thánh Phêrô. Nếu đặt các giá trị của mình dựa trên truyền thông đại chúng, các Hồng Y đồng viện sẽ có thể chọn một vị Giáo Hoàng “lạc giáo”.

Đúng thế! Ở địa vị lãnh đạo tinh thần 1.4 tỷ tín đồ, Giáo Hoàng không nên nghiêng về xu hướng bảo thủ hay cấp tiến để làm hài lòng phe này hay phe kia. Giáo Hoàng được các Hồng Y bầu lên là để thay mặt Chúa, chứ không phải là người phàm để có thể nói rằng “tôi là ai mà dám phán xét người khác”. Tổng thống Donald Trump tuyên bố: “Nước Mỹ chỉ có hai giống: đàn ông và đàn bà” là vâng theo lời Chúa dạy, bất chấp sự khen chê của truyền thông đại chúng. Do đó, phong cách của Tổng thống Donald Trung đúng là cương vị của nhà lãnh đạo, chứ không chạy theo thị hiếu hay xu hướng thời thượng của quần chúng.

Thiên Chúa cho loài người quyền tự do lựa chọn. Kẻ nào đi theo Ánh Sáng, kẻ đó sẽ đến bến bờ hạnh phúc vĩnh viễn. Kẻ nào chạy theo Bóng Tối, kẻ đó tự nguyện đi vào địa ngục. Tôi tin tưởng rằng Chúa Jesus chọn một người Mỹ làm Giáo Hoàng là để phục hưng nước Mỹ. Bởi vì, nếu nước Mỹ rơi vào tay đảng Dân Chủ, tay sai của Con Quỷ Cộng Sản Trung Hoa, thì coi như tận thế! Mời quý vị hãy xem Video dưới đây thì sẽ rõ:

https://www.youtube.com/watch?v=9VY8cdDFIgA

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 13 tháng 5 năm 2025.

Địa chỉ Email: bangphongdva033@gmail.com  Telephone: 714 – 276 – 5600

Thursday, April 24, 2025

NHẬN ĐỊNH VỀ HAI BÀI VIẾT - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

VỀ HAI BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN.

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU.

Sáng nay (ngày 24 tháng 4 năm 2025), thức dậy, mở computer ra đọc Email, tôi thấy có hai bài viết đáng bàn. Nhưng vì không thấy địa chỉ Email của tác giả, nên tôi gửi lên diễn đàn vài suy nghĩ của tôi. Bài viết thứ nhất có tựa đề: “NGÀY “GIẢI PHÓNG” & GIẤC MƠ VIỆT NAM CỦA TÔI.” của tác giả Lê Cát Tường và bài viết thứ hai có tựa đề “QUÝ ANH CHỊ CHỐNG TRUMP, CHƯA HIỂU ANH THƯƠNG BUÔN” của tác giả N. Thùy Trang. Nếu hai tác giả tình cờ đọc thấy bài nhận định của tôi, xin liên lạc với tôi ở địa chỉ bangphongdva033@gmail.com

1/ Về bài của tác giả Lê Cát Tường, tôi xin nói thế này: Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lập ra không phải vì mục đích giành Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc về cho dân tộc Việt Nam. Cái khẩu hiệu “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc” là bịp để dụ dỗ người Việt Nam yêu nước, nhưng ngây thơ. Karl Marx và Lenin là hai ông Do Thái lập ra cái đạo Cộng sản là để trả thù Chúa Jesus đã trừng phạt dân tộc họ phải lưu vong suốt 2 ngàn năm. Nhưng nếu hai ông Do Thái để lộ ý đồ chống Chúa thì ai mà theo? Cho nên hai ông mới riêu rao về một cuộc cách mạng giải phóng giới cần lao nghèo khổ bị bọn Tư bản bóc lột. Bằng cớ là khi Cộng sản cướp được Chính quyền, thì giới cần lao nghèo khổ còn bị bóc lột tận xương tủy mà phải câm họng. Ngay cả những người theo đảng Cộng sản, suốt cả một đời tận tụy vì lý tưởng bịp, mà muốn làm cho đảng trở nên tốt, cũng bị đảng diệt ngay. Trung tướng Trần Độ phản tỉnh là bị tước hết đặc quyền đặc lợi. Thủ tướng Võ văn Kiệt chỉ cần nói “Đừng nhắc lại ngày 30 tháng Tư, vì ngày đó khiến cho 1 triệu người vui và 1 triệu người buồn” là đảng có biện pháp kỷ luật với Võ văn Kiệt ngay.

Tướng Nguyễn Cao Kỳ tưởng rằng đem lòng yêu nước để thuyết phục lãnh đạo Cộng sản, thì Cộng sản sẽ thay đổi tư duy, là vì ông Kỳ cho rằng Cộng sản cũng là Con Người như mình! Không! Cộng sản không phải là người, mà là ác quỷ.  Nếu nhân dân Miền Nam gồm có trí thức, tu sĩ, Tướng lĩnh hiểu được rằng Cộng sản là ác quỷ, thì họ đã đoàn kết keo sơn một lòng để diệt Cộng sản không còn một mống. Hiện nay có một số nhà hoạt động ở Hải Ngoại đã về nước, tiếp xúc bọn cầm quyền với hy vọng sẽ thay đổi chế độ đều bị thân bại, danh liệt.

Bạn Lê Cát Tường sẽ đặt câu hỏi: “Nếu nói như bác Bằng Phong, dân Việt Nam mình đành cam chịu làm kẻ nô lệ suốt đời dưới chế độ Cộng sản bạo tàn hay sao?” Không! Dân Việt sẽ vùng lên giành lại quyền Con Người, khi hòn đá tảng Trung Cộng bị thế giới đào thải. Đừng nghĩ rằng tôi đưa ra tư tưởng chờ thời, chờ sung rụng.Tôi chỉ muốn nói rằng người Việt Tự Do không đủ sức làm chuyện đội đá vá trời, vẫn chia rẽ nhau, vì chưa thấy nòi giống đang trên đà tự hủy.

2/ Về bài viết của tác giả N. Thùy Trang, tôi nhận thấy tác giả đã nhìn ra chiến thuật, chiến lược của Tổng thống Donald Trump. Nhưng bảo rằng Tổng thống Donald Trump là con buôn, chỉ biết mang lợi về cho nước Mỹ, là mới thấy một phần nổi của tảng băng trên mặt nước. Ông Donald Trump còn muốn phục hồi nhân cách của nước Mỹ.

a/ Chống lại ý sự mở cửa biên giới của đảng Dân Chủ là để bảo vệ an ninh và chống lại đảng Dân Chủ chủ trương người đi bầu cử không cần phải là công dân, là để bảo vệ nền dân chủ Hoa Kỳ. Đảng Dân Chủ và Truyền thông Cánh tả đổ cho Tổng thống Donald Trump là độc tài phát-xít, là luận điệu chụp mũ, vu khống của Cộng sản.

b/ Nước Mỹ và đa số quốc gia Âu châu đang có xu hướng chống lại đức tin Cơ Đốc giáo (Antichrist), nền tảng văn minh Tây phương (Western Civilization). Ở tại nước Mỹ, Đảng Dân Chủ sau khi cướp Chính quyền bằng gian lận bầu cử, thì cưỡng bức dạy triết lý “Woke” và “Diversity, Equity, Inclusion” vào trường từ cấp Tiểu học lên đến Đại học và Quân Đội, là giống chủ trương của Karl Marx dùng hình thức đấu tranh giai cấp để chống Chúa Jesus. Còn ở tại Âu châu cũng đang có xu hướng Antichrist. Bằng cớ là màn trình diễn khai mạc Olympic thế giới tại Paris vào năm 2024 chế giễu buổi tiệc ly trong Kinh Thánh một cách thô tục, mà không một Quốc gia Âu châu nào bày tỏ phản ứng. Thử tưởng tượng Ban tổ chức Olympic mà chế giễu Đạo Hồi, thì thế nào cũng có chuyện đổ máu ngay. 

c/ Tổng thống Donald Trump muốn chấm dứt nạn ăn cắp của viên chức Chính quyền bằng cách kiểm kê sự chi tiêu của các Bộ Ngành. Tức là Tổng thống Donald Trump muốn gây lại niềm tin của nhân dân vào Chính quyền, đúng với tiêu chí “Do dân, vì dân” của Tổng thống Abraham Lincoln. Đảng Dân Chủ kịch liệt chống DOGE của tỷ phú Elon Musk, chứng tỏ đảng Dân Chủ là một tập đoàn ăn cắp, không muốn có một Chính quyền trong sạch.

d/ Cuối cùng, chẳng biết Tổng thống Donald Trump có làm được hay không? Đó là triệt tiêu bọn làm truyền thông bất lương chuyên môn phao tin giả để đánh lừa quần chúng. Khi Truyền thông không còn đạo đức nghề nghiệp, đó là dấu hiệu suy tàn của nền Dân Chủ.

Tổng thống Donald Trump áp thuế đối với mọi Quốc gia, bạn lẫn thù, là đòi lại công bằng cho Quốc gia Hoa Kỳ. Điều đó có gì là sai? Luận điệu của đảng Dân Chủ cho rằng Tổng thống Donald Trump áp thuế làm mất hết Đồng Minh, Hoa Kỳ sẽ bị cô lập, là luận điệu ngu xuẩn. Chẳng lẽ Hoa Kỳ cứ nằm yên chịu trận, để cho cả thế giới cười vào mặt hay sao? Nhiều Quốc gia trên thế giới xin đến Washington để điều đình, chứng tỏ Tổng thống Donald Trump làm đúng với sách lược đã đề ra!

Tổng thống Donald Trump chọn ngày 2 tháng Tư làm Ngày Giải Phóng là có ý báo động cho nhân dân Hoa Kỳ biết rằng lâu nay Hoa Kỳ đang bị cái tư tưởng quái đản Marxist giam hãm. Vậy Tổng thống Donald Trump còn là nhà tư tưởng, chứ không phải Tổng thống Donald Trump là con buôn, chỉ biết lợi nhuận. 

Tổng thống Donald Trump là nhà cách mạng đang vận động quần chúng trở về với Đức Tin và lòng Yêu Nước. Đừng nghe theo lời đường mật của bọn có tư tưởng Marxist, mà trở nên bội phản công lao của các Tổ phụ dựng lên nước Hoa Kỳ nhân bản, khai phóng. Đó là lời nhắn gửi của Tổng thống Donald Trump đến toàn dân.

Cuộc Cách Mạng của Tổng thống Donald Trump không đổ máu như Cộng sản Bolsheviks. Cuộc Cách Mạng của Tổng thống Donald Trump là cuộc Cách Mạng Nhung, thành công hay chăng, là do mỗi người dân Hoa Kỳ có chịu giác ngộ hay không. Nếu người dân Hoa Kỳ vẫn không chịu giác ngộ, thì nước Hoa Kỳ sẽ mất vào tay quỷ sứ, giống như nước Việt Nam Cộng Hòa đã mất vào tay quỷ sứ Việt Cộng.

Bằng Phong Đặng văn Âu. Ngày 24 tháng 4 năm 2025.

Dưới đây là hai bài viết của tác giả Lê Cát Tường và N. Thùy Trang. Mời quý vị đọc cho biết.

NGÀY “GIẢI PHÓNG” & GIẤC MƠ VIỆT NAM CỦA TÔI.

 Tôi được sanh ra sau năm 1975, và cũng như bao người trẻ cùng lứa tuổi hoặc trẻ hơn, tôi bị tuyên truyền và nhồi sọ bởi CSVN. Ở trường học, tôi cũng bị ép phải đeo khăn quàng đỏ, làm cháu ngoan bác Hồ, và bị dạy về ngày “giải phóng,” tức là ngày 30/04/1975. Nhưng may mắn hơn những người trẻ khác, tôi có ba mẹ làm hậu thuẫn. Ba mẹ tôi kể nhiều về đời sống, xã hội và chính trị của thời VNCH (chế độ trước năm 1975), cho tôi cơ hội để so sánh đời sống và xã hội của hai chế độ.

Sau khi ra nước ngoài và khi lên đại học, tôi đã tìm hiểu về Việt Nam. Tại sao trong nước gọi là ngày “giải phóng,” và cộng đồng hải ngoại thì gọi ngày 30 tháng 04 là ngày Quốc Hận? Tại sao lại có từ “thuyền nhân?” Tại sao người người lại chạy Cộng Sản, đánh đổi cả tánh mạng của họ và gia đình họ, để được tự do . Ngày 30 tháng 04 sao có thể là ngày “giải phóng” khi người dân được “giải phóng” phải ăn bằng khoai lang sùng và cơm độn? “Giải phóng” mà sao chỉ có bên thắng cuộc là ăn mừng, trong khi người được “giải phóng” lại khóc và trốn chạy khỏi Việt Nam?

Với tôi tìm hiểu lịch sử rất quan trọng, nhưng không làm tôi rung động bằng những gì đang xảy ra trên quê hương Việt Nam hiện giờ, sau 50 năm “giải phóng.” Tôi tin rằng nếu là một chế độ tốt và vì dân, người dân Việt Nam sẽ không tiếp tục ra đi tìm cơ hội cho gia đình họ. Nhiều người đã không ngại trốn chạy và vượt biên bằng xe thùng hay đi bộ nhiều ngày, băng qua biên giới nhiều quốc gia, chỉ để đến được bến bờ tự do, dù là phải trở thành những người di dân bất hợp lệ.

Nếu là một chính quyền tốt, tham nhũng sẽ không tràn lan và có hệ thống như bây giờ. Là một chính quyền tốt, sẽ không trao quá nhiều quyền lực cho giới công an, để họ khủng bố người dân lành hàng ngày. Là một chính quyền tốt, sẽ đặt lợi ích của người dân và của dân tộc lên hàng đầu và phải bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải cũng như bảo vệ nền độc lập và sự tự chủ của quốc gia mình.

Một chính quyền vì dân phải có những chính sách cụ thể để đẩy mạnh dân sinh, luôn luôn có sự cải cách tích cực trong các hệ thống giáo dục, y tế, giao thông, và môi trường để xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Một chính quyền tốt sẽ tìm cách loại đi những hũ tục và không cỗ suý cho những trò chơi trụy lạc trong học đường. Họ sẽ có những kế hoạch để bảo tồn và đẩy mạnh văn hóa Việt Nam. Chính quyền Việt Nam đương thời đã thất bại triệt để trong trách nhiệm của họ.

Giấc mơ của tôi là đời sống và xã hội của người dân Việt Nam được triệt để cải thiện theo hướng tích cực hơn. Nền giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá, môi trường được thay đổi tốt hơn. Người dân sẽ được hưởng một chế độ dân sinh tuyệt vời. Dân lành được bảo vệ và hỗ trợ bởi cảnh sát, thay vì bị công an khủng bố. Nhân quyền không còn là một xa xỉ phẩm nữa, mà nhân quyền như cơm gạo, mà người dân sẽ được hưởng thụ hàng ngày. Khi họ thích, thì họ xuống đường biểu tình mà không bị chính quyền bắt bớ và trả thù.

Giấc mơ của tôi là quê hương Việt Nam sẽ có tự do và dân chủ, và để biến giấc mơ thành sự thật, chúng ta sẽ không ngừng tranh đấu cho những điều mà chúng ta cần, chúng ta tin, và chúng ta mơ.

Cát Tường Lê, Olympia

 

QUÝ ANH CHỊ CHỐNG TRUMP, CHƯA HIỂU ANH THƯƠNG BUÔN.

Cao thủ Trump ra tay. Ván cờ địa chính trị và thương vụ vũ khí thế kỷ.

Khi cả thế giới còn đang tranh cãi về chiến sự Ukraine, Tổng thống Donald Trump đã tung ra một nước cờ khiến mọi bên phải ngỡ ngàng. Ông công khai công nhận Crimea là của Nga và đề xuất Ukraine nên nhượng toàn bộ vùng lãnh thổ hiện đang bị Nga chiếm đóng khoảng 18.7% đất nước để kết thúc chiến tranh bằng cách vẽ lại biên giới, nơi nào Nga đang đứng thì lấy đó làm ranh giới hòa bình.

Đây không phải là một đề xuất ngẫu nhiên. Ông Trump biết rõ Ukraine sẽ không đồng ý, và châu Âu cũng sẽ phản đối mạnh mẽ. Nhưng đó mới là đòn cao tay. Khi phía Kyiv từ chối kế hoạch “hòa bình”, Trump có cơ sở chính đáng để rút Mỹ ra khỏi chiến trường. Mỹ không rút lui vì bỏ rơi đồng minh, mà vì đã “đưa ra giải pháp nhưng bị từ chối”.

Chính trong khoảng trống quyền lực ấy, châu Âu buộc phải nhảy vào. Bởi nếu Mỹ rút, Ukraine sụp đổ, thì tuyến biên giới NATO sẽ bị uy hiếp trực tiếp. Từ vai phụ, châu Âu trở thành vai chính. Nhưng khi nhảy vào, họ phải hành động, và hành động đó là mua vũ khí.

Trump không cần viện trợ. Ông cần hợp đồng thương mại, và ván bài này chính là để chuyển gánh nặng từ ngân sách Mỹ sang hóa đơn mua sắm Quốc phòng của châu Âu. Đó là đòn bluff chính trị, nhưng là một thương vụ thương mại vô cùng thực dụng.

Kết quả đã hiện rõ. Đức ký hợp đồng viện trợ quân sự hơn 3.2 tỷ USD cho Ukraine, trong đó bao gồm hệ thống phòng không IRIS-T, drone, và kế hoạch cung cấp 500,000 quả đạn pháo trong năm 2025. Ba Lan ký kết chương trình Wisla giai đoạn hai với hệ thống Patriot trị giá lên đến 15 tỷ USD. Pháp tiếp tục tăng ngân sách Quốc phòng, chuyển giao phương tiện chiến đấu, tên lửa và hỗ trợ Ukraine bằng kho vũ khí tồn trữ. Nhiều quốc gia NATO khác cũng đang tăng tốc mua vũ khí Mỹ vì không thể chờ vào viện trợ nữa.

Trump không cần nói to. Ông chỉ cần đưa ra một giải pháp không ai muốn nhận, rồi lùi lại, để châu Âu buộc phải bước tới. Nhưng khi họ bước tới, họ phải mở ví. Và đó là lúc ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ trở thành người hưởng lợi lớn nhất.

Không ai có thể phủ nhận rằng chiến tranh mang theo những hệ lụy đau thương. Nhưng cũng chính chiến tranh, dưới bàn tay một thương gia như Trump, lại trở thành cơ hội tái cấu trúc vai trò toàn cầu của nước Mỹ mà không phải đổ máu thêm. Ông không đánh nhau, ông buôn. Ông không viện trợ, ông bán. Và ông làm được điều đó bằng một ván cờ mà người ta tưởng là thất bại, nhưng hóa ra lại là thắng lợi kép.

Trump không để Ukraine chết. Ông giữ cuộc chiến ở mức vừa đủ để châu Âu phải đứng dậy, tự lo, và mua vũ khí Mỹ bằng tiền của chính họ.

Đó không chỉ là chính trị. Đó là thương mại. Và là thương mại ở đẳng cấp của một cao thủ chính trường.

N. Thùy An.

 

Tuesday, April 1, 2025

BA MŨI GIÁP CÔNG - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

BA MŨI GIÁP CÔNG.

Bằng Phong Đặng văn Âu


Theo dõi tình hình nước Mỹ, tôi nhận thấy Tổng thống Donald Trump đang đối diện với chiến lược "Ba Mũi Giáp Công" của Mao Trạch Đông, mà Võ Nguyên Giáp gọi nôm na là căng kẻ thù ra mà đánh trong chiến tranh xâm lược của Cộng sản Miền Bắc.

Mũi thứ nhất mà Tổng thống Donald Trump phải chống trả là kẻ nội thù (đảng Dân Chủ) ngay trên đất nước.

Mũi thứ hai là lò thuốc súng ở Trung Đông gồm có Iran, Hamas và Houthi.

Mũi thứ ba là eo bể giữa Đài Loan và Trung Cộng.

Kinh nghiệm cho thấy: Mũi thứ nhất chống kẻ nội thù là nguy hiểm hơn cả. Đảng Dân Chủ cũng ý thức điều đó, nhưng họ trót làm tay sai của Deep State (tay đã nhúng chàm) đành phải phản quốc! Kẻ nào chứng kiến cục diện chính trị nước Mỹ mà không thấy đảng Dân Chủ phản quốc, thì chưa xứng đáng để bàn chuyện thời sự nước Mỹ.

Không phải bây giờ nước Mỹ mới lâm vào thế trận Ba Mũi Giáp Công. Ngoại trưởng Henry Kissinger dưới thời Tổng thống Richard Nixon đẩy nước Mỹ phải bắt tay với Trung Cộng để giải quyết chiến tranh Đông Dương, là có ý đồ dùng Trung Cộng để chống Mỹ về sau. Bởi vì Trung Cộng đã kiệt quệ về mọi mặt, sau khi Mao Trạch Đông phát động Cách Mạng Văn Hóa và cái gọi là Bước Nhảy Vọt (Great Leap Forward). Những phần tử phản quốc của Mỹ đã "bồi dưỡng" cho Trung Cộng về kinh tế và kỹ thuật vũ khí tối dân. Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, ông Cố Vấn An Ninh Quốc gia -- Zbigniew Brzezinski -- xúi ông Tổng thống Carter truất phế vua Iran là Reza Pahlavi (một đồng minh thân cận ở Mỹ ở Trung Đông) và đưa ông Đạo Ayatollah Khomeini về Iran để chống Mỹ (Tòa Đại sứ Mỹ bị đánh úp và nhân viên bị làm con tin). Tất cả những đường đi nước bước vừa nêu đều do kế hoạch của Deep State cả. Ngay như Biến Cố 911 vào năm 2001 cũng có nguồn tin là chủ trương của Deep State).

Deep State là ai? Là những nhà tài phiệt Chống Chúa Jesus như George Soros, mà Đức Hồng Y Carlo Maria Viganò tuyên bố nước Mỹ đang có cuộc chiến tranh tôn giáo. Henry Kissinger, Zbigniew Brzezinski là hai nhân vật cùng nòi giống với George Soros đấy!

Tổng thống Donald Trump là người hết sức yêu nước, hết sức can đảm thì mới ra mặt đối đầu chống lại Ba Mặt Giáp Công. Cuộc chiến hiện thời là Israel, Hồi Giáo và Cơ Đốc Giáo. Bọn phản đạo ở Mỹ gồm có Joe Biden và Nancy Pelosi thì rơi mặt nạ, không đáng kể. Nhưng còn bao nhiêu con quái vật dưới đầm lầy đội lốt đảng viên Cộng Hòa chưa phát giác, mới đáng lo ngại.

Bằng Phong Đặng văn Âu