THƯƠNG
QUÁ VIỆT NAM ƠI!
Bằng
Phong Đặng văn Âu.
Ở
trong nước, người trí thức muốn nói
Sự Thật thì không được nói. Ở Hải ngoại, được quyền nói thì người trí thức không chịu nói Sự Thật. Tôi chẳng phải
là người trí thức, chẳng là cái thá gì cả, nhưng tôi dám nói, dám viết Sự Thật,
mặc dầu tôi ý thức rằng “Sự Thật mất
lòng”.
Bây
giờ là 2 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, vừa tròn 49 năm Tổng thống mấy ngày Dương
văn Minh tuyên bố đầu hàng quân xâm lăng Bắc Việt. Trong khi đa số người Hải
Ngoại chuẩn bị làm lễ Ngày Quốc Hận và trong nước làm lễ ăn mừng Chiến Thắng,
còn riêng tôi thui thủi một mình ngồi ở nhà, trước cái máy “computer”, để nói về
nỗi niềm thương xót cho cả dân tộc Việt Nam. Tự biết mình chẳng có văn tài để
diễn đạt tâm can, nhưng nghĩ sao thì nói vậy, chứ không hề có ý xúc phạm bất cứ
ai. Viết để cho mai sau biết về cái thời đại mà tôi đã sống!
Thi
sĩ Tản Đà làm hai câu thơ: “Bởi tại thằng
dân ngu quá lợn, Cho nên quân ấy mới làm quan”. Tôi không đồng ý, phải viết
như thế này mới đúng: “Bởi tại thằng quan
ngu quá lợn, Cho nên dân chúng mới lầm than!”. Sở dĩ dân ngu dốt là tại vì
trí thức không làm tròn nhiệm vụ của người trí thức! Nhiệm vụ của người trí thức
là gì? Là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như lời nhà cách mạng
Phan Chu Trinh dạy hậu thế. Xin lặp lại để độc giả hiểu rằng tôi chỉ là một
quân nhân chuyên nghề đánh giặc, trình độ học vấn chỉ có mỗi cái bằng Tú Tài II
Ban Toán để lận lưng, chỉ trải qua lớp triết học nhập môn năm Đệ Nhất. Phần lớn
kiến thức là do đọc sách Thánh hiền và lắng nghe sự bàn luận thời thế của các bậc
đàn anh.
Trong
nước, cô giáo Trần thị Lam, người Hà Tĩnh, làm bài thơ: “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?” có câu: “Bốn nghìn tuổi mà dân ta không chịu lớn!”
rất được nhiều người tán thưởng, hăm mộ. Bằng cớ là nhiều người phổ biến bài
thơ trên diễn đàn. Sợ đụng chạm giới khoa bảng, tôi phải đổ tội “vì quỷ
ám”, khiến cho người trí thức trở nên
ngu. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết trách tôi nói như thế là vơ đũa cả nắm, vì anh
không hiểu chủ ý của tôi. Chủ ý của tôi là “khiêu khích” để xem có ông/bà trí
thức nào lên tiếng chứng minh trí thức Việt Nam không ngu!
Năm
1988, đảng Đại Việt có cuộc họp “Thống Nhất”, gồm có các nhân vật tên tuổi,
như: Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, bác sĩ Đặng văn Sung, Kỹ sư Hà Thúc Ký, Đại sứ Bùi
Diễm, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn văn Canh, Kỹ sư Đặng văn
Đệ, Giáo sư Đào Nhật Tiến, Dân biểu Lê Tấn Trạng, anh Nguyễn văn Ánh và phi
công Đặng văn Âu. Cụ Cung Đình Quỳ, Cựu Bộ trưởng Canh Nông trong Chính phủ Trần
Trọng Kim, 92 tuổi, là người chủ trì phiên họp. Sau lời mở đầu dõng dạc của Cụ
Quỳ, mỗi người lần lượt phát biểu tùy theo niên kỷ và thâm niên trong đảng. Tôi
được phát biểu áp chót, trước Lê Tấn Trạng và anh Nguyễn văn Ánh.
Tôi
mở đầu: “Rất cám ơn các anh lớn đã cho
phép một người đàn em hậu sinh được tham dự cuộc họp quan trọng này. Xin phép
các đồng chí niên trưởng cho đàn em được nói những lời chân thật tận đáy lòng.
Chủ đề cuộc họp là ‘Thống nhất Đại Việt’, mà đáng lý ra không cần có. Bởi vì có
chia rẽ, thì hôm nay mới phải kết hợp. Theo đàn em nghĩ, đảng ta đã tự làm mất uy thế lãnh đạo quần chúng. Dựa vào điều
lệ đảng, đảng viên nào phản đảng thì sẽ chịu biện pháp kỷ luật. Và kỷ luật áp dụng
cho mọi người, không trừ một ai. Theo đàn em biết, đồng chí Nguyễn Tôn Hoàn và
đồng chí Hà Thúc Ký là hai người chủ trì buổi lễ tuyên thệ vào đảng của hai ông
Nguyễn văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm. Xin hai đồng chí xác nhận điều đó có đúng
sự thật?”. Cả hai đàn anh đều nhìn nhận là đúng. Tôi nói tiếp: “Tướng Thiệu và Tướng Khiêm tự ý bỏ đảng Đại
Việt, ra lập đảng Dân Chủ, nhưng các đàn anh không có một phản ứng gì, đã khiến
cho các cán bộ cấp dưới nhận thấy các đàn anh đã tự làm mất uy thế lãnh đạo đảng và lãnh đạo quần
chúng. Sau năm 1975, ông Phó Đề đốc Hải Quân Hoàng Cơ Minh lập ra cái tổ chức mệnh
danh “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” như một trò hề, chưa tạo
một thành tích gì cho Đất Nước, mà đã có hành vi đàn áp và tiêu diệt tiếng nói
của một ký giả dám viết sự thật, nhưng đảng Đại Việt lại im lặng. Đó là lần thứ
hai, đảng ta đã tự ý làm mất uy thế lãnh
đạo quần chúng. Nếu sau cuộc họp kết hợp này, đảng Đại Việt vẫn sợ đụng chạm
tổ chức của anh em nhà Hoàng Cơ Minh, thì sự kết hợp chỉ có tác dụng về mặt
hình thức cho vui, chứ không đi vào thực tiễn cứu nước. Vì không có Chính quyền
trong tay, nên chúng ta không có Quyền Lực. Nhưng Quyền Uy có được là do sự
Thành Tín với nước, với dân, dám dấn thân vì Đại Nghĩa. Ví dụ, Cụ Trạng Trình
Nguyễn Bình Khiêm tuy đã về hưu trí, nhưng nhiều người đến thỉnh ý là do cái UY
của Cụ. Như La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp vẫn được Hoàng Đế Quang Trung mời ra
giúp nước.
Trong quá khứ, đồng chí Nguyễn Ngọc
Huy lập ra Tân Đại Việt để quy tụ những đồng chí gốc Miền Nam. Phía đồng chí Hà
Thúc Ký phản ứng lại bằng cách lập ra đảng Đại Việt Cách Mạng thì đa số đảng
viên là người Miền Trung, Miền Bắc. Lý tưởng đấu tranh do đồng chí đảng trưởng
Trương Tử Anh viết ra là “Dân Tộc Sinh Tồn”. Mà muốn sinh tồn,
thì phải đoàn kết nhau để tiêu diệt Cộng sản. Hà cớ gì hai anh tách đảng ra làm
đôi? Các anh có biết tâm tư các đồng chí cấp dưới giống như một đàn con có cha
mẹ ly dị nhau? Theo cha thì sợ mẹ buồn; theo mẹ thì sợ cha buồn? Từ những năm
1978 đến năm 1979, đàn em từng lái xe từ Virginia chở đồng chí Hà Thúc Ký lên
Boston để thuyết phục đồng chí Nguyễn Ngọc Huy sáp nhập tổ chức Liên Minh Dân
Chủ của anh Huy và Mặt Trận Việt Nam Tự Do của anh Ký làm một, để hoạt động hữu
hiệu hơn, nhưng lần nào anh Huy cũng từ chối. Vậy sau cuộc họp này, anh Huy có
đồng ý kết hợp với anh Ký một cách chân thành hay là vẫn miễn cưỡng?”
Sau
lời phát biểu của tôi, không khí buổi họp trở nên nặng nề, bởi vì không đồng
chí nào có thể phản bác những luận điểm
của tôi. Lúc bấy giờ là 12 giờ trưa, đồng chí chủ nhà Nguyễn Quan Vĩnh trong tổ
chức Tân Đại Việt – một phi công cùng khóa với tôi hãy còn sống ở San Jose – đề
nghị mọi người dừng cuộc họp để dùng buổi trưa đã sẵn sàng dọn ra ở ngoài sân.
Anh tôi – bác sĩ Đặng văn Sung – vẫy tôi lại và nói: “Chú mày vẫn không bỏ cái thói nhà binh. Những gì chú nói vừa rồi làm mất
lòng anh Ký, anh Huy lắm đấy! Hãy xin lỗi hai anh ấy đi!”. Bác sĩ Sung tuy
là ông anh, nhưng tôi có niềm kính trọng như cha mình, vì anh sinh năm 1916,
hơn tôi đúng hai giáp và con gái lớn của anh bằng tuổi tôi. Tuy kính trọng anh
như cha của mình, nhưng tôi đáp: “Thưa
anh, tới giờ phút này mới có cuộc kết hợp Đại Việt là đã quá trễ. Đảng Đại Việt
có nhiều cơ hội cầm quyền, nhưng không đóng được vai trò lịch sử là vì mắc phải
chứng bệnh trầm trọng thành di căn, giống như khối u ác tính. Nếu không mổ xẻ,
cắt bỏ khối u, thì không có cách gì chữa được chứng bệnh. Em thừa sức để nói những
lời tâng bốc làm đẹp lòng các anh, nhưng em đành phải nói Sự Thật, vì đây là lần
chót để thi hành sứ mệnh lịch sử. Nếu lần kết hợp này mà đảng Đại Việt không lấy
lại uy thế lãnh đạo quần chúng, thì
đừng nên kết hợp”.
Vì
những lời thẳng thắn của tôi, những buổi họp kế tiếp, đảng không cho tôi tham dự.
Chừng ba hay bốn tháng sau ngày kết hợp, tôi đọc thấy tuyên cáo của hai bên
khai trừ lẫn nhau. Thật là một điều đáng xấu hổ. Tôi chia tay đảng từ dạo ấy.
Người
còn sống sau buổi kết hợp Đại Việt năm 1988 là anh Nguyễn văn Canh – Giáo sư Tiến
sĩ Luật – hiện ở trên San José, từng viết những bộ sách đồ sộ, có thể làm chứng
cho những gì tôi nói trong buổi họp. Tôi thuật lại mẩu chuyện ở trên là để độc
giả hiểu rằng tôi tham gia đảng Đại Việt vì lý tưởng “Dân Tộc Sinh Tồn” để chống lại chủ trương tiêu diệt nòi giống của
Việt Cộng. Do đó, tôi không mưu cầu bất cứ một điều gì cho bản thân, thì tại
sao tôi không nói Sự Thật để đóng góp vào sự lớn mạnh của đảng? Những gì tôi sắp
sửa viết ra đây là nhằm mục đích bày tỏ nỗi đau của một người “vô danh tiểu tốt”
bị sinh ra vào thời đại Quỷ Ám, chứ bản thân thì luôn luôn tự hào về nòi giống
Việt Nam oai hùng.
Tôi
đánh giá thấp thành phần trí thức, Tướng lĩnh và các ông bà làm chính trị là có
lý do. Trí Quang xách động cuộc đấu tranh lật đổ Chính quyền vì lý do đàn áp Phật
giáo. Trong Nội Các của Tổng thống Ngô Đình Diệm có tới ¾ là Phật giáo. Trong
Quân Đội cũng có tới ¾ là Phật giáo. Thế mà không có một ông Bộ trưởng nào, một
ông Tướng nào có tín ngưỡng Phật giáo đứng ra phản bác luận điệu vu khống của
Trí Quang, thì làm sao một sĩ quan cấp dưới như tôi không khinh? Sở dĩ những
thành phần có trách nhiệm lớn đối với Đất Nước tỏ ra ươn hèn là vì không có viễn
kiến và không đủ lòng yêu nước để chống lại cuộc đấu tranh bá láp của Trí Quang!
Một
nhân vật danh tiếng trùm thiên hạ là văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ông từng
là Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên Hiệp do Hồ Chí Minh lập ra. Ông đã
nhìn thấy sự đểu cáng của Hồ Chí Minh, nên ông từ chức. Đáng lý ra, văn hào Nhất
Linh phải dùng uy tín của mình để giúp ông Ngô Đình Diệm chống lại Cộng sản ở
Miền Bắc. Nếu nhận thấy ông Ngô Đình Diệm sai ở điểm nào, văn hào thẳng thắn
lên tiếng để kiện toàn thể chế dân chủ. Tại sao văn hào lại toa rập với các sĩ
quan tay sai của Thực dân Pháp như Trung tá Vương văn Đông, Trần Đình Lan để
làm cuộc đảo chánh năm 1960? Tại sao văn hào không ra hầu tòa, mà lại từ chối đối
chất trước tòa với những đàn em trong đảng âm mưu phản loạn? Lời di chúc mà văn
háo viết ra, trước khi tự tử, là một bản cáo trạng lên án chế độ trước dư luận
thế giới, thì Miền Nam đâu còn có Chính Nghĩa để Hoa Kỳ giúp đỡ? Những nhà văn,
nhà báo tên tuổi tham dự lễ tang của đại văn hào, đọc bài điếu văn ca ngợi hành
vi can đảm (?), khí phách trước linh cữu của đại văn hào, chẳng khác nào bồi
thêm một bản cáo trạng thứ hai khai tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Hàng ngũ trí
thức, văn nghệ sĩ tồi như thế, thì làm sao chúng ta không thua Việt Cộng?
Năm
1965, Tư Lệnh Không Đoàn 33 là Trung tá Lưu Kim Cương tổ chức Cầu Không Vận gồm
có 16 chiếc C-47 để tiếp tế đồng bào bị nạn lụt ở Ban Mê Thuột. Tên chiến dịch
là “Kỳ-Duyên-Mai” (tên của ông Tư Lệnh Quân Chủng Nguyễn Cao Kỳ, tên cô con gái
và tên phu nhân ghép lại). Tôi phản đối: “Trong
lịch sử Việt Nam, có thiếu gì vị anh hùng, mà lại đặt tên chiến dịch là ‘Kỳ-Duyên-Mai’
để cho Việt Cộng có cớ tuyên truyền bọn phi công này là lính của Nguyễn Cao Kỳ?
Ở Miền Bắc, mấy tên lính hãnh diện là “Bộ Đội Cụ Hồ” thì mặc kệ họ, còn chúng
ta là lính Việt Nam Cộng Hòa, chứ đâu phải là lính của Nguyễn Cao Kỳ?”. Lúc
bấy giờ, tôi mới lên Trung Úy, còn trẻ măng, nhưng tôi đã ý thức công cuộc chiến
đấu chống Cộng là vì Chính nghĩa Tự Do Dân Chủ, chứ không phải là loại “lính
đánh thuê” cho bất cứ ai. May mà vị Tư Lệnh Không Quân là ông Thiếu tướng Nguyễn
Cao Kỳ hiểu được sự lên tiếng của tôi là chính đáng, nên tôi không bị đì hoặc bị
tống cổ sang Bộ Binh.
Năm
1978, tôi đề nghị với những anh em quen biết sống quanh vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn
thành lập một tổ chức Nhân Quyền để tranh đấu cho những người dân trong nước bị
bịt miệng. Phía dân sự, chúng tôi mời quý ông Hà Thúc Ký – Chủ tịch đảng Đại Việt
Cách Mạng – Nghị sĩ Đoàn văn Cầu, Bộ trưởng Tài Chánh Châu Kim Nhân, Đổng lý
Văn phòng Bộ Xã Hội Chử Ngọc Liễn, Dân biểu Nguyễn văn Kim, Giáo sư Nguyễn Ngọc
Bích, Tham vụ Ngoại giao Đỗ Đức Hậu (hiện sống ở Orange County), Tham vụ Ngoại
giao Lê Chí Thảo (hiện sống ở Virginia), thanh niên tranh đấu Ngô Vương Toại,
bà Lê thị Anh – đại diện Hòa Hảo – Cụ bà Đức Thụ, bạn đồng chí của Bà Cả Tề, một
lãnh tụ của Quốc Dân Đảng. Phía Quân Đội gồm có Trung tướng Phạm Quốc Thuần,
Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, Đại tá Tỉnh trưởng Tuyên
Đức Nguyễn Hợp Đoàn, Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn văn Phán, Thiếu tá
Không Quân Đặng văn Âu. Về quý vị lãnh đạo tinh thần, chúng tôi mời Thượng tọa
Giác Đức và Linh mục Trần Duy Nhất. Vào thời điểm ấy, mời được những khuôn mặt
nổi tiếng ấy, đâu phải dễ?
Cuộc
họp diễn ra tại nhà tôi, nên tôi là người mở đầu nói lời chào mừng và tuyên bố
lý do tại sao chúng ta cần phải thành lập tổ chức đấu tranh Nhân Quyền cho Việt
Nam. Tuy là một sĩ quan cấp nhỏ, nhưng tôi đã điều hợp buổi họp rất trôi chảy.
Trong giờ giải lao, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh nói nhỏ: “Tôi tưởng cậu là phi công chỉ biết ăn chơi, bay bướm. Không ngờ cậu tỏ
ra có hiểu biết và khả năng điều hợp buổi họp rất được”. Tôi đùa: “Rất được thôi sao, hả ông Tướng?” Từ buổi
họp đầu tiên ấy, Tướng Minh có vẻ “kết” tôi, nên ông thường xuyên đến nhà tôi để
“đàm đạo” và một đôi khi ông mời tôi tới nhà ông để ăn cơm. Tôi nhận thấy Tướng
Minh là người có lòng, muốn dấn thân vào công cuộc cứu nước. Nhưng ông hơi
“ngây thơ” vì nghĩ rằng công cuộc cứu nước dễ dàng như trở bàn tay. Khi được
tin Tướng Minh kết hợp với Trung tá Hải Quân Trần văn Sơn – thủ lĩnh đảng Phục
Hưng – và nhóm Thanh Niên Người Việt Tự Do ở Nhật để thành lập cái tổ chức gọi
là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, là tôi nhận thấy không ổn
rồi. Tại sao? Tại vì Trung tá Trần văn Sơn là người thuộc cánh tranh đấu Phật
giáo của Trí Quang, chống nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa. Ông Minh chỉ
mới được nhóm Thanh Niên Người Việt Tự Do móc nối, thì làm sao ông có thể tin
tưởng Việt Cộng không cài người vào trong cái tổ chức ấy? Tướng Hoàng Cơ Minh lập
tổ chức đấu tranh chống lại một kẻ thù cực kỳ hung hiểm về mặt Tình báo, Phản
gián mà giống như lập đoàn hát cải lương, thì làm sao tổ chức không bị Việt Cộng
xâm nhập? Trước khi chia tay nhau vì bất đồng tư tưởng, tôi chỉ nói với anh
Minh một lời cuối cùng: “Bất kể chủ
trương, đường lối như thế nào, anh phải giữ tính vương đạo, chứ đừng bao giờ sử
dụng bá đạo. Bởi vì, chúng ta không thể bá đạo như Việt Cộng. Bá đạo chỉ thành
công nhất thời, nhưng sẽ đưa đến ô danh muôn thuở. Nếu anh không nghe lời tôi,
anh sẽ trở thành thảo khấu!”.
Phó
Đề đốc Hoàng Cơ Minh không nghe lời khuyên của tôi, Mặt Trận đã dùng bạo lực để
bịt miệng ký giả Đạm Phong và sau này bọn Việt Tân dùng thứ đầu trâu mặt ngựa
trong tổ chức để bôi bẩn tất cả những ai phản đối Việt Tân – con đẻ của Mặt Trận
– có những hành vi lừa đảo.
Dù
tôi là một phi công, ăn cơm dưới đất làm việc trên trời, nhưng tôi cũng có kiến
thức cơ bản trong vấn đề đấu tranh. Tôi lên tiếng ngăn cản anh Hoàng Cơ Minh là
vì đại cuộc, chứ không phải “Conflict of interest” (mâu thuẫn quyền lợi) như
ông Chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong Nguyễn Thanh Hoàng nghĩ. Nhận thấy ông Nguyễn
Thanh Hoàng bỏ ra 10 ngàn đô-la thuê ký giả Hoàng Xuân Yên (bút hiệu Hoàng
Xuyên) theo đoàn Kháng Chiến sang Thái Lan làm phóng sự, tôi cảnh giác ông
Hoàng hãy cẩn thận, kẻo mang tiếng toa rập với Hoàng Cơ Minh đánh lừa độc giả.
Ông Hoàng chê tôi: “Hễ mấy anh Đại Việt
thấy người khác làm được, mà mình không làm được thì chống đối”. Một nhà
báo đa nghi như Nguyễn Thanh Hoàng, mà vẫn bị mắc lừa, không chịu nghe lời
khuyên của tôi, cho rằng tôi chống Hoàng Cơ Minh, vì tôi là đảng viên Đại Việt!
Tôi
có thể nói thẳng với độc giả rằng những tổ chức, những cá nhân mang danh nghĩa
Chống Cộng, nhưng không thấy băng đảng Việt Tân nguy hiểm hơn Việt Cộng. Tôi là
một đảng viên Đại Việt, nhưng tôi dám nói thẳng hai đảng có bề dày Chống Cộng
như Đại Việt và Quốc Dân Đảng là hai cái xác đã chết rồi, mà chưa chôn. Bởi vì
cả hai đảng đều không “thấy” những câu tuyên bố của nhạc sĩ Trúc Hồ và Luật sư
Trần Kiều Ngọc là có mục đích nhồi vào sọ của giới trẻ “sự Chống Cộng ngày nay đã lỗi thời”,
mặc dầu bọn cầm quyền Việt Cộng vẫn đang trên tiến trình súc vật hóa
dân tộc bằng cách tiêu diệt tiếng nói, tiêu diệt tư tưởng. Nói ra câu này thì
có vẻ bất nhã, nhưng vẫn phải nói. Đó là tình hình hoạt động Chống Cộng ở Hải
ngoại chỉ nặng tính hình thức để phô trương, hơn là để mang lại kết quả cụ thể.
Trước
năm 1975, tôi đánh giá thấp trí thức Miền Nam. Sau năm 1975, tôi cũng đánh giá
thấp trí thức Hải ngoại. Một cựu Tư Lệnh Không Quân, vừa là nhà văn được giải
thưởng văn chương, vừa là Giáo sư Tiến sĩ Toán Học, dù được tôi cảnh báo, nhưng
vẫn cam tâm khuất thân làm ngoại vi cho bọn Việt Tân để biến một đạo quân hào
hùng, can trường, thành một Tập thể Chiến sĩ chỉ làm mỗi một công tác kéo cờ
lên, hạ cờ xuống, phủ cờ, xếp cờ và mặc kệ bọn con buôn làm Đại Nhạc Hội dưới danh
nghĩa từ thiện để lấy tiền bỏ túi riêng. Phó Đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại viết cuốn “Can Trường Trong Chiến Bại”, nhưng tại
sao im lặng để cho ông Nguyễn Xuân Vinh biến Tập Thể Chiến Sĩ thành Đại Đội
Chung Sự chỉ biết lo việc tang tế, thay vì thực hiện một cơ quan ngôn luận để
chống lại sự tuyên truyền của Việt Cộng?
Tôi
chỉ trình bày sơ lược về một số sự kiện để quý vị thấy những người trí thức được
đồng bào trọng vọng, kính nể nhưng bất xứng ở chỗ không nhìn ra sự tác hại của
cái gọi là Kháng Chiến Bịp Bợm của ông Hoàng Cơ Minh đã đưa đến một Cộng Đồng
bát nháo, cá mè một lứa. Có thể dùng câu “Trí thức nào, Cộng Đồng đó” là rất
đúng với tình cảnh ngày hôm nay.
Một
người bạn Quốc gia Hành Chánh (QGHC) rủ tôi đi nghe buổi nói chuyện của Giáo sư
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng vào ngày 27 tháng Tư, tại trụ sở của báo Người Việt về
sáu (6) thủ đoạn nham hiểm của Henry Kissinger trong ý đồ bức tử Việt Nam Cộng
Hòa. Thú thực, tôi chẳng mấy hứng thú đi nghe mấy ông trí thức nói chuyện Đất
Nước. Thủ đoạn bức tử Việt Nam Cộng Hòa của Kissinger đã thành quá khứ. Dù có
nói đến cũng bằng thừa mà thôi. Tại sao chẳng có “học giả” nào nói đến vấn đề
trước mắt là Hoa Kỳ đang đối diện một cuộc chiến tranh giữa Sự Thật và Sự Dối
Trá, rất giống Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975? Tôi hỏi người bạn QGHC: “Sau cuộc nói chuyện của Tiến sĩ Nguyễn Tiến
Hưng, cử tọa có được quyền đứng lên phát biểu ý kiến không?”. Anh bạn QGHC
cam kết là có, vì theo thư mời tham dự có nhấn mạnh hai chữ “thảo luận”. Nể lời
bạn một phần và một phần khác là vì tôi muốn nhân cơ hội này để trình bày cho mọi
người “thấy” nguyên do nào đã đưa đến tình trạng rối ren trên đất nước Hoa Kỳ
hiện nay. Tôi nhận lời đi tham dự. Đến nơi, thấy hai bên sân khấu của hội trường
dựng hai cái “micro”, tôi đinh ninh thế nào cũng sẽ có cuộc “thảo luận” đúng
như thư mời.
Mở
đầu, Trưởng ban Tổ chức mở màn giới thiệu diễn giả từng du học ở Mỹ, về nước
làm Bộ trưởng Kế Hoạch của Nội Các Nguyễn văn Thiệu, sau năm 1975 là Giáo sư
trường Đại Học Howard (nghe phát âm như Harvard) và tác giả hai bộ sách đồ sộ
là “Hồ Sơ Dinh Độc Lập” và “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”. Ở đây, tôi
xin nói cho độc giả biết trường Đại Học Howard tọa lạc tại Washington DC, mà đa
số sinh viên là người Da Đen. Đề tài nêu ra trong thư mời là nói về thủ đoạn bức
bách của Henry Kissinger, nhưng diễn giả chẳng cho thính giả “thấy” một điểm
nào về thủ đoạn của tên cáo già Kissinger. Chỉ có một “bí mật” khá thú vị được
diễn giả “bật mí” là Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã dự trù đưa ra đảo Phú Quốc
một triệu quân nhân và một triệu công chức để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa, giống
như Tưởng Giới Thạch dời ra đảo Đài Loan để bảo vệ Quốc Dân Đảng để chờ ngày giải
phóng lục địa. Nguồn lợi cung cấp là hải sản và kỹ nghệ du lịch. Tôi không rõ
chuyện ấy là sự thực hay do diễn giả hư cấu. Tôi không tin diễn giả nói sự thực,
vì không lẽ Tổng thống Thiệu ngu đến mức độ đánh giá đảo Phú Quốc nhỏ như cái
móng tay mà có tiềm năng sinh tồn so với đảo Đài Loan được Mỹ yểm trợ từ tài
chánh đến binh khí, trong khi Mỹ đã nhất quyết bỏ Việt Nam Cộng Hòa.
Vì
đã từng tham dự các buổi nói chuyện của các ông Tiến sĩ, tôi không kỳ vọng Tiến
sĩ Nguyễn Tiến Hưng nói lên điều gì có thể giải quyết vấn đề Việt Nam hôm nay.
Tôi chờ đến phần thảo luận để nói lên những thủ đoạn của “Deep State”, mà chẳng
có ai đề cập tới. Nhưng sau khi diễn giả chấm dứt cuộc nói chuyện, ông Trưởng
ban Tổ chức bảo ai có câu câu hỏi thì ghi vào giấy, rồi đưa cho Ban Tổ chức đọc
lên. Tôi phản đối Ban Tổ chức đã không giữ lời hứa như trong thư mời: “Tôi đến dự vì hai chữ “thảo luận”, chứ tôi không
đến dự cuộc họp báo để viết câu hỏi”. Ông Trưởng ban Tổ chức trả lời: “Tôi là người có kinh nghiệm tổ chức. Tôi muốn
buổi nói chuyện này thành công. Nếu để cho mọi người phát biểu thì sẽ lộn xộn,
không thể kiểm soát được người nói lạc đề”. Nghe câu trả lời của ông Trưởng
Ban Tổ chức, tôi hỏi: “Ông có hiểu hai chữ
‘thảo luận’ là gì không?”, rồi đứng lên ra về, vì có nán ngồi lại, chỉ thêm bực mình.
Ra
xe, tôi nói với anh bạn QGHC: “Tôi rất tiếc
cho công lao của người đẻ ra nền Cộng Hòa Việt Nam. Trường QGHC bỏ ra ba năm rưỡi
đào tạo cán bộ Hành Chánh để điều hành việc nước, mà trình độ của họ thật là
khiêm tốn! Nội cái việc tổ chức một cuộc nói chuyện cho “học giả” mà sợ “thảo luận”, thì đứng ra tổ chức làm gì?”.
Anh bạn QGHC cũng đồng ý nhận xét của tôi. Một anh bạn láng giềng xuất thân trường
QGHC nói với tôi: “Anh hãy thông cảm cho
học giả Nguyễn Tiến Hưng nói lạc đề, vì ở tuổi 89 (GS Hưng sinh năm 1935) chắc
chắn trí nhớ không còn minh mẫn”. Nghe câu bào chữa ấy, tôi liên tưởng đến
lời giải thích ông John Durham – Special Counsel – tuyên bố Joe Biden tuy có tội,
nhưng không thể truy tố vì bị mất trí nhớ. Mất trí nhớ thì không bị kết tội,
nhưng lãnh đạo Quốc Gia không ra gì thì được? Khôi hài nhỉ?
Nếu
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng tự biết đã mất trí nhớ thì đi diễn thuyết làm gì để
làm phiền lòng người đi nghe? Tôi là một quân nhân thuần túy, bằng cấp chẳng ra
gì, kiến thức chỉ ở tầm bậc Trung Học, nhưng cảm thấy xót thương dân tộc mình
“bốn ngàn tuổi mà không chịu lớn”, vì các Ngài khoa bảng phần lớn đều là “học
giả”, còn “học thiệt” thì vắng như lá Mùa Thu!
Tưởng
rằng đi dự buổi nói chuyện của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng về đề tài “thủ
đoạn của ông Do Thái Kissinger bức tử Việt Nam Cộng Hòa”, tôi sẽ có ít phút để
nói về chủng tộc Do Thái đang lãnh đạo nước Mỹ mà hiếm có người đề cập tới. Rất
nhiều người Việt Nam đã trở thành công dân Mỹ, nhưng nước Mỹ không phải là của
mình, nên thây kệ nước Mỹ ra sao thì ra. Với lại trong số người Việt tị nạn cộng
sản có trà trộn vào một thành phần rất quái đản vẫn còn mang tư tưởng “Đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào. Đánh cho chết mẹ
đồng bào Việt Nam” (Bùi Giáng) như Tiến sĩ Đinh Xuân Quân, Luật sư Nguyễn
Hoàng Duyên.
Dưới
đây là những điều tôi dự định trình bày để chia sẻ với cử tọa.
1/
Các Tổ phụ Hoa Kỳ khai sinh ra nước Mỹ thuộc dòng giống Anglo-Saxon, xây dựng đất
nước dựa trên triết lý Kitô giáo, nhưng không coi Kitô giáo là Quốc giáo. Mọi
tôn giáo khác đều được hưởng những đặc quyền như nhau. Vì gồm có nhiều chủng tộc
khác nhau, Hoa Kỳ lấy Niềm Tin tinh thần vào “In God We Trust” và đặt Đất Nước dưới sự quan phòng của Chúa “One Nation Under God” để có sức mạnh,
nhằm đạt lý tưởng tự do dân chủ. Do đó, các quốc gia trên thế giới mới giành độc
lập, đã noi theo Hiến Pháp Hoa Kỳ, để xây dựng dân chủ.
2/
Những dân tộc đến lập nghiệp tại Miền Đất Hứa (Promised Land), Do Thái là dân tộc
thông minh nhất về mọi phương diện và giỏi làm giàu vào bậc nhất. Vũ trụ quan
và nhân sinh của Do Thái là: “Tiền là Thượng Đế và trí tuệ mà không làm
giàu, thì không đáng được coi là trí tuệ”. Từ tinh thần thực tiễn đó,
Do Thái tuy ít dân số, nhưng kiểm soát huyết mạch và trí tuệ của nhân dân Hoa Kỳ
về mọi lĩnh vực. Nói một cách khác, lãnh đạo nước Mỹ toàn diện từ bên trong là
Do Thái.
3/
Có một điều ít ai biết, ngay cả những nhà trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng như
Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell, Pablo Picasso, Charlie Chaplin đều nghĩ rằng
chủ nghĩa xã hội của hai ông Do Thái Karl Marx-Lenin lập ra là để đấu tranh cho
người cùng khổ nhằm mang lại sự công bằng cho mọi giai cấp, làm theo khả năng,
hưởng theo nhu cầu, để chống lại chủ nghĩa Tư Bản. Nhưng đó là trò đại bịp, bởi
vì sau khi Cộng sản cướp chính quyền thì người dân bị bóc lột còn tệ hại hơn Tư
Bản. Thực chất chủ nghĩa Cộng sản vô thần là để chống Chúa Jesus Christ mà hơn
hai ngàn năm trước bọn Sadducees và Pharisees đã áp lực quan Tổng trấn La Mã
Pilate phải ra lệnh đóng đinh Chúa lên thập tự giá. Theo giải thích: “Sadducees were upper-class wealthy men mostly from
Jerusalem who made up the Jewish aristocracy. Pharisees came from all economic
classes but were distinguished by their rigid adherence to specific behavior
prescriptions arising from their interpretation of the ambiguities in the Torah”.
(Người Sadducees là thành
phần thuộc tầng lớp thượng lưu, hầu hết đến từ Jerusalem, tạo
nên tầng lớp quý tộc Do Thái. Người
Pha-ri-si đến từ mọi tầng lớp kinh tế nhưng được phân biệt bởi sự tuân thủ cứng
nhắc của họ đối với các quy định về hành vi cụ thể, phát sinh từ cách giải thích của
họ về những điều mơ hồ trong Kinh Torah). Nhiều chính trị
gia Việt Nam cứ tưởng sở dĩ chủ nghĩa Cộng sản bành trướng nhanh chóng là vì nó
đấu tranh cho dân nghèo. Cho nên, các ông Việt Nam làm chính trị cứ tưởng đưa
ra giải pháp chống Cộng sản là làm cho mỗi gia đình Việt Nam mỗi nhà có cái tủ
lạnh, cái TV, cái xe Honda và đủ ăn đủ mặc là dân hết theo Cộng sản. Quan niệm
đó hoàn toàn sai lầm. Bằng cớ nhiều trí thức Miền Nam được chế độ Việt Nam Cộng
Hòa ưu đãi, ăn trên ngồi trước, vẫn theo Cộng sản! Thiếu gì bọn nhà giàu làm
tay sai Cộng Sản?
4/
Tên nước Israel do Vua Jacob đặt ra, theo ngôn ngữ Hebrew, có nghĩa là đấu
tranh với Chúa Trời. Do đó, Israel không tin Đức Jesus là Đấng Cứu Thế. Cho nên,
phá thai, đồng tính luyến ái, chuyển giống, ấu dâm là vũ khí để chống chúa
Jesus.
5/
Người Mỹ dùng chiến tranh Việt Nam là có ý đồ “Cộng sản hóa nước Mỹ” với mục
đích chống lại niềm tin “In God We Trust”. Phải hiểu chữ “Người Mỹ” thuộc chủng
tộc nào thực sự lãnh đạo nước Mỹ, thì mới chính xác. Người Việt tị nạn ở Mỹ sau
5 năm trở thành công dân Mỹ, cũng được gọi là Người Mỹ, nhưng đâu phải là thành
phần quyết định số phận của nước Mỹ? Với sức mạnh về vũ khí và chiến binh tinh
nhuệ, Hoa Kỳ thừa sức đè bẹp Việt Cộng chừng vài tháng giống như Đại tướng
Douglas MacArthur thanh toán Liên quân Trung Cộng và Triều Tiên năm 1953. Câu hỏi
cần phải đặt ra: “Tại sao Người Mỹ kéo dài chiến tranh Việt Nam đến 20 năm? Đại
tướng Westmoreland ngỏ lời xin lỗi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là ngầm cho chúng
ta hiểu rằng Quân đội Hoa Kỳ bị bó tay. Ai có quyền “bó tay” lính Mỹ, nếu không
phải là các nhà làm chính sách gốc Do Thái? Người Mỹ cố tình kéo dài chiến
tranh Việt Nam suốt 20 năm, để cho 58 ngàn binh sĩ chết, thì họ mới có thể dựng
lên Phong trào Phản Chiến. Lối sống buông thả, thác loạn kiểu “hippy” qua khẩu
hiệu “make love, not war” và nghiện Sì-ke ma túy là chủ trương làm bại hoại
tinh thần yêu nước của thanh niên Mỹ. Danh từ “liberal” thực chất là Cộng sản
trá hình. Những lãnh đạo nước Mỹ như Bill Clinton, Al Gore, George W. Bush,
John Kerry, Mitt Romney … đều là sản phẩm của Phong trào Phản Chiến. David
Horowitz – một cựu đảng viên Cộng sản Mỹ đã ly khai – viết sách nói đến cuộc bầu
cử năm 2024 là “Trận Chiến Cuối Cùng” (The Final Battle) để mô tả tình hình
chính trị của nước Mỹ hiện nay là một sửa soạn lâu dài, chứ không phải xảy ra “overnight”
(ngày một ngày hai). Nếu sau năm 2024, Joe Biden vẫn được ngồi ghế Tổng thống,
nền văn minh tự do dân chủ của Mỹ sẽ bị coi như cáo chung. Không còn ai được
quyền mở miệng!
6/
George Soros là người Hung-Gia-Lợi gốc Do Thái, có xu hướng Cộng sản, là người
dựng ông Nghị sĩ Barack Hussein Obama mới đắc cử vào Thượng Viện, mà trở thành
Tổng thống ngay, thì ta phải hiểu Do Thái lãnh đạo nước Mỹ chứ còn ai vào đây?
Nhà tỷ phú Donald Trump đã thấy nguy cơ của nước Mỹ. Từ năm 1995, trả lời phỏng
vấn của Larry King, Oprah Winfrey, ông Trump đã nói rằng ông mong muốn sẽ có một
nhà lãnh đạo yêu nước, có bản lĩnh, xuất hiện để chống lại âm mưu “xã hội hóa”
nước Mỹ. Nhìn quanh quẩn chẳng thấy nhân vật nào đủ bản lĩnh tát cạn đầm lầy,
ông Trump mới tuyên bố sẽ tranh cử Tổng thống năm 2015. Tổng thống Barack
Hussein Obama – một công cụ đắc lực của Deep State – đã chuẩn bị hết sức chu
đáo cho bà Hillary Clinton chắc chắn sẽ đắc cử Tổng thống năm 2016. Chủ quan đến
độ tờ tuần báo Newsweek in trên trang bìa 150 ngàn số báo với lời chào mừng người
phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ làm Tổng thống và Ủy ban Tranh cử của bà
Hillary đã đặt tiệc trước để ăn mừng. Không ngờ Trời bất dung gian, nhà tỷ phú
Donald Trump chưa bao giờ tranh một chức vụ dân cử nào, trở thành Tổng thống.
7/
Nếu bà Hillary đắc cử năm 2016, nhân dân Hoa Kỳ sẽ chết từ từ giống những con ếch
thoải mái trong nồi nước lạnh cho đến lúc nước sôi lên. Nhờ Tổng thống Donald
Trump đắc cử (do ý Trời), nhân dân Hoa Kỳ mới quan tâm đến chính trị, vì không
ngờ những lãnh đạo trong đảng Cộng Hòa là RINO, làm tay sai cho Deep State chống
lại quyền lợi và tín điều của nước Mỹ. Tổng thống George Bush từng lãnh đạo nước
Mỹ, không ngu đến nỗi không thấy đảng Dân Chủ đang tàn phá nước Mỹ. Nhưng ông
Bush im lặng, là bởi vì đã bị “Deep State” khống chế bởi một lý do bí mật. Mitt
Romney từng đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử Tổng thống, cũng là một RINO!
8/
Các Nghị sĩ, Dân biểu gốc Do Thái ở Thượng Viện và Hạ Viện đều chống lại chương
trình MAGA của Tổng thống Donald Trump, vì mục đích phải triệt hạ tư tưởng “In
God We Trust” bằng mọi giá. Rõ ràng nhất là Dân biểu Adam Schiff và Jerry
Nadler gốc Do Thái đánh Tổng thống Donald Trump tàn bạo nhất. Thậm chí nữ Dân
biểu Elizabeth Cheney – con gái Phó Tổng thống Dick Cheney gốc Do Thái – cũng
“đánh” Tổng thống Donald Trump hết sức quyết liệt. Cuộc chiến tranh Tôn Giáo
đang xảy ra trên Miền Đất Hứa đang ăn thua đủ, như lời cảnh báo của Đức Tổng
Giám mục Carlo Mario Viganò – Đại diện Tòa thánh Vatican – ở Mỹ
là chuyện có thật. Những tên có bằng cấp như Tiến sĩ Đinh Xuân Quân, Luật
sư Nguyễn Hoàng Duyên đâu phải là loại ngu dốt mà không thấy nước Mỹ đang trong
cơn hấp hối giống như Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975? Chẳng qua cái bọn khoa
bảng này không chịu ăn cơm, thì mới không còn khả năng biết xấu hổ giống Việt Cộng
mà thôi.
Có
rất nhiều bằng chứng cụ thể để nói lên dấu hiệu suy tàn của nước Mỹ. Chỉ sợ làm
phiền độc giả, tôi chỉ nêu ra 8 điều để quý vị nhìn ra nước Mỹ đang lâm nguy.
Nếu
đích thực là người Phật tử chân chính, khi thấy những tên ma tăng làm bậy, thì
phải lên tiếng ngăn ngừa mới tránh cho đạo của mình đi vào Mạt Pháp.
Nếu
là tín hữu Kitô giáo mà thấy bọn Chống Chúa (Antichrist) đang ra tay tiêu diệt
lời Chúa dạy, thì phải hành động, chứ không phải chỉ cầu nguyện thôi là đủ.
Nếu
là người trí thức biết noi theo lời dạy của nhà Cách mạng Phan Chu Trinh thì phải
lên tiếng giáo hóa những tên khoa bảng như Đinh Xuân Quân, Nguyễn Hoàng Duyên để
quần chúng không khinh thường giai cấp của mình. Cụ Đỗ Ngọc Hiến, Giáo sư Khoa
Kinh tế trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tuy đã cao tuổi, mà còn cặm cụi viết những
bài tham khảo để chỉ ra cho đồng bào thấy nước Mỹ đã bị lãnh đạo bởi một tập
đoàn vô tư cách. Tại sao chỉ có Cụ Đỗ Ngọc Hiển viết bài giải thích “Tại sao
tôi bầu cho Tổng thống Donald Trump”, còn nhưng trí thức khác trốn ở đâu?
Trong
nước có cô Hân Phan, một người trẻ sinh sau năm 1975, viết bài “Người Việt Nam
Hèn Hạ”. Tôi đã cảm thấy vô cùng thương xót cho toàn dân phải bị sống dưới sự
cai trị bởi một tập đoàn lãnh tụ (hay tủ lạnh?) vô lương tâm, làm tay sai cho
quân thù, nên phải cam chịu số phận HÈN. Ở Hải Ngoại, chẳng có Chính quyền nào
đè nén, áp bức, tra khảo, nhưng tại sao lại có hiện tượng bọn buôn thần, bán
thánh, bọn con buôn Kháng Chiến vẫn ngang nhiên như chỗ không người? Có phải đấy
là hiện tượng nhất thời hay đó là bản chất nòi giống Việt Nam vốn HÈN? Tôi chỉ
nêu lên câu hỏi để mọi người trả lời, chứ tôi không vội vã kết luận dân Việt
hèn đâu nhé!
Mời
độc giả mở đường “link” này để tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Do Thái:
https://youtu.be/1NzaQzlGpfw?si=ELW7qfWOX4ax4N77
Theo
Kinh Thánh, Do Thái và Ả Rập là hai dân tộc có cùng một Tổ phụ Abraham, nhưng
quyết thanh toán nhau là do một lời nguyền. Tôi nghĩ dân tộc Việt Nam thông
minh, dũng cảm, khí phách mà trở nên CHIA RẼ, PHẢN PHÚC, NGU và HÈN như ngày nay
cũng do một lời nguyền rủa của một dân tộc đã bị các bậc tiền bối Việt Nam tru
diệt. Bởi vì ai có thể giải thích những sự kiện cực kỳ phi lý đã xảy ra? Hãy tạm
cho rằng vì khát khao Độc Lập, trí thức vào hàng bậc nhất bị Hồ Chí Minh lừa để
rơi vào tình cảnh huynh đệ tương tàn. Tại sao một ông Phó Đề đốc Hải Quân của
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bày ra một tổ chức Kháng Chiến Giải Phóng Dân Tộc chống
bọn cầm quyền Việt Cộng một cách bá láp mà những ông/bà to đầu chẳng những
không can ngăn, mà lại có kẻ tham gia một cách hăng say? Tại sao ông Hoàng Cơ
Minh cải trang mình giống hình tượng của tên tội đồ Hồ Chí Minh mà cái tổ chức
lừa đảo vẫn tồn tại tới ngày nay? Tại sao lãnh đạo Mặt Trận có Đại tá Phạm văn
Liễu – nguyên Tổng Giám đốc Cảnh sát – và Đại tá Trần Minh Công – Viện trưởng Học
Viện Cảnh Sát Quốc Gia – lại có thể chấp nhận để cho Kinh tế gia Nguyễn Xuân
Nghĩa – cháu ruột của Tổng Bí thư Việt Cộng Mười Cúc Nguyễn văn Linh – giữ chức
Tổng Tuyên huấn để đào tạo tư tưởng cán bộ? Tại sao “học giả” Nguyễn Ngọc Bích
bỏ công sức ngồi dịch tài liệu học tập của băng đảng Việt Tân ra Anh ngữ mà tôi
cảnh giác, nhưng “học giả” không thèm nghe lời? Tại sao anh Nguyễn văn Khanh –
con của một ông Đại tá Nhảy Dù – Giám đốc phần Việt Ngữ của đài Á Châu Tự Do
(RFA). lại bỏ công huấn luyện kỹ thuật làm Truyền thông cho cán bộ băng đảng Việt
Tân? Liệu “học giả” Nguyễn Ngọc Bích và Giám đốc Nguyễn văn Khanh có nhận tiền
thù lao của Việt Tân hay làm thiện nguyện (làm chùa)? Có rất nhiêu hai chữ “Tại Sao” để đặt ra,
nhưng sợ rằng bài viết quá dài, làm mệt mắt độc giả, thành thử tôi chỉ nêu ra
chừng ấy câu hỏi như trên mà thôi!
Dưới
đây là bài nói chuyện của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng Kế Hoạch
của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Giáo sư Đại Học Howard tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Mời quý độc giả mở ra xem để biết trình độ kiến thức của một người thuộc hàng
lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hòa, rồi tự kết luận:
https://youtu.be/ZzOq41aF33E
Thưa quý độc giả,
Tôi viết xong bài này vào
ngày 30 tháng Tư, năm 2024 để đánh dấu sau 49 năm Ngày Đau Thương của dân tộc.
Nhưng hôm nay tôi mới phổ biến vì bận tham gia lễ lạc và tiếp đãi bạn bè ở xa về.
Hôm nay là ngày lễ “Cinco de Mayo” của người Mễ kỷ niệm chiến thắng Thực dân
Pháp trong trận đánh Puebla năm 1862, cũng là ngày giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tiến
Hưng ra mắt sách.
Ra mắt sách dường như là một
nạn dịch (Epidemic) của các nhà trí thức Việt Nam, nhưng chẳng có một tác dụng
nào trong việc xây dựng Cộng Đồng vững mạnh và sách lược chống Cộng một cách hữu
hiệu. Thành thử triệu chứng làm giáng khá phổ biến, nhưng kết quả chẳng có gì,
vì “tri” và “hành” không hợp nhất. Tức là “thinker” thì đông, nhưng “doer” thì
chẳng có ai. Cũng như nếu Karl Marx viết Tư Bản Luận và Tuyên Ngôn Cộng Sản mà
không có Lenine đem thực hiện, thì sách của Karl Marx đóng bụi trong thư viện
mà thôi!
Tôi xin kết luận tình trạng
nhân dân Việt Nam thống khổ đến ngày hôm nay là phía Cộng sản và phía Quốc gia
đều bị rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng lãnh đạo, giống như chiếc thuyền không có
bánh lái lênh đênh giữa biển trôi dạt chẳng biết về đâu. Sự chia rẽ sâu sắc đến
độ không ai đồng ý với ai. Trí thức là bộ óc của dân tộc thì vô trách nhiệm với
giống nòi, chỉ biết yên thân vì sợ bị bọn thời cơ (opportunistic) bôi nhọ thanh
danh.
Lặp lại: Tôi viết để cho
người đời mai sau hiểu rằng tôi đã sống trong một thời đại quái đản như thế.
Tôi không nuôi tham vọng có thể cải tạo được tình trạng xuống cấp để đóng góp
vào một tương lai tươi sáng hơn.
Bằng Phong Đặng văn Âu.
Ngày 30 tháng Tư năm 2024.
Telephone: 714 – 276 –
5600 . bangphongdva033@gmail.com