Search This Blog

Tuesday, June 14, 2022

BÀI THỨ HAI - KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

                                                           Bài Thứ Hai

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/bai-thu-hai-khong-con-la-moi-nguy-co.html

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

_______________________________________________________________                       _

Ý thức rằng không ai có thể quay trở về quá khứ để thay đổi lịch sử, tôi chỉ làm công việc phân tích để tìm hiểu tại vì sao một dân tộc thông minh, dũng cảm mà trở nên ngu độn và hèn nhát. Cô giáo Trần thị Lam làm bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh” và nữ doanh gia Hân Phan viết bài “Người Việt Nam Hèn Hạ” không có nghĩa là hai cô có ý miệt thị, chê bai dân tộc mình. Hai người phụ nữ trẻ cảm thấy mình là nạn nhân của một thời đại quái đản mà viết ra thành lời.

Dân tộc Việt Nam đang mắc phải căn bệnh rất trầm trọng. Không thể ra sau vườn kiếm mớ lá vào xông mà khỏi bệnh. Cần phải mổ xẻ để tìm căn nguyên thì mới mong chữa lành khối u được. Và một khi phải dùng dao kéo để mổ xẻ, ắt gây đau đớn. Người viết không phải là thầy thuốc, chỉ làm việc định bệnh mà thôi. Còn muốn được lành bệnh hay không là do quyết định của con bệnh.

Có một độc giả viết Email chất vấn người viết như sau:

  Ông bảo rằng vua chúa triều Nguyễn phạm tội diệt chủng dân Chàm, con cháu Nhà Nguyễn chịu tội quả báo thì còn nghe được. Những người họ Trần, họ Lê, họ Phạm … mắc mớ gì phải chịu chung số phận?

Tôi xin thưa:

  Luật Nhân Quả, có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Thí dụ, một người chưa tới số chết, nhưng đi trên chiếc tàu mà người điều khiển con tàu tới số chết, phạm vào lỗi lầm kỹ thuật, khiến cho những hành khách trên tàu cùng bị chết theo. Đó gọi là cộng nghiệp. Nhà lãnh đạo Đất Nước cũng giống như người cầm lái con tàu.

Tôi không vô lễ, vô ơn đối với các bậc tiền bối. Chẳng qua vì lời nguyền rủa của những người vô tội bị chết oan, mà dân mình mới ra nông nỗi này. Chủ nghĩa cộng sản là một tôn giáo (đạo) của ma quỷ. Nó trở nên thích hợp cho những oan hồn sử dụng để báo thù. Trong Kinh Thánh cũng có nói đến Thiên thần Lucifer chống Chúa Trời, bị Thiên thần Michael đánh bại và bị đặt tên là Satan. Cộng sản chính là con quỷ Satan đã nhập vào thân xác Việt Nam để hủy diệt nòi giống Việt Nam. Người Cha đẻ của chế độ Cộng Hòa Việt Nam đã bị giết chết, vì không có kính chiếu yêu giống như Tề Thiên Đại Thánh sở hữu, để biết trong đám cận thần đứa nào là người, đứa nào là ma.

Hãy cho rằng những trí thức Việt Nam quá khát khao độc lập, tự do, hạnh phúc, nên họ không nhìn thấy Hồ Chí Minh là một tên cờ gian bạc lận, đạo đức giả, bày trò kháng chiến chống Thực dân Pháp là bịp. Nhưng sau cái gọi là Cải Cách Ruộng Đất long trời khiến hàng trăm ngàn người dân vô tội bị đấu tố một cách nhục nhã, bị giết hại một cách tàn bạo, tại sao lại có bọn người mang danh nghĩa trí thức ở Miền Nam được tự do sung sướng, ăn trên ngồi trước vẫn không thấy sự bất nhân bất nghĩa của quân cộng sản khát máu, mà lại âm thầm làm tay sai cho quỷ sứ? Vậy chỉ còn câu trả lời xác đáng nhất là bọn trí thức, bọn Tướng lãnh phản bội ấy bị ma ám, quỷ hành mà thôi!

Năm 1954, hai phe Cộng sản và Tư bản cắt đôi nước Việt Nam ra làm hai mảnh. Cựu Hoàng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm từ Hoa Kỳ sang Paris để giao trọng trách lãnh đạo Miền Nam. Cựu Hoàng chọn ông Ngô Đình Diệm là đúng, vì biết ông Diệm là một người hết lòng yêu nước Việt Nam. Khi mới ngoài 30 tuổi, ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại (Thủ tướng) vì Thực dân Pháp không thỏa mãn yêu sách của ông, đủ chứng tỏ ông không tham quyền cố vị. Mấy ai có hành động bất khuất, không ham chức tước, không ham quyền hành như ông Diệm? Thấy tình hình quá khó khăn, ông Diệm ban đầu từ chối vì tự nghĩ không thể đảm đương nhiệm vụ. Cuối cùng, Cựu Hoàng đã phải kêu gọi tình thần ái quốc, trách nhiệm đối với các bậc Tiên Đế thì ông Diệm mới nhận lời. Bọn Việt Cộng tuyên truyền ông Diệm là tay sai của Hoa Kỳ, mà trong đó có bọn trí thức ngu đần ở Miền Nam cũng phụ họa theo.

Nếu nước Việt Nam nằm vào vị trí trong một góc khuất của thế giới, như Tân Cương, Tây Tạng thì không việc gì Hoa Kỳ phải nhảy vào can thiệp. Theo thuyết Domino, Hoa Kỳ cho rằng nếu quân cờ Domino Miền Nam đổ, thì sẽ kéo những quân cờ khác như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba … đổ theo. Đáng lý ra, trí thức Miền Nam phải vui mừng vì nhờ vị trí đặc biệt của nước mình, nên được Hoa Kỳ giúp đỡ để có phương tiện tài chánh, quân sự nhằm trả thù cho những đồng chí của mình bị cộng sản thủ tiêu và nhằm chống làn Sóng Đỏ đang ập tới. Trái lại, họ chia rẽ nhau và chống đối nhau còn quyết liệt hơn cả chống lại kẻ thù của dân tộc. Tại sao giai cấp trí thức được chế độ Miền Nam trọng vọng, ưu đãi không thấy rằng nếu Việt Cộng chiếm được Miền Nam thì số phận của họ chẳng khác gì các địa chủ ở Miền Bắc bị Việt Cộng đem ra đấu tố, tàn sát? Chỉ có hai chữ “quỷ ám” thì mới lột tả nổi sự ngu độn của trí thức mà thôi!

Có một số bạn đọc tỏ ra bất bình vì tôi thường chê bai giai cấp trí thức. Không! Tôi rất kính trọng người trí thức, vì tôi cho rằng họ được trời ban cho trí thông minh để học hành đỗ đạt. Bằng cấp là thước đo trình độ nhận thức để biết cái đúng, cái sai hơn người kém học vấn. Không ai gọi người lao động, người nông dân chân lấm tay bùn là trí thức cả. Người trí thức là sự kết tụ của khí thiêng sông núi. Họ phải tự nhận thấy họ có trách nhiệm và bổn phận hướng dẫn tư tưởng quần chúng để đưa dân tộc lên một tầng cao Văn Hóa. Những sinh viên đã dấn thân tham gia vào các đảng cách mạng như Đại Việt, Quốc Dân Đảng vừa chống Pháp vừa chống Cộng, đều là những người yêu nước, có lý tưởng dân tộc. Tại sao họ không lợi dụng việc Hoa Kỳ giúp phương tiện tài chánh, quân sự cho Miền Nam là cơ hội bằng vàng để trả thù cho những đồng chí bị Việt Cộng thủ tiêu, mà lại chia rẽ nhau và chống lại chính quyền ông Diệm một cách quyết liệt. Chẳng lẽ họ không hiểu “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” hay sao?

Ông Ngô Đình Diệm về nước lãnh một bãi rác khổng lồ. Những đầu nậu của ổ điếm Bình Khang, sòng bạc Kim Chung và sòng bạc Đại Thế Giới là dân dao búa lũng đoạn nền hành chánh do Thực dân Pháp để lại. Công An và Cảnh sát là hai cơ quan giữ gìn an ninh, trật tự xã hội đa phần là tay sai Thực dân Pháp hoặc là đàn em của đầu nậu tứ chiếng giang hồ như Năm Lửa, Bảy Viễn.

Mặc dầu biết Trung tướng Nguyễn văn Hinh một người Việt Nam mang Quốc tịch Pháp   làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia do Pháp thành lập, nhưng ông Diệm vẫn mời giữ nguyên chức vụ cũ để xây dựng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông Tướng Hinh từ chối và trả lời một câu rất ngạo mạn: “Tôi không biết ông là ai!”. Ông Tướng Hinh bỏ nước Việt Nam, trở về Pháp, gia nhập Quân Đội Pháp và được Pháp ban đầu gắn cho cái lon Trung tá. Những sĩ quan Việt Nam trước kia phục vụ dưới quyền Tướng Hinh, giữ chức vụ cao nhất là Tiểu Đoàn trưởng (nhưng vẫn còn làm phụ tá cho sĩ quan Pháp), như các ông Dương văn Minh, Lê văn Kim, Trần văn Đôn, Phạm Xuân Chiểu, Thái Quang Hoàng, Dương văn Đức, Tôn Thất Đính, Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh v… v… theo phò Thủ tướng Ngô Đình Diệm, được ông Diệm thăng  cấp để nắm giữ những chức vụ chỉ huy như Sư Đoàn, Quân Khu và để xây dựng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung, do hoàn cảnh lịch sử, các vị này chưa ai đủ khả năng để nắm giữ Đại Đơn Vị và chưa có thành tích trận địa chiến nào đáng kể. Họ được giữ chức vụ lớn là do nhu cầu thời thế.

Tuy mang danh là sĩ quan Quân Đội Quốc Gia, nhưng có thể nói rằng khi các vị trở thành Chỉ huy Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, chưa chắc đã có vị nào từng đọc bài “Hịch Tướng Sĩ” của Đức Trần Hưng Đạo. Tôi từng có dịp lái máy bay chở các vị đi họp, đi thị sát mặt trận. Tôi thường nghe họ trao đổi giữa nhau bằng tiếng Pháp. Với cái thái độ coi thường tiếng Mẹ Đẻ, thì tinh thần Quốc Gia đâu có, để chống lại chủ nghĩa “Vô Tổ Quốc” của cộng sản? Nhất là khi thấy Tướng Tôn Thất Đính lúc nào cũng cầm cây gậy chỉ huy (bâton de commandement) trên tay có vẻ hách, giống như các ông quan Tây mà hồi nhỏ tôi từng chứng kiến.

Cán bộ hành chánh cũng do Thực dân Pháp đào tạo, nên phần lớn là công chức “cạo giấy”, chứ chẳng có một chút gì tinh thần Quốc Gia và hiểu biết gì về thủ đoạn tàn ác chủ nghĩa cộng sản để có thể tranh luận tay đôi với Việt Cộng, mặc dầu cán bộ Việt Cộng chỉ là những con vẹt, nói thao thao bất tuyệt, nhưng toàn là ngụy biện. Những quan Đốc Phủ sứ vẫn với tác phong “tối sâm-banh, sáng sữa bò”, thì ông Diệm có muốn làm cuộc cách mạng chống Cộng sản cũng khó lòng thực hiện. Bà Ngô Đình Nhu – Dân biểu Quốc Hội – làm Luật Gia đình nhằm mục đích nâng cao phẩm giá người phụ nữ Miền Nam, cũng bị xuyên tạc. Với dân trí thấp kém do bị đô hộ lâu ngày, làm sao ông Ngô Đình Nhu có thể thực hiện chủ thuyết “Cần Lao Nhân Vị”?

Tuy bị Giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo chống đối và đảng phái chính trị như Đại Việt và Quốc Dân Đảng bất hợp tác, chúng ta phải cảm phục Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã mang lại sự ổn định. Guồng máy Chính quyền từ Hành Chánh đến Quân Đội không có nạn tham nhũng, vì cái uy và sự sống thanh bạch của ông Diệm đã làm cho các quan chức không dám lộng hành. Năm 1959,  Tổng thống Diệm sang thăm Hoa Kỳ được Tổng thống Dwight Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles ra tận phi trường đón tiếp với nghi lễ ngoại giao rất trịnh trọng. Ông Diệm là nhà lãnh đạo Á Châu duy nhất được Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ mời đọc diễn văn. Báo chí Mỹ cũng ca ngợi và so sánh tài năng và uy tín của Tổng thống Ngô Đình Diệm ngang hàng với Thủ tướng Nehru của Ấn Độ. Từ một đống rác, Saigon trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông, khiến cho các nước chung quanh như Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan mơ ước.

Năm 1960, có hai biến cố quan trọng. Thứ nhất, Trung Ương Đảng Lao Động (Cộng sản) ra Nghị quyết thay đổi chủ trương đấu tranh chính trị chống chính quyền Ngô Đình Diệm bằng đấu tranh quân sự. Việt Cộng thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và chính thức ra mắt vào ngày 20 tháng 12 tại Tây Ninh. Thứ hai, Tổng thống John Kennedy đắc cử vào tòa Bạch Ốc.

Chính sách của Mỹ dưới thời đảng Cộng Hòa ở tòa Bạch Ốc cũng bị thay đổi. Cố vấn chính trị về Đông Dương của Tổng thống John Kennedy là Averell Harriman có vợ người Pháp, chủ trương trung lập hóa nước Lào giống như đề nghị của Tổng thống Pháp Charles De Gaulle. Tổng thống Ngô Đình Diệm không đồng ý, vì như thế là giúp Hà Nội đưa quân qua ngã Lào để xâm lăng Miền Nam. Cùng năm đó, Trung tá Vương văn Đông – một sĩ quan tay sai của Pháp – làm cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 với sự tham dự của Đại tá Nguyễn Chánh Thi – Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù – một người rất được Tổng thống Diệm tin cậy. Phía dân sự có Hoàng Cơ Thụy – anh của Tướng Hoàng Cơ Minh – và một số đảng viên Quốc Dân Đảng tham gia. Nhà văn Nhất Linh cũng bị đàn em cung khai có dính líu đến cuộc đảo chánh. Năm 1963, Nhất Linh đòi hỏi không đối chất với đàn em trước tòa. Yêu sách của Nhất Linh không được chính quyền chấp thuận và ông quyết định tự tử với bức thư tuyệt mạng “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do. Ngày 7-7-63”.

Người Mỹ dùng Miền Nam làm tiền đồn ngăn làn sóng Đỏ Cộng sản, đồng thời đòi hỏi lãnh đạo Miền Nam thiết lập một chế độ dân chủ là phi lý. Việt Nam nhiều năm sống dưới nền quân chủ chuyên chính và nền đô hộ của Thực dân, người dân chưa hề có ý niệm về dân chủ thì không một lãnh tụ nào có thể kiến tạo nền dân chủ. Miền Nam đang đứng trước nguy cơ xâm lăng của một bầy dã thú được huấn luyện để trở thành người máy không tim, không óc. Bằng cớ là những Tướng lãnh Việt Cộng như Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Trần văn Trà … đêu ngu, vì không thấy mình là công cụ của một lũ người man rợ đi tiêu diệt nền văn minh như nhà văn Dương Thu Hương nhận ra ngay sau khi bước chân vào một hiệu bán sách của Sài Gòn. Tướng Trần Độ, Trần văn Trà khi bị Đảng thất sủng, thì mới biết mình ngu!

Người Mỹ quan niệm rằng chỉ cần Chính quyền cho mỗi gia đình người dân Việt Nam một cái nhà, cái máy truyền hình, cái tủ lạnh, cái xe máy thì tự nhiên hết cộng sản. Đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Biết bao trí thức ở Miền Nam được địa vị cao, ở dinh thự của chính phủ, xe hơi có tài xế lái mà vẫn ngấm ngầm làm việc cho cộng sản đấy thôi! Miền Nam muốn chống Cộng hữu hiệu thì cần phải có một chính quyền mạnh về tình báo, phản gián và tuyên truyền. Tình báo, phản gián bí mật cài người vào các tổ chức quần chúng nhằm dập tắt kịp thời hành động phản phúc của những phần tử nằm vùng. Một hệ thống kiểm soát báo chí gắt gao để tìm ra tên ký giả nào chớm có tư tưởng phản động, ngầm ca ngợi kẻ thù là tóm ngay. 

Nhờ có một nhà nước độc tài của Tưởng Giới Thạch mà Đài Loan được giữ vững và có chế độ dân chủ. Nhờ có Phác Chính Hi độc tài mà Nam Triều Tiên mới trở thành nước Đại Hàn tân tiến, giàu mạnh và dân chủ tự do. Nhờ Lý Quang Diệu độc tài, dùng kỷ luật sắt dạy cho người hiểu thế nào là dân chủ, thì Tân Gia Ba chỉ là một đảo quốc nhỏ mà không thèm ngửa tay xin viện trợ của thế giới. Miền Nam thua trận là vì Tổng thống Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một nền dân chủ kiểu Tây phương, thì Việt Cộng mới có thể lợi dụng để cài người vào bộ máy chính quyền.

Để có một nền dân chủ thực sự, vấn đề giáo dục phải đặt lên hàng đầu. Miền Nam có một nền giáo dục nhân bản, khai phóng rất đáng ca ngợi. Nhưng đó cũng là cái chết của Miền Nam. Tại sao ư? Tại vì Miền Nam đang đối đầu với cuộc chiến chống ý thức hệ cộng sản, mà chương trình giáo dục không hề dạy cho học sinh, sinh viên những tiểu xảo, thủ đoạn tàn ác của cộng sản là hoàn toàn khiếm khuyết. Lại thêm hễ người nào có bằng cấp cao là được tuyển vào dạy học, mà không hề có cuộc sưu tra quan điểm, lập trường của đương sự thì càng nguy hiểm hơn. Cái thứ phản động như Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cho nó đi dạy học thì nó chỉ tiêm thuốc độc vào đầu óc học sinh ngây thơ. Đa số học sinh Miền Nam cố gắng học hành chăm chỉ để kiếm cơm, để có địa vị xã hội, không ý thức vai trò tượng lai của mình là khai dân trí, chấn dân khí. Đặc biệt họ né tránh vấn đề chính trị, trong khi Việt Cộng vận dụng chính trị tối đa để ngu dân. Tổng thống Diệm đề cao Giáo dục, nhưng không ra lệnh cho Bộ Giáo dục dạy cho học trò hiểu cộng sản là loài quỷ sứ không tim không óc. Vì thế,  Đại Học Huế là một hang ổ Việt Cộng nằm vùng dưới sự chỉ đạo của bác sĩ Lê Khắc Quyến, Bí thư Chi bộ Thuận Hóa.

Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Dương văn Minh đứng đầu lật đổ “chế độ độc tài Ngô Đình Diệm” là bất chính. Tại sao ư? Nếu kết tội anh em ông Diệm là độc tài, tại sao Quân Đội không đưa anh em ông Diệm ra tòa án xử như một Quốc gia thượng tôn luật pháp? Nếu bảo rằng ông Diệm là tội đồ, tại sao không có ông Tướng nào đứng ra tuyên bố “tôi là người xử bắn anh em ông Diệm” để được quần chúng tôn vinh là người hùng? Cho nên, Tổng thống Lyndon Johnson mới dám gọi bọn Tướng lãnh Miền Nam là một lũ côn đồ (gang of thugs)! Thế có đau không, hỡi những quân nhân phục vụ dưới sự chỉ huy của các ông Tướng? 

Dù là một sĩ quan cấp nhỏ, tôi khinh các ông Tướng vì không ông nào đứng lên chống cái việc Dương văn Minh hủy bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược. Quốc sách Ấp Chiến Lược rất hữu hiệu, vì nó đã phá vỡ chủ trương “lấy nông thôn bao vây thành thị của cộng sản”. Vậy cuộc đảo chánh lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa năm 1963 phế bỏ Quốc Sách chống Cộng hữu hiệu mà gọi là “Cách Mạng”, thì chính danh hay phi nghĩa?

Ông Ngô Đình Nhu đã tiên đoán trong sách “Chính Đề Việt Nam” do ông viết rằng nếu chế độ này mà sụp đổ thì chừng 9 hoặc 10 năm sau Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Ông Nhu tiên đoán đúng, vì bọn Tướng phản bội ít học, không được tình yêu nước hun đúc, không có tầm nhìn để thấy nguy cơ cộng sản trước mắt, nhưng lại có súng trong tay thì chỉ đảo chính, chỉnh lý nhau liên tục để tranh quyền đoạt lợi mà thôi!

Cộng sản Hà Nội khinh bỉ trí thức, coi trí thức không bằng cục cứt. Ở Miền Nam, có một bọn trí thức được trọng vọng, được ưu đãi, được hưởng đặc quyền đặc lợi, lại tự động biến mình thành cục cứt đi làm tay sai cho cộng sản. Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa bị bọn Việt Cộng giả danh Phật giáo lật đổ, anh em ông Diệm không còn, các cuộc đấu tranh của những anh đội lốt Thầy Tu vẫn tiếp tục tranh đấu, mà không một nhà trí thức Phật giáo nào lên tiếng phản đối, thì có phải trí thức Phật giáo đồng lõa với quân cướp nước, đúng không? Mời các nhà trí thức Phật giáo hãy lên tiếng biện minh cuộc đấu tranh của Trí Quang là thực sự bảo vệ Đạo Pháp cho mọi người xem.

Cuộc chiến đấu gan dạ, dũng cảm của quân và dân Việt Nam Cộng Hòa để có đời sống Tự Do, Cơm No, Áo Ấm là hoàn toàn có chính nghĩa. Nhưng vì lời nguyền rủa của một dân tộc bị tổ tiên Việt Nam xóa sổ, khiến cho hàng Tướng lãnh chỉ huy Quân Đội trở nên ươn hèn, bất xứng ; hàng lãnh đạo tôn giáo phá đạo của mình; lãnh tụ đảng phái chia rẽ; xôi thịt; giai cấp trí thức trở thành khoa bảng, không đóng vai trò kẻ sĩ cần thiết cho trí tuệ dân tộc. Xin bạn đọc đừng nghĩ rằng tôi vạch áo cho người xem lưng. Cái lưng của Miền Nam như thế nào, ngày nay ai cũng thấy, nhưng ngại ngùng không dám nói ra thôi! Tôi dám nói vì tôi nhìn thấy căn bệnh Việt Nam là do bị quỷ ám. Nhà ái quốc Ngô Đình Diệm bị giết chết một cách man rợ. Tên tội đồ Hồ Chí Minh được đúc tượng đem vào Chúa thờ. Tôi tin rằng đó là lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm lên dân tộc Việt Nam ta.

Xin bạn đọc theo dõi bài viết tới.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Email Address: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600

Westminster, ngày 14 tháng 6 năm 2022

Sunday, June 12, 2022

ĐỊNH MỆNH AN BÀI - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

ÐỊNH MỆNH AN BÀI

 
                                          Tác giả: Bằng Phong Đặng Văn Âu


Trước 1975, tác giả là một phi công chiến đấu. Tại Hoa Kỳ, nhiều bài viết của ông thường được phổ biến trên báo giấy, báo mạng trong sinh hoạt cộng đồng và các hội đoàn cựu quân nhân VNCH. Bài viết ông góp cho Viết Về Nước Mỹ kể về một tình yêu đầu đời ly tan và tái hợp đúng như lời một bà thầy bói đã tiên đoán.

* * *

Tôi ra đời vào năm Canh Thìn, cầm tinh con rồng, cho nên tôi mơ giấc mơ hải hồ, được bay cao bay xa như ông Saint Exurpéry (tác giả cuốn Vol de Nuit và cuốn Le Petit Prince). Sở dĩ tôi thỏa được giấc mộng của mình là vì nhờ Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến Việt Nam, họ cần đào tạo những phi công cho chiến trường. Nếu không, giấc mơ của tôi sẽ không thành hiện thực, vì tôi chẳng thể nào có tiền để được huấn luyện trở thành phi công. Sở phí đào tạo một người có thể lái máy bay tốn kém rất lớn.

Có hôm tôi hỏi Mẹ tôi, tại sao con tuổi Thìn mà trên giấy khai sinh của con lại ghi năm 1942? Mẹ tôi đáp: "Thời buổi chiến tranh, giấy tờ thất lạc, lại chạy tản cư liên miên, Mẹ phải làm tờ "thế vì khai sinh" và khai trụt tuổi cho con thì nhà trường mới nhận con vào học". À ra thế! Thảo nào số quân của tôi là 62/600356, lẽ ra phải bắt đầu số 60 để chỉ những lớp người sinh năm 1940. Căn cứ trên tờ "thế vì khai sinh", chánh quán của tôi là làng Nho Lâm, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trú quán là làng Phổ Tây, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Thầy (Bố) tôi là bác sĩ, được đổi đi công tác nhiều tỉnh khác nhau, nên tôi có thể bắt chước người giúp việc trong nhà để nói các giọng Bắc, Nam, Trung.

Năm 1945, Thầy tôi qua đời vì căn bệnh ruột dư (Appendicitis) được bác sĩ giáo sư Huard của trường Đại Học Y Khoa Hà Nội - một danh y thời bấy giờ - giải phẫu. Không may Thầy tôi bị nhiễm trùng mà không có thuốc trụ sinh vì cuộc chiến tranh giữa Đồng Minh và Quân đội Nhật hoàng xảy ra. Mẹ tôi lúc bấy giờ mới 38 tuổi, khá đẹp, mà nhất quyết ở vậy thờ chồng nuôi con, chứ không chịu bước thêm một bước nữa, mặc dầu có nhiều đàn ông xứng đáng đến ngỏ lời cầu hôn bà.

Tôi là đứa bé khá ngờ nghệch, được Mẹ cho đi học thì cắp sách đến trường; chứ không hề biết học để làm gì? Tôi chưa từng có ý niệm rằng học để trở nên người hữu dụng cho tương lai xứ sở. Do đó, cuối niên khóa được lên lớp là do sự may mắn, hơn là do sự cố gắng bản thân. Khi lên lớp Đệ Lục, tôi nghe Mẹ tôi nói một câu làm tôi tỉnh ngộ: "Gắng học đi con để sau này ấm vào thân. Nếu cứ lười biếng thì sau này chỉ có nước đứng đường thôi con ạ!" Đứng đường tức là làm người ăn mày lạy ông đi qua, lạy bà đi lại; chứ không phải là làm thầy đội Cảnh sát đứng đường điều khiển cho xe cộ lưu thông!

Từ đó, tôi tỉnh ngộ và bắt đầu thời điểm đó, tôi chăm chỉ học, nên cuối niên học nào tôi cũng đều được lĩnh phần thưởng về các môn Toán, Lý Hóa, Anh, Pháp văn, Việt văn. À, cũng xin nói thêm, trước kia, làm cho xong một bài luận quốc văn là một cực hình đối với tôi. Nhưng nhờ học thêm Pháp văn với thầy Trần văn Thông, gần nhà thờ Phủ Cam - Huế, được thầy dạy pháp cú "analyse logique, analyse grammaticale" khiến cho tôi viết câu văn tiếng Việt sáng sủa hơn với đầy đủ chủ từ, động từ và túc từ. Ông bà mình nói không sai: "Không thầy, đố mày làm nên!". Mỗi khi viết một bài văn nào, tôi đều nhớ ơn thầy Trần văn Thông.

Nhân đây, tôi cũng xin nhắc lại một việc: Mẹ tôi là người thầy dạy vỡ lòng cho tôi về chữ Hán và chữ Pháp. Câu Hán văn và Pháp văn mà Mẹ tôi muốn xây dựng con người tôi như sau: "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (Giàu không tham, nghèo không hèn, mạnh không sợ) và "Gravez les bienfaits sur le marble; les malfaits sur le sable" (Khắc ghi những nghĩa cử trên đá cẩm thạch; những điều bội bạc trên cát). Suốt đời tôi cố gắng thể hiện cung cách ứng xử trong cuộc sống như lời Mẹ dạy.

Kết quả thi Trung học Phổ thông, Tú tài I hay Tú Tài II, tôi đều đậu bình, một phần do may mắn! Nghiệm ra, tôi không đến nỗi đần, mà chỉ phải tội chậm trí khôn. Vào trường đời, tôi cũng thuộc loại chậm trí khôn, vì không biết cách làm đẹp lòng thượng cấp, mặc dầu chưa bao giờ kiếm cớ thoái thác một phi vụ nào do căn bệnh... lạnh cẳng.

Nhớ có lần tôi đã phạm vào một điều dại dột trong cuộc họp hành quân. Đó là lúc tôi đứng lên phản đối cấp trên lấy tên chiến dịch Cầu Không Vận là "Kỳ Duyên Mai" (phương danh của đương kim Tư Lệnh, con và vợ). Theo tôi, đáng lý ra phải lấy tên của một vị anh hùng trong lịch sử dân tộc đặt tên cho chiến dịch thì mới đúng! Do "sự cố" ấy, tôi được bạn hữu trong đơn vị đặt cho cái hỗn danh "Đặng văn Ẩu" vì dám công khai "chống" lại thượng cấp. Thật tình, tôi chưa hề làm "ẩu" điều gì để phạm vào quân phong quân kỷ! Tôi lên tiếng vì lợi ích chung. Chẳng qua, nghĩ mình cứ hành xử như lời Mẹ dạy mà thôi.

Tôi có một người Mẹ tuyệt vời, hết lòng thương con, nhưng tôi đã phạm vào ba trọng tội mà tôi nghĩ rằng mình là đứa con bất hiếu. Lòng tôi cứ dằn vặt, ăn năn, hối hận, ray rứt khôn nguôi. Đó là:

Thứ nhất, Mẹ tôi muốn tôi theo học ngành y khoa để nối nghiệp thân phụ tôi. Theo bà, nghề bác sĩ giúp con bà cứu nhân độ thế để hưởng phước. Tôi đã gia nhập vào Không Quân, trái với ước nguyện của Mẹ hiền.

Thứ hai, Mẹ tôi đã thể theo lời xin của tôi để dạm hỏi cô nữ sinh học trò của tôi cho tôi, nhưng cuối cùng tôi đã phản bội nàng để kết hôn với người khác. Tôi đã làm cho Mẹ tôi trở thành kẻ bội ước với thông gia.

Thứ ba, cuối tháng Tư năm 1975, tôi đã không ép Mẹ tôi bằng cách "cưỡng bức" bà lên xe để thoát ra khỏi nước, chỉ vì bà nói bà không muốn bỏ nắm xương nơi quê người. Mẹ tôi đã qua đời trong đói lạnh, cô đơn ở quê nhà. Tôi đã khóc òa như một đứa bé khi hay tin Mẹ mình khuất núi.

Hơn 37 năm sống ở quê người, tôi ao ước có dịp về nước, đến trước mộ phần của Mẹ để nói lời tạ tội. Nhưng bởi lo ngại an ninh bản thân, tôi cứ chần chừ vì đã viết nhiều bài đăng trên mạng lên án gắt gao chống lại chính sách cai trị tàn ác của chế độ hiện hành. Tháng 8 năm 2011, có lẽ cuộc nhân duyên giữa vợ chồng chúng tôi đã dứt, tôi liều mình về quê nhà để thể hiện sự sám hối của mình trước vong linh Mẹ.

Khi về đến phi trường Nội Bài, Hà Nội, tôi "được" hai cán bộ an ninh văn hóa "trao đổi" hơn 90 phút và ba ngày sau tại khách sạn cũng "được" nhân viên an ninh chiếu cố hơn 4 giờ đồng hồ. Tôi sẽ tường trình nội vụ này vào một dịp khác. Từ Hà Nội, tôi gọi điện thoại cho một người bạn học từ thời tiểu học báo tin tôi đang ở Hà Nội. Bạn tôi ban đầu không tin, vì nghĩ rằng tôi không dám về.

Đúng thế! Từ lâu tôi không về nước vì vợ tôi ngăn cản. Nàng sợ nhỡ tôi bị bắt giam thì nàng sẽ phải tốn tiền để chuộc tôi ra. Nay, duyên nợ giữa nhau đã dứt. Nàng không còn trách nhiệm gì với bản thân tôi, nếu tôi về để bày tỏ sự hối hận với vong linh Mẹ mà bị bắt giữ thì tôi cũng cam lòng.

Bạn tôi biết đích xác tôi đang ở Hà Nội, sau khi nhìn vào "caller ID" hiện ra trên điện thoại của anh. Bạn tôi nói (xin lặp lại nguyên văn ngôn ngữ địa phương Huế): "Mi có về Huế thăm mộ O (tức Mẹ tôi) thì nhớ gọi cho hắn nghe!". Chữ "hắn" trong câu nói của bạn tôi là vị hôn thê mà tôi đã bội tình thưở trước. Anh bạn cho tôi số điện thoại của nàng. Có số điện thoại được bạn cho, tôi vẫn không dám gọi nàng, vì tự hỏi: "Gọi để nói gì bây giờ? Nhỡ khi nghe mình xưng tên, nàng sẽ thốt lên những lời xỉ mắng vì sự bội bạc của mình hoặc nàng cúp máy không thèm nói chuyện thì bẽ bàng vô cùng".

Hai ngày sau, bạn tôi gọi và hỏi: "Mi đã gọi cho hắn chưa?". Tôi đáp: "Chưa!" Bạn tôi có vẻ nôn nả: "Tại răng mi không gọi cho hắn?". Tôi nói về lý do sự ngại ngùng do dự của tôi, bạn tôi cười: "Mi còn nhớ đến chuyện hai đứa bây đi xem bà thầy bói Bụi không?". Tôi đáp: "Chừ mi nhắc thì tau mới nhớ, nhưng có liên quan gì trong việc tau gọi điện thoại cho hắn?". Bạn tôi trả lời một cách quả quyết: "Hắn còn yêu mi và chờ mi về đó. Tính đến nay đã là 38 năm kể từ ngày hắn ly dị chồng hắn. Tau đã giới thiệu mấy thằng bạn giáo sư đồng nghiệp của tau cho hắn mà hắn không bằng lòng đứa nào hết. Hắn nhất quyết đợi ngày mi trở về đó. Mi hãy mau mau mà gọi cho hắn đi". Nói xong một hơi dài, bạn tôi cúp máy điện thoại.

Hồi tưởng lại chuyện quá khứ. Năm 1963, chúng tôi sửa soạn làm đám cưới. Hôn thê của tôi kéo tôi đi xem bói bà thầy bói Bụi, vì bà nổi tiếng bói rất đúng. Chiều lòng người yêu, tôi cũng đi, nhưng tôi chẳng bao giờ tin nhảm. Sau khi hỏi tuổi tác chúng tôi, bà thầy gieo quẻ, rồi đoán: "Cuộc hôn nhân của hai anh chị sẽ không thành!". Nghe bà thầy nói thế, gương mặt người yêu tôi tái đi, còn tôi tỏ ra giận dữ: "Bà thầy nói bậy, chúng tôi yêu nhau, cha mẹ hai bên đều đồng ý. Lý do nào mà bà nói không thành? Tôi đập mu rùa của bà bây giờ!". Bà thầy bình thản trả lời: "Chừng nào cuộc hôn nhân của hai anh chị thành thì anh trở lại đây đập mu rùa của tôi cũng chưa muộn!". Trước sự quả quyết của bà thầy bói, vị hôn thê của tôi khóc nức nở. Tôi xoa lưng nàng và trấn an: "Bói toán nhảm nhí, em tin làm gì?". Có lẽ cảm động vì những giọt nước mắt của người yêu tôi, bà thầy nói: "Tình duyên của hai anh chị phải trải qua một đoạn đường dài chia ly rồi mới thành tựu. Anh này có đi cùng vành non nước đi nữa thì sau tứ tuần hoa giáp, anh cũng sẽ trở về với chị thôi!". Đang bực tức vì lời tiên đoán của bà thầy làm người yêu tôi khóc, tôi hỏi: "Tôi không rành chữ Nho. Bà nói tứ tuần hoa giáp là nghĩa lý gì?". Bà thầy lại bình thản giải thích: "Hoa giáp là 12 năm, tứ tuần hoa giáp là 48 năm. Tôi quả quyết rằng 48 năm sau anh sẽ về tác hợp tình duyên với cô này".

Tôi vẫn cho rằng bà thầy bói nói nhảm. Nhất định không tin. Chẳng ngờ cuộc hôn nhân giữa hai chúng tôi bất thành. Vì tuổi trẻ thiếu bản lĩnh, tôi đã phạm vào một trọng tội mà thâm tâm tôi không bao giờ dụng ý phản bội ý trung nhân của tôi. Khi tôi thú nhận với vị hôn thê của tôi rằng tôi trót rơi vào một tình trạng khó xử, nàng nói trong nước mắt: "Số trời đã định vậy, em chấp nhận hy sinh". Tôi quá hổ thẹn trước tấm lòng quảng đại, vị tha của người yêu. Tôi quá xót xa cho nàng, nhưng chẳng biết làm sao hơn.

Tuân theo lời khuyên của bạn, tôi bấm số điện thoại gọi cho nàng và hy vọng không bị nàng buông những lời nói phũ phàng hay gác máy không thèm tiếp. Khi tôi nói tôi là ai qua máy điện thoại thì đầu dây phía bên kia có tiếng cười thật tươi reo lên: "Anh đó à? Anh về rồi đó à? Em đây! Đúng 48 năm rồi đó anh hí!".

Năm 1963 tôi chia tay nàng. Năm 2011 tôi lần đầu tiên gọi điện thoại cho nàng từ Hà Nội đúng 48 năm sau. Không còn do dự gì nữa, khi về Huế lạy tạ lỗi vong linh Mẹ, tôi sẽ tìm gặp người yêu xưa. Nếu định mệnh dun dủi, tôi có cơ duyên sẽ tiếp nối cuộc sống còn lại với người vợ (sắp cưới) đầu đời thì cũng là ý trời. Tôi nghĩ thế! Bốn mươi tám năm trước tôi thú tội với người yêu, nàng không một lời trách móc, giận hờn. Bốn mươi tám năm sau gọi điện thoại thăm người yêu xưa, nàng đã không buông lời giận hờn trách móc mà còn reo lên một cách sung sướng giống như người thiếu phụ chờ chồng sau cuộc vạn lý trường chinh.

Gặp người yêu xưa, tôi đã quỳ xuống xin lỗi nàng và xin nàng rộng lòng tha thứ. Nàng vội cầm lấy hai tay tôi và nâng tôi đứng dậy, rồi ôm tôi một cách âu yếm nồng nàn. Xưa nay, tôi chưa bao giờ được nàng ôm chặt đến như thế. Trong giờ phút ấy, trước mắt tôi, nàng là hiện thân của Phật Bà Quan Âm hay Đức Bà Maria. Vì chỉ có con người bao dung thánh thiện mới tha thứ cho tôi một cách dễ dàng như thế!

Tôi kể cho nàng nghe chuyện tôi và vợ tôi đang trong tiến trình ly dị. Người yêu tôi nhẹ nhàng khuyên: "Anh hãy cố gắng về hòa giải với chị. Cả hai đã ở tuổi ngoài 70, chẳng còn sống được bao lăm! Em thui thủi một mình gần 40 năm nên quen rồi! Chỉ khi nào sự cố gắng hòa giải của anh bất thành, anh bị ruồng rẫy, hất hủi, gục ngã thì em sẽ vực anh đứng dậy! Chưa lúc nào em giận anh vì em tin cái số em như thế! Chưa lúc nào em thôi yêu anh!"

Sau cuộc chia tay giữa hai chúng tôi, nàng ngày ngày đi dạy học, nuôi Mẹ già và đứa em bị bệnh tâm thần. Nàng quyết sẽ không kết hôn với bất cứ ai. Nhưng cuối cùng nàng phải vâng lời yêu cầu của Mẹ vì nàng là người con chí hiếu. Nàng đành kết hôn với một người mà nàng không hề yêu. Tiếc thay! Người đàn ông ấy mắc chứng bệnh ghen tuông một cách kỳ lạ. Anh ta nhiều lần bạo hành với vợ một cách tàn nhẫn vì nghĩ rằng nàng còn ngoại tình trong tư tưởng, nghĩa là còn yêu tôi. Riêng tôi, tôi không hề liên lạc với nàng bằng dưới mọi hình thức nào để nàng yên thân bên chồng, bên con.

Không thể chịu đựng nổi người chồng vũ phu, nàng về sống với Mẹ và ly hôn chồng. Tin tưởng vào lời tiên đoán của bà thầy bói, nàng cương quyết chờ tôi. Chưa lúc nào tôi tin vào thuyết định mạng hay duyên nghiệp như thế, sau khi gặp gỡ nàng. Giả sử chồng nàng biết cách xử sự như một người có văn hóa đối với vợ thì dù không yêu chồng, nàng cũng không ly hôn vì cổ tục hoặc lễ giáo Huế không bao giờ chấp nhận người đàn bà ly dị chồng. Giả sử vợ chồng tôi có chuyện bất hòa dù nặng nề đến đâu, tôi cũng không thể bỏ vợ. Chẳng qua bị vợ xua đuổi, sỉ nhục mà tôi không thể chấp nhận là do số trời đã định đoạt để cho tôi trở về quê nhà và được biết người yêu xưa vẫn chờ mình. Bốn mươi tám năm sau tôi trở về quê để bái lạy hương hồn Mẹ tha thứ, tôi lại được người yêu xưa tha thứ. Biết đâu Ơn Trên đã dẫn đưa hai anh em chúng tôi về lại với nhau như bà thầy bói năm xưa đã dự đoán? Tôi rất ao ước được sống phần đời còn lại bên người yêu xưa. Chúng tôi không phải là hai kẻ bỏ vợ bỏ chồng để lấy nhau ở tuổi xế chiều. Chúng tôi trở về với nhau do sự an bài của định mệnh hay duyên nghiệp, tùy theo tín ngưỡng của mỗi người.

Tôi không ghi xuống đây chức vụ của mình từng đảm nhiệm trong quân ngũ, vì tôi nhớ đến Đặng Trần Thường, kẻ phò Nguyễn Ánh đắc thắng, đã hành xử thiếu quân tử đối với kẻ ngã ngựa vì mối thù trước kia. Thường ra câu đối buộc kẻ bại trận phải đáp:

"Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai?". Ngô Thời Nhậm, kẻ phò vua Quang Trung trả lời:

"Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế!"

Đặng Trần Thường có cái vẻ vênh váo của kẻ chiến thắng với cái chức vị công hầu khanh tướng của mình. Trái lại, Ngô Thời Nhậm không tỏ ra hèn vì thua trận. mà phải khúm núm xin tha tội. Chẳng qua cái thời cái thế xoay vần xui nên đấy thôi!

Cái thời, cái thế, cái định mệnh, cái duyên nghiệp đã khiến cho chúng tôi đánh mất nhau. Rồi cũng chính cái thời, cái thế, cái định mệnh, cái duyên nghiệp đưa chúng tôi về lại với nhau. Tôi quỳ xuống xin lỗi người yêu xưa của tôi không phải tại vì tôi hèn, mà tại vì tôi sám hối và tôi ngưỡng mộ tấm lòng bao dung, cao cả, vị tha của nàng đã tha thứ cho tôi.

Nghĩ cho cùng, công hầu hay khanh tướng như Đặng Trần Thường tỏ ra kiêu hãnh, đối với tôi cũng chỉ là trò bãi biển nương dâu, chỉ là phù vân gió cuốn mây trôi. Tôi cho rằng cách ứng xử độ lượng giữa người với người với nhau mới là vĩ đại. Tôi rời Houston, Texas để về định cư tại Quận Cam của California. Bạn bè, bà con giúp đỡ tôi rất nhiều nên chỉ trong một thời gian rất ngắn tôi đã thu xếp cuộc sống tạm gọi là ổn định với đầy đủ tiện nghi. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến tất cả bà con, bạn bè. Xin xác nhận rằng câu nói "Ở hiền gặp lành" của tiền nhân rất chính xác. Tôi đã được bà con, bạn bè giúp đỡ tận tình. Mỗi ngày tôi đều đọc Kinh Chú Đại Bi và đọc sách Phật để thấm nhuần lẽ vô thường của Tạo Hóa. Bài kinh sám hối đọc từ thưở còn là đồng niên Phật tử Gia đình Chơn Tuệ tôi vẫn nhớ:

"Đệ tử kính lạy Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, thập phương chư Phật cùng Thánh, Hiền, Tăng. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận, kiêu căng, si mê, lầm lạc. Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm, thành tâm sám hối. Thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành... Ngửa trông ơn Phật, từ bi gia hộ, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, ngày ngày an vui tu tập, phép Phật nhiệm mầu để mau ra khỏi luân hồi..."

Thiết nghĩ, chỉ có tình yêu thương gồm có lòng bao dung, sự quảng đại, tính vị tha, tình lân tuất thương yêu kẻ nghèo khó, hoạn nạn là trên hết mọi sự trên đời, vì nó giúp ta quên được cái "NGÃ" vị kỷ thì tự khắc mình sẽ cảm thấy hạnh phúc trong đời.

Thưa tất cả bằng hữu,

Tôi đang hành trì đạo Từ Bi của Đức Phật. Xin các bạn cầu nguyện cho tôi có ý chí bền bỉ. Xin cảm ơn tất cả. Xin cầu nguyện gia quyến của mọi người đều được an vui, hạnh phúc.


Bằng Phong Đặng văn Âu

Kỳ tới: “Nêu Có Kiếp Sau”, được viết bởi người mà tác giả Bằng Phong Đặng Văn Âu gọi là “người yêu đầu đời và cũng là người vợ hiện thời của tôi.”

============================================
 
 
NẾU CÓ KIẾP SAU


Tác giả: Nguyễn Thị Hồng


Tác giả là một nhà giáo, tốt nghiệp thủ khoa khoá 2 Sư Phạm Qui Nhơn. Sau đổi đời 1975, bà là cô giáo trường cấp 2 Thuận An. Bà cũng chinh là nhân vật mà trong bài viết “Định mệnh đã an bài,” tác giả Bằng Phong Đặng Văn Âu gọi là ““người yêu đầu đời và cũng là người vợ hiện thời của tôi.” Hai ông bà hiện là cư dân Westminster, CA. Sau đây là bài viết của bà.


* * *

Tháng 8 năm 1963, tôi xách chiếc va li nhỏ vào trường Sư phạm Quy Nhơn trước sự ngạc nhiên của bạn bè cùng lứa: "Con Hồng mà học Sư phạm Quy Nhơn ni à?".

Vâng, các bạn tôi không ngạc nhiên sao được, khi con bé Hồng tuy nhà quê, nhưng khi vào trường nữ trung học Đồng Khánh, từ Đệ thất đến Đệ nhị luôn giành ngôi vị đứng nhất lớp; chỉ khi qua Đệ nhất Quốc học mới chịu đứng thứ hai, (nên dỗi không đi lãnh phần thưởng thật là trẻ con!).

Thành tích học ấy là niềm mơ ước của các phụ huynh khá giả hồi đó để mong đưa con vào trường Dược, trường Y. Và chính tôi cũng từng ôm mộng như thế, nên khi vào lớp Đệ tam tôi đã không chọn ban Văn chương (ban C) dù tôi rất thích và khá giỏi hai môn Anh và Pháp ngữ, mà ghi vào ban Vạn vật (ban A), vì ông anh Cả ở Sài Gòn ra thăm bố mẹ tôi, biết thành tích học của tôi, nên hứa sẽ "nuôi" cho tôi học Dược ở Sài Gòn. Thế là tôi chúi đầu vào "gạo" Vạn vật và Lý Hóa để chuẩn bị được cầm cái bằng Tú tài II, hầu bước vào Đại học. Tôi vui mừng bay ngay vào Sài Gòn (với tấm vé mà cha tôi phải mượn tiền để mua). Nhưng oái ăm thay, ông anh Cả tôi đã quên lời hứa, kèm lời phán của bà chị Dâu: "O Hồng con gái học chi cho lắm, chỉ ích lợi mai sau chồng nhờ, thôi để tiền nuôi chú T (em trai tôi)..." Và khi tôi trở lại Huế thì đã quá muộn để ghi tên vào phân khoa Đại học, chỉ còn Sư phạm Quy Nhơn nhận đơn, tôi ghi danh thi và đậu ngay.

Các bạn ơi! Giờ đây tôi kể dông dài như trên không phải là nhằm mục đích khoe mẻ thành tích của người về già còn tiếc nuối cái quá khứ học giỏi của mình (để làm gì cơ chứ?!), mà chỉ để các bạn biết cho lòng tôi miễn cưỡng thế nào khi vào Sư phạm Quy Nhơn buồn tủi vì cha mẹ nghèo không đủ tiền cho con học cao, lại tự ái và sỉ diện hão với bạn bè cùng lớp tôi đã từng ray rứt với ý muốn bỏ trường bỏ bạn, rời xứ dừa sau mỗi biến cố của đời tôi. Nhưng ân tình sâu đậm của Thầy, của bạn mà tôi sắp kể dưới đây đã gắn số phận tôi với trường Sư phạm, với nghề giáo thân thương mà đến nay tôi rất đỗi tự hào.

Hai năm học ở trường Sư phạm Quy Nhơn tôi đã phải gánh chịu hai cái đại tang hai cái tang quá lớn trên đôi vai gầy của một cô gái ngây thơ bé bỏng. Có lẽ linh cảm điều đó không vui cho tương lai của tôi, nên chuyến tàu lửa mang tôi vào xứ dừa thật ảm đạm, tiếng bánh xe sắt của con tàu đều đặn lăn trên đường rầy hòa với tiếng chong chóng quay ầm ào của hai chiếc trực thăng hộ tống vần vũ trên đầu toa xe (đề phòng VC tấn công).

Nhập học tháng 9 thì một chiều tháng 12, tôi được điện tín báo tin cha tôi qua đời vì đột biến. Sóng biển, hàng dương bên trường than khóc cùng tôi suốt đêm. Các bạn nội trú xúm xít an ủi vỗ về tôi. Trong đầu tôi lởn vởn ý tưởng về Huế rồi sẽ không quay trở lại vì mục đích học Sư phạm của tôi là vừa có học bổng, vừa chóng ra trường có tiền để giúp cha già không còn nữa. Nay cha mất rồi thì tôi học tiếp ở đây làm gì? Về Huế sang năm thi vào Đại học Sư phạm hoặc học SPCN để chuẩn bị vào trường Y khoa.

Sáng hôm sau, bạn bè cùng phòng nội trú, cùng lớp và cảm động nhất là thầy Lương, Hiệu trưởng, cùng tiễn tôi tận chân cầu thang lên máy bay. Thầy xoa đầu tôi an ủi thật trìu mến như cha tôi thường làm với tôi. Thầy còn cử anh Võ trị Hà, người trưởng tràng, lại là hàng xóm của tôi tháp tùng theo tôi để đại diện trường phúng điếu cha tôi và giúp đỡ tôi trở về trường. Anh Hà cũng thích vì được dịp về thăm Mạ. Nhìn xuống sân bay tôi thấy mái tóc thầy như bạc thêm, cùng những cánh tay vẩy vẩy của bạn bè mờ đi sau làn nước mắt. Trước ân tình ấy, ý nghĩ sẽ bỏ trường bỏ lớp bỗng tan biến trong đầu. Tôi trở lại trường tìm vui trong tình thương của thầy, của bạn. Tôi lại vô tư gây cười cho các bạn, thường tự xưng mình là Hồng Thất Công (trong Thần Điêu Đại Hiệp) khi ngồi trên lầu hai, lầu ba mà dùng tài đánh hơi của lão "Cái Bang" đoán trúng phóc trưa nay Mệ Huế cho ăn món gì, khiến các bạn phục lăn và cười như "nắc nẻ" khi xuống tới phòng ăn. Tại đây, cả nhóm ăn lại nhỏng nhẻo với Mệ Huế là không ăn được cá ngừ, cà nướng... v...v.. Tội nghiệp Mệ Huế lại trìu mến sai đổi cho thành món chả trứng, cá thu chiên... Thế là các nàng dù là Hoàng Dung xinh đẹp, dù là "Phật tổ" Như Lai, dù là nàng Tôn Nữ Âu Dương Phong e lệ... (biệt hiệu của các bạn cùng phòng nằm cạnh giường tôi) đều ăn ào ào như tằm ăn rỗi, đem soong vào xin thêm cơm. Các chị bếp vui vẻ xới thêm rất tự nhiên để các cô khỏi thẹn, chỉ một nhát xúc của chiếc đũa bếp to như cái "xẻng xúc đất" là đủ đầy soong cơm. "Kílô" của các nàng tăng vùn vụt, vì sáng nào cũng "nhón" sạch hai thúng khoai lang luộc, bánh ú của hai nhóc con bác cai đội lên bán. Khỏi rao, khỏi mời, hai chú đã được các nàng ngóng từ thật xa, rồi đón ở cầu thang và thoáng một chốc chỉ còn hai cái thúng không. Các chú chỉ việc ngồi chờ, một lát sau các nàng đem tiền ra trả đủ. "Này chị hai xâu (khoai)..., này chị hai cặp (bánh ú)...". Các nhóc chỉ việc đếm tiền, xong đội thúng ra về. Hỉ hả!!! Giành nhau mua vậy, nhưng ai chậm chân không mua được đều có phần chia cho. Vui như hội! Ăn, ngủ, cười và... chờ thư. Chỉ khi nào đọc thư người yêu thì mỗi nàng lui về một thế giới xa xôi với khóc, cười, trăn trở...

Nhưng số phận lại không mỉm cười với tôi vào năm sau, tôi lại chịu cái đại tang thứ hai. Lần này không phải là vành khăn trắng lên mái tóc, mà là mảnh khăn đen vắt qua "con tim vừa vui trở lại" của tôi: Người yêu của tôi, mối tình đầu trong sáng của tôi, vị hôn phu của tôi đã phụ tình tôi. Đời phi công hào hoa, đời lính cận kề bên cái chết, cùng với thái độ tránh né giữ gìn thái quá của người con gái Huế như tôi, cộng thêm không gian xa cách, khiến chàng sa ngã vào ánh sáng phù hoa, vào niềm đam mê vội vã mà nói lời bội ước với tình xưa. Trước lời thú nhận đã lỡ lầm của vị hôn phu, dưới sự chứng kiến của gia đình hai bên, dù mẹ chàng cố nói ra lời hàn gắn, nhưng tôi đã bình tĩnh chúc chàng hạnh phúc (không một giọt nước mắt van vỉ, không một lời oán trách hờn ghen), vì tôi nghĩ rằng bất cứ thái độ nào khác cũng sẽ đánh đổ thần tượng của chàng trong tôi. Và tôi cũng không cần một chút nào lòng thương hại của kẻ khác. "Người ta phụ mình, nhưng làm sao cho người ta vẫn tôn trọng mình", tôi nghĩ thế.
Từ Sài Gòn trở lại Quy nhơn với con tim băng giá, với đôi mắt ráo hoảnh, tôi lại có ý nghĩ bỏ Sư phạm, rồi về Huế ghi danh học Đại Học để trở thành một bác sĩ, hơn hẳn" người ta" cho bõ tức. Nhưng anh lớp trưởng nhận ra nỗi buồn vời vợi trong tôi. Chờ lớp về hết, anh ở lại hỏi tôi "Sao em có vẻ buồn thế?". Anh lớp trưởng đã có vị hôn thê ở Quảng trị và xem tôi như người em gái nhỏ. Tôi cũng xem anh như anh mình, nên khi anh hỏi chạm đến vết thương lòng, tôi đã òa lên khóc nức nở và kể cho anh nghe về mối tình tan vỡ của mình. Anh để yên cho tôi khóc, rồi dùng lời an ủi động viên tôi. Sau đó anh cùng các bạn trong lớp tổ chức nhiều chuyến du ngoạn ngoại thành: thăm Tháp Chàm ở Quy nhơn, trại cùi Quy hòa, viếng mộ Hàn Mặc Tử..., để tôi thấy nhiều cảnh khổ gấp bội mình. Rồi chuyến đi về Tuy Phước, thăm sâu vào làng quê Bình Định với những phong cảnh thật nên thơ, nhưng thấp thoáng những bộ quần áo đen lầm lũi (VC đó). Thấy thật rùng mình, may mà có anh trong đoàn, sinh trưởng ở vùng đó nên không việc gì. Rồi những phút cùng các bạn nội trú lầu ba ôm nhau lăn xuống gầm giường khi VC tấn công nổ bom tự sát làm sập lầu Việt Cường dưới phố (nơi có binh lính Mỹ đến đó ăn uống sau mỗi cuộc hành quân). Khi lầu hết rung chuyển, chúng tôi cùng chui ra một cách khó khăn gấp bội so với khi chui vào. Thầy Giám học lên bảo: "sao lại chui xuống gầm giường, sao không chạy xuống núp trong các hố cát ngoài sân, nhỡ lầu sập thì sao?"

Thì ra khi hoảng hốt, chúng tôi đã hành động giống như những con đà điểu rúc đầu vào cát lúc gặp hiểm nguy. Nhưng nằm trong hố cát ở sân nhìn lên trời càng đáng sợ hơn: những lằn đạn xanh đỏ bay vèo vèo trên bầu trời do VC tấn công vào thành phố, bên ta chiến đấu đẩy lui. Thế là cái khổ, cái chết lại giúp tôi gắn bó với trường với bạn, chúi mũi tìm quên trong việc học, uống từng lời dạy dỗ của thầy cô để ra trường với hạng thủ khoa (mà các bạn cứ trêu là "thủ khôi" khiến tôi hờn giận mãi thật là trẻ con!). Tôi được chọn giữ ở lại trường làm giáo sư hướng dẫn các khóa sau, nhưng tôi chỉ muốn về Huế để được sống bên mẹ già.

Rồi chính nhờ được làm một cô giáo hiền hòa, mẫu mực mà tôi đã vượt qua những nghiệt ngã của số phận do sự đối xử hà khắc của gia đình chồng và những tai ương của đất nước tạo nên. Môn tâm lý giáo dục của thầy Mẫn dạy tôi biết nói những lời ái ngữ với học trò trước khi phê bình cái sai của chúng. Nhớ lời thầy, tôi không bao giờ phê "chữ cẩu thả" mà "em cần viết cẩn thận hơn", hoặc không phê "vở nhớp quá" mà là "vở sạch mới đẹp"...

Những năm dạy tiểu học, trong cặp tôi lúc nào cũng có hộp kim chỉ để khâu áo cho những em nào nhỡ rách, có cả lượt dày để chải chí cho mấy em gái nghèo thiếu bàn tay mẹ chăm sóc, có cả kéo để cắt tóc cho các em khỏi bị tóc che mắt...

Khi được chuyển về trường cấp II Thuận An thì nơi đây là quê hương thứ hai che chở giúp tôi vượt qua những khổ ải do gia đình chồng đọa đày. Lúc phải rời bỏ gia đình chồng do bị đàn áp quá đáng, các phụ huynh ở Thuận An đã đùm bọc, an ủi xoa dịu cho tôi những vết thương từ thể xác đến tâm hồn. Thậm chí có người mở lời cho tôi và hai con vượt biên cùng con của họ mà không phải đóng một cắc bạc, nhưng tôi không thể bỏ mẹ già và cậu em bị tâm bệnh để ra đi. Các học sinh của tôi đều mê môn Văn tôi dạy, phải chăng do tôi đã trao truyền cho các em tất cả tình cảm thương yêu và trải nghiệm của bản thân vào trong mỗi bài giảng?

Thời bao cấp, nhà giáo đều thiếu thốn, nhưng tôi biết tranh thủ thời gian để chạy chợ nuôi mẹ, em và các con no đủ. Thấy các cô giáo mà phải vất vả ngược xuôi, các cô dì chủ hàng cũng thương, dành cho sự nhẹ nhàng, ưu ái. Một số bạn tôi bỏ nghề, vì nghề giáo cơ cực quá, nhưng tôi thì không. Tôi nghĩ rằng nhờ giữ nghề dạy học mà một người mẹ đơn thân như tôi mới có thể giáo dục các con chăm ngoan, thành đạt và có cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn bố mẹ chúng. Tôi cảm thấy lời Phật dạy "sống từ bi, hỉ xả" như thấm từ lúc nào vào cuộc đời làm cô giáo của tôi, tự nhiên như cây cỏ hấp thụ khí trời. Tôi không hề oán hận ai, thậm chí cả với người đã hành hạ mình.

Có lẽ cuộc đời nhà giáo của tôi chỉ biết gieo nhân lành nên cuối đời gặp quả ngọt: người yêu đầu đời của tôi đã trở về quỳ xuống xin tạ tội vì đã để đời tôi bấy lâu chịu khổ đau. Anh đã đón tôi sang đất nước Hoa Kỳ để tôi được sống sung sướng quãng đời còn lại. Tôi được học sinh cũ của trường Trung học Thuận An từ nhiều tiểu bang về chào mừng hoặc gọi điện thăm hỏi, dẫn cô đi thăm thú cảnh đẹp nhiều nơi.

Ôi, còn gì sung sướng hơn khi thấy những học sinh bé bỏng ngày xưa của mình, giờ đây đã trở thành những trung niên khôi ngô, thành đạt, những thiếu phụ xinh đẹp, lịch lãm nơi xứ người. Vậy mà đối với cô giáo cũ, các em vẫn một tiếng "thưa" hai tiếng "dạ" rất đỗi lễ phép, khiến lòng tôi cảm thấy xúc động nao nao, tự hào về mình và về các học sinh thân yêu.

Tôi còn được gặp lại các bạn nội trú trường Sư phạm Qui nhơn ngày xưa, nay các nàng đều xấp xỉ ở ngưỡng "thất thập cổ lai hi", nhưng vẫn xinh đẹp, vẫn yêu đời và nhất là tình bạn vẫn nồng nàn, thắm thiết như xưa. Phải chăng, nhờ ngành Sư phạm mà vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa Việt nam vẫn nở hoa trên xứ người!

Chính vì thế, như đầu bài viết, tôi có kể lể là tôi miễn cưỡng thi vào trường Sư phạm, thì nay tôi xin sửa sai để khẳng định: Nếu có kiếp sau, tôi lại cố gắng học để được thi vào ngành Sư phạm, được làm một cô giáo mẫu mực, dịu hiền, để trao hết tri thức và tình cảm yêu thương của mình cho thế hệ mai sau: gieo những nhân lành nhằm tạo quả ngọt cho đời.


Nguyễn thị Hồng

---------------------------------------------------------------

Định Mệnh Đã An Bài

 

 

 

 

 

 

 

Định Mệnh Đã An Bài

Trước 1975, tác giả là một phi công chiến đấu. Tại Hoa Kỳ, nhiều bài viết của ông thường được phổ biến trên báo giấy, báo mạng trong sinh hoạt cộng đồng và các hội ...

View on vietbao.com

Preview by Yahoo

 

 

 

Wednesday, June 8, 2022

THƯ GỬI GS NGUYỄN HUỆ CHI - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

THƯ GỬI GIÁO SƯ NGUYỄN HUỆ CHI.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Thành phố Westminster, Quận Cam, Ngày 6 tháng 6 năm 2022.

Kính chào Giáo sư Nguyễn Huệ Chi,

Nhân ngày kỷ niệm 6 tháng 6 Đồng Minh giải phóng Âu Châu, tôi viết bức thư tâm huyết này cho Giáo sư.

Trong nước, Giáo sư đã tập hợp một số nhà trí thức Việt Nam yêu dân chủ, lập ra trang mạng Bauxite.vn để phản biện, góp ý với đảng Cộng sản Việt Nam. Thấy trang mạng treo hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm biểu tượng (ICON) là không đúng, tôi đã viết Email cho giáo sư để bày tỏ quan điểm: Mặc dầu Võ Nguyên Giáp từng là giáo sư dạy môn Sử ký tại trường Thăng Long, nhưng ông Giáp không thể đại diện nhà trí thức để lên tiếng về vấn đề đất nước. Vì ông Võ Nguyên Giáp đã cùng Phạm văn Đồng sang Côn Minh rước Hồ Chí Minh về Việt Nam, mượn danh nghĩa lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp, nhưng kỳ thực Hồ Chí Minh đã gây nên vô số tai họa cho dân tộc Việt Nam. Ông Võ Nguyên Giáp tuân hành lệnh của Hồ Chí Minh, chỉ huy đội Võ trang Tuyên truyền thi hành chiến dịch Ôn Như Hầu để giết hầu hết sinh viên Việt Nam tại Đông Dương Đại Học Xá, Hà Nội, rồi đổ tội “đảng tranh” cho Đại Việt và Quốc Dân Đảng thanh toán lẫn nhau. Ông Võ Nguyên Giáp từng xua hàng trăm ngàn thanh niên Miền Bắc vào cuộc xâm lăng Miền Nam để chết cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Ông Võ Nguyên Giáp không phải là anh hùng như tuyên truyền của Đảng. Ông Võ Nguyên Giáp là người hèn, đường đường là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân, mà cam đành tuân lệnh của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chuyển sang nhiệm vụ “đặt vòng xoắn phụ nữ”. Chính những sĩ quan cộng sản từng thuộc quyền chỉ huy của ông Võ Nguyên Giáp chê ông Giáp hèn, vì không dám bênh vực cho đàn em bị đảng trù dập. Nếu Giáo sư thấy những điều tôi đề cập ở trên là sai, Giáo sư cứ lên tiếng phản bác.

Tôi đề nghị Giáo sư – người chủ trang mạng Bauxite.vn – hãy lấy hình nhà cách mạng Phan Chu Trinh treo lên làm biểu tượng (ICON) thì mới đúng là trang mạng của người trí thức. Bởi vì Cụ Phan Chu Trinh đã nhắc nhở bổn phận và nghĩa vụ của người trí thức là: “Khai Dân trí, Chấn Dân khí, hậu Dân sinh”. Chẳng bao lâu sau, giáo sư đã nghe theo lời đề nghị hữu lý của tôi. Trang mạng đã treo lên hình nhà cách mạng Phan Chu Trinh cho tới ngày nay.

Khi Cụ già ngót 100 tuổi Nguyễn Trọng Vĩnh – Đại sứ Việt Nam tại Trung Cộng – viết bài chê chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ca ngợi thời hoàng kim của cộng sản dưới sự lãnh đạo của “Bác Hồ” được dân yêu, dân kính trọng, tôi đã viết bài phản đối Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh đã ở tuổi gần đất xa trời mà không nói đúng Sự Thật.

Nếu nói rằng đảng cộng sản được dân yêu, dân quý trọng, thử hỏi tại sao khi nước Việt Nam bị chia đôi năm 1954, thì người dân Miền Bắc ùn ùn bỏ chạy vào Miền Nam để tìm tự do? Nếu đảng không ngăn cản, tôi tin rằng cả Miền Bắc cũng rời bỏ Thiên đường cộng sản, chứ không phải chỉ có 8 trăm ngàn người! Bộ mặt thật tàn ác và đểu cáng của Hồ Chí Minh đã rơi xuống qua việc gần 1 triệu dân Miền Bắc đi vào Miền Nam tìm tự do đã rõ ràng từ 1954 rồi, Giáo sư ạ!

Từ ngày thành lập đảng cho chí đến ngày hôm nay (6/6/2022), đảng chưa bao giờ mở cuộc trưng cầu dân ý một cách tự do, thì cụ Nguyễn Trọng Vĩnh dựa vào đâu để bảo rằng đảng được dân yêu dân quý? Vì không biết địa chỉ Email của cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, tôi đã nhờ Giáo sư chuyển bài phản biện của tôi đến cụ Vĩnh giùm. Thể theo yêu cầu của tôi, Giáo sư đã chuyển giùm. Tôi cảm thấy hài lòng, vì lời đề nghị của tôi đòi thay đổi ICON trên trang mạng, Giáo sư đã thực hiện và vì tôi nhờ Giáo sư chuyển thư tôi đến Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo sư cũng đã làm.

Hôm nay tôi viết thư này để bằng cách nào đó nhờ Giáo sư chuyển đến những nhà trí thức trong nước còn quan tâm đến sự tồn tại của nòi giống Việt.

Tôi đã viết nhiều bài khẳng định rằng ông Hồ Chí Minh lập ra đảng cộng sản không hề có chủ tâm đánh Pháp, đuổi Mỹ để mang lại “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” cho nhân dân Việt Nam. Người ta thường nói: “Làm bác sĩ mà lầm thì giết chết một con bệnh. Làm chính trị mà lầm thì giết chết một thế hệ. Làm văn hóa mà lầm thì giết nhiều thế hệ”. Ông Hồ không hề lầm trong việc lãnh đạo nước Việt Nam. Ông ta cố tình tiêu diệt nòi giống Việt Nam bằng cách đem cái thí nghiệm dạy chó của nhà sinh vật học Nga Ivan Pavlov để biến xã hội Việt Nam thành một trại súc vật. Hồ Chí Minh là một con người đạo đức giả, điêu ngoa, tai ngược, vô đạo đức.

Chỉ có các Tổng Bí thư kế thừa sự nghiệp của ông Hồ là nói thật. Ví dụ:

*  Trường Chinh Đặng Xuân Khu nói: “Đảng ta cướp chính quyền bằng bạo lực, thì đảng ta phải dùng bạo lực để giữ chính quyền”.

*  Lê Duẩn nói: “Đảng ta đánh Pháp đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng”.

*  Đỗ Mười nói: “Ta chiếm được Miền Nam, thì nhà cửa của bọn ngụy ta cướp, vợ bọn ngụy ta lấy, con cái bọn nguy ta sai bảo”.

*  Nguyễn văn Linh thấy tình hình căng quá, bèn ra chiêu “cởi trói”, rồi chẳng bao lâu thấy tình hình càng căng hơn thì trói lại ngay. Vậy rõ ràng đảng coi dân như súc vật thì đâu có sai?

*  Cuối cùng toàn đảng, toàn quân hạ quyết tâm: “Thà mất nước còn hơn mất đảng” hoặc “Còn đảng, còn mình”.

Theo lẽ thường, trong một đất nước mà cấp lãnh đạo có dã tâm như thế, nhân dân phải liều chết dùng bạo động để dẹp cường quyền mà thôi. Nhưng với kỹ thuật cai trị được Liên Xô, Trung Cộng, đảng cộng sản đã làm cho người dân đã mất hết nhuệ khí, đa số chạy kiếm cơm từng bữa toát mồ hôi, còn thiểu số đặc quyền sống trong sự xa hoa một cách thoái quá thì coi như hết thuốc chữa. “Chống Mỹ Cứu Nước” làm quái gì cho tốn xương máu mà ngày nay cha con lãnh đạo Đảng đều chạy sang Mỹ mua xe, mua nhà mà không thấy xấu hổ?

Tôi chưa thấy có quốc gia nào trên thế giới mà có đạo luật cấm nhân dân nói xấu lãnh đạo như Việt Nam cộng sản. Các ông bà Bộ trưởng, Bí thư Thành Ủy không phải là lãnh đạo à? Vậy khi các ông bà Bộ trưởng, Bí thư bị ông Nguyễn Phú Trọng cho vào lò đốt là loại lãnh đạo tốt hay xấu mà dân không được chửi? Một nước coi dân như súc vật thì lấy ai có thể lạm dụng quyền tự do dân chủ và chống lại lợi ích Nhà Nước?

Tôi xin hỏi Giáo sư Nguyễn Huệ Chi rằng những nhân vật như các ông Nguyễn Đình Cống, Mạc Vân Trang … và những nhà phản biện khác phê phán chế độ, có biết họ đang đổ nước lên đầu vịt hay đổ lên lá môn không? Có phải họ được đảng cho phép xì hơi giống như cái nồi áp suất? Hy vọng gì ở một tập đoàn lãnh đạo không còn có khả năng biết xấu hổ? Có ai trong đảng cộng sản Việt Nam chỉ ra cho nhân dân thấy từ năm 1930 – ngày dựng đảng – cho đến ngày hôm nay, đảng đã làm bất cứ một điều gì vì nước Việt Nam, vì dân Việt Nam? Tôi thách thức đấy!

Chẳng cần phải lý luận dài dòng, tôi nhận thấy tập đoàn cai trị Việt Nam Cộng sản đang thi hành chính sách tiêu diệt nòi giống Việt Nam, bởi vì đảng cố tình làm cho văn hóa nước nhà suy đồi bằng cách cho đàn bà con gái tự do cởi truồng nhảy tưng tưng ngoài đường phố mừng trận đá banh thắng đối phương, nhưng lại ra lệnh Công An đánh đập người biểu tình đòi quyền bảo vệ nhân phẩm.

Tôi xin hỏi Giáo sư:

*  Những trí thức trong nước có cảm thấy nhục khi những nhà lãnh đạo cộng sản đi ra nước ngoài làm công tác ngoại giao, tuyên bố những câu rất dốt, rất ngu? Và nói năng rất thô lỗ như Phạm Minh Chính mới đây?

*  Những trí thức trong nước có thấy sự xuống cấp của giới lãnh đạo một cách thê thảm trong mọi lĩnh vực như: Giáo dục, Y tế, Xây dựng … mà lo buồn cho tương lại nòi giống?

*  Những trí thức trong nước có thấy trên thế giới có một tập đoàn lãnh đạo nào không có khả năng biết xấu hổ, bị nhân dân khắp thế giới khinh bỉ mà vẫn tồn tại? Cái băng rôn cảnh báo hành khách quốc tế phải coi chừng bị ăn cắp có làm cho quý vị cảm thấy nhục?

Tôi có thể bảo đảm rằng với một tập đoàn lãnh đạo cộng sản lì lợm như hiện nay, thì dù các nhà trí thức có viết hàng nghìn bài phản biện phê phán cũng vô ích thôi. Với một hệ thống Công An dày đặc, sống với quyết tâm “Còn đảng, còn mình” thì không cách gì lật đổ cái chính quyền bất lương đó được! Chỉ còn có một cách nhắm mắt liều chết mà thôi!

Một số người chê tôi bi quan trước tình hình đất nước. Tôi nhờ Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chuyển bức thư này của tôi đến bất cứ ai còn quan tâm đến sự tồn tại nòi giống Việt Nam để xem có người nào chỉ cho tôi thấy có một chút ánh sáng hy vọng, dù èo ọt hay le lói, ở cuối đường hầm để tôi được mãn nguyện khi từ giã cõi đời?

Rất mong được biết cảm tưởng của Giáo sư sau khi đọc bức thư này.

Xin cám ơn Giáo sư và cầu chúc Giáo sư dồi dào sức khỏe.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

Thành phố Westminster, Quận Cam. California, Hoa Kỳ

Ngày 6 tháng 6, kỷ niệm Đồng Minh giải phóng Âu Châu.

Địa chỉ email: bangphongdva033@gmail.com

Friday, June 3, 2022

KHÔNG CÒN LÀ NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

                                     Bài Thứ Nhất

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

________________________________________________________________

“… Giống như người lính vừa thua trận,

Nằm giữa sa trường nát gió mưa …

… Một năm người có mười hai tháng,

Ta trọn năm dài một Tháng Tư …”

Hơn 47 năm qua rồi, mấy câu thơ của Thanh Nam cứ mãi quấn quýt bên tôi, như cái niềng kim cô thắt vào tim óc. Nhiều lúc tôi van xin những câu thơ ấy buông tôi ra để cho tôi có được một đêm ngủ thẳng giấc. Chẳng hay bạn bè tôi, đồng đội tôi có bị nỗi trăn trở ám vào người giống như tôi không? Tôi là chiến sĩ từng xông pha trận mạc, chứ đâu phải là nho sinh chân yếu tay mềm, bi lụy như tao nhân mặc khách, thế mà tại sao tôi cứ bị trằn trọc suốt canh thâu? Tôi bị cái nghiệp yêu nước, yêu dân tộc dày vò?!

Tôi thường xuyên tự hỏi tại sao một dân tộc thông minh, oai hùng, bất khuất mà ngày nay phải gánh chịu bao nhiêu điều cay đắng, tai ương, nhục nhã? Cay đắng thì chịu được, còn nhục nhã là do lỗi tại người dân mình? Theo truyền thuyết, nòi giống Việt có thời sống rải rác hai bên bờ sông Dương Tử bên Tàu. Nòi giống Hán đã đồng hóa nhiều dân tộc, nhưng riêng dòng giống Việt tồn tại, là vì tổ tiên ta quyết không để bị đồng hóa, nên bồng bế nhau xuôi dần về phương Nam, đến vùng núi non hiểm trở, ma thiêng nước độc để hùng cứ một phương. Tuy nhiên, nhiều triều vua Tàu, Nguyên Mông, Mãn Thanh vẫn chưa chịu buông tha chúng ta. Bọn giặc phương Bắc quyết lấn chiếm cho bằng được. Tổ tiên ta đã vùng lên: Anh thư Trưng Trắc, Trưng Nhị dấy binh đánh đuổi quân Đông Hán. Hưng Đạo Đại Vương ba lần đánh bại Nguyên Mông. Quang Trung Hoàng Đế đánh đuổi quân Mãn Thanh trong chớp mắt. Quân sử thế giới còn khắc ghi những chiến công lẫy lừng.

Là hàng con cháu, chúng ta ghi ơn các bậc tiền bối đã có công mở nước, dựng nước và giữ nước. Nhưng chúng ta không khỏi tự hỏi rằng tổ tiên mình đã làm gì nên tội tày đình, khiến cho con cháu ngày nay bị rơi vào thảm cảnh tự chém giết lẫn nhau, tự làm nhục nhau? Tổ tiên mình ắt hẳn có “ăn mặn”, thì đời con cháu mới bị “khát nước” khủng khiếp đến vậy chứ, đúng không?

Cơn khát “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc” làm cho trí óc mất sáng suốt, thấy chai nước trước mặt là cứ thế mà nốc vào. Không ngờ đó là chai thuốc độc phá nát lục phủ ngũ tạng!

Dưới thời đại Quân chủ chuyên chế, chắc chắn các sử gia không dám viết Sự Thật. Tuy nhiên, với một chút ánh sáng, chúng ta cũng thấy được phần nào Sự Thật về các vua triều Nguyễn đã phạm tội ác. Chúa Nguyễn Phúc Ánh cũng giống như Lê Chiêu Thống đi cầu viện nước ngoài để giành ngai vàng. Chẳng qua, Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời sớm, Quang Toản còn nhỏ, Chúa Nguyễn Phúc Ánh mới có thể lập lên Nhà Nguyễn. Nếu Quang Trung Hoàng Đế không chết sớm, lịch sử sẽ viết: “Nguyễn Phúc Ánh là một kẻ bán nước giống Lê Chiêu Thống” mà thôi! Vì sao Nhà Nguyễn không thể “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” như Trạng Trình đã dạy? Có phải tại vì các bậc Tiên Đế Nhà Nguyễn ăn ở thất đức, khiến cho hung thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn văn Tường lộng hành để đưa kết cuộc “Nhất giang lưỡng quốc nan phân Thuyết, Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường” trong tang thương? Phải chăng phương cách trả thù quá sức man rợ và ti tiện (tru di tam tộc) của vua Gia Long đối với dòng dõi Nhà Tây Sơn và đối với dòng dõi các quan quân theo hầu vua Quang Trung mà Nhà Nguyễn bị bạc phước? Phải chăng sự tiêu diệt giống dân Chàm của vua Minh Mệnh một cách có hệ thống, mà ngày nay con dân Việt Nam lãnh hậu quả bởi lời nguyền rủa: “Ta (người Chàm) sẽ làm cho cả dân tộc Việt Nam chúng bay trở nên ngu si, đần độn, tàn bạo, điêu ngoa, gian ác, tôn thờ ĐẠO QUỶ SỨ, khiến cho anh em dòng họ chúng bay đấu tố nhau, chém giết nhau, phản bội nhau, chia rẽ nhau, đố kỵ nhau, người yêu nước bị chà đạp, đứa gian manh được tôn vinh cho đến khi nào nòi giống chúng bay bị tận diệt như chúng tao thì mới thôi!”?

Nhân Quả là một định luật khoa học tự nhiên trong vũ trụ. Dù hữu thần hay vô thần đều bị luật Nhân Quả tác động. Nó không trừ một ai. Vấn đề là nhãn tiền hay hậu vận mà thôi.

Tôi xin trình những dữ kiện đã xảy ra trên đất nước để cho độc giả thấy rằng lời nguyền rủa của những oan hồn người Chàm đã tác động lên chúng ta, khiến cho dòng giống Tiên Rồng đang trên đà bị hủy diệt, chứ không còn là mối nguy cơ. Nếu ai thấy được một chút ánh sáng cuối đường hầm, xin vui lòng chỉ cho tôi thấy để tôi hy vọng có một ngày mai tươi sáng.

Karl Marx viết cuốn “Tư Bản Luận” (Capitalist) kết tội bọn Tư Bản hà khắc, bóc lột xương máu người dân lao động. Karl Marx và Frederick Engels viết cuốn “Tuyên Ngôn Cộng Sản” (The Communist Manifesto) kích động nhân dân lao động toàn thế giới đoàn kết lại và đứng lên lật đổ bọn Tư Bản nhằm xây dựng một xã hội không còn đấu tranh giai cấp. Thực ra, Capitalism không phải là Chủ nghĩa như ta thường nghĩ. Capitalism là Chủ thuyết – Theory – vì nó không đề ra một nhân sinh quan, vũ trụ quan và bắt buộc người khác phải theo. Communism mới là Chủ nghĩa vì nó có giáo điều giống như Tôn giáo. Cho nên, sử gia Trần Trọng Kim mới viết “Cộng Sản là Tôn Giáo”, nhưng Cụ Kim quên nhấn mạnh cộng sản là một tôn giáo xây dựng trên hận thù, bạo lực và lưu manh. Vì thế, Cụ Kim coi cộng sản với ta cũng là người anh em trong một nhà, nên Cụ đã đã từ chối viên Đại sứ người Nhật đề nghị tiêu diệt toàn bộ băng đảng Hồ Chí Minh!

Hai bộ sách của Karl Marx và Frederick Engels sẽ bám đầy bụi nằm trong một xó xỉnh nào đó ở Thư viện, nếu không có Vladimir Lenin sử dụng để làm cuộc Cách mạng Vô sản Toàn Thế giới (The World Proletarian Revolution). Nhằm chống lại chính sách thuộc địa của các quốc gia kỹ nghệ tiên tiến Tây Phương, Lenin đã sử dụng sách của Karl Marx làm Kinh Thánh của Đạo Ma Quỷ để khuynh đảo ít nhất một nửa nhân loại. Lenin luôn luôn nhấn mạnh với thuộc hạ mình câu: “Tổ Chức! Tổ Chức! Không có Tổ Chức là không có gì cả”. Đảng Cộng sản của Lenin là một băng đảng tội ác có tổ chức, với phương châm hành động “Cứu cánh biện minh phương tiện”, nghĩa là làm bất cứ điều gì, dù tàn ác đến thế nào, miễn là đoạt được quyền hành. Mao Trạch Đông còn thêm: “Họng súng đẻ ra Quyền lực” và “Trường kỳ mai phục” (luôn luôn rình rập sự sơ hở của đối phương để đâm sau lưng). Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng lật đổ, Cộng sản sử dụng một thứ vũ khí vô cùng lợi hại. Đó là tuyên truyền nhồi sọ (brainwash) để vẽ lên một hình ảnh đẹp đẽ của chủ nghĩa, hứa hẹn một Thiên đường ảo, nhưng nếu chúng gặp sự nghi ngờ hay chống đối thì hăm dọa, thủ tiêu, ám sát.

“Đạo Ma Quỷ” ra đời là thời điểm để cho oan hồn Người Chàm thể hiện lời nguyền rủa ứng vào nòi giống Việt Nam ta. Hồ Chí Minh chính là con Quỷ của Đạo Cộng sản, có một nhân thân rất mập mờ. Không ai có thể quả quyết hắn là Người Việt hay là Người Tàu đội lốt Việt.

Dựa theo tình báo của Pháp, trên giấy căn cước (carte d'identité) của Hồ Chí Minh cao 1 mét 65 khi hoạt động ở Paris với nhà cách mạng Phan Chu Trinh. Nhưng thực tế Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước ở Bắc Bộ phủ thì Hồ Chí Minh cao 1 mét 75. (Xem hình ở cuối bài). Như thế, có nghĩa Hồ Chí Minh này không phải là Nguyễn Sinh Cung, con Cụ Nguyễn Sinh Sắc quê ở Nghệ An. Một độc giả trong nước gọi điện thoại cho tôi và nói rằng bằng chứng tôi đưa ra chưa đủ thuyết phục “Bác Hồ” là một người Tàu đóng vai Việt Nam. Được rồi! Hãy tạm coi Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung mang dòng máu Việt Nam là thực. Nhưng xét những hành động của y qua vai trò lãnh đạo nước Việt Nam, ta sẽ thấy Hồ Chí Minh là “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt” (tên một vở kịch của Lưu Quang Vũ).

Các nhà cách mạng chống Pháp như Cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Lý Đông A … đều là những nhà yêu nước tự phát. Họ không hề được đào tạo kỹ thuật của “nghề chiến tranh khuynh đảo” như Hồ Chí Minh được Quốc tế Cộng sản đào tạo về tuyên truyền xảo trá, về khủng bố, về Tình Báo Phản Gián từ các cơ quan KGB của Nga, Stasi của Đông Đức và Tình báo Hoa Nam của Trung Cộng. Hồ Chí Minh là cán bộ Tình Báo của Quốc Tế Cộng Sản, là một tên tay sai đắc lực của Cộng sản trong ý đồ nhuộm đỏ toàn cầu.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh là một chính trị gia “điếm thúi” phản quốc.

Hắn thờ chủ nghĩa cộng sản vô thần, nhưng tha thiết nài nỉ xin Đức Cha Lê Hữu Từ rửa tội để trở thành tín đồ Công giáo.

Hắn hô hào: “Đoàn kết! Đại đoàn kết! Thành Công! Đại Thành Công!” trong khi đó hắn chỉ thị cho đàn em ám sát, thủ tiêu các nhà cách mạng ái quốc chống Pháp. Hắn dạy cán bộ “trung với nước, hiếu với dân”, nhưng hắn lại sai Thủ tướng Phạm văn Đồng ký văn kiện chấp nhận biển đảo VN là của Trung Cộng và gửi cán bộ sang Tàu học cách chửi cha mắng mẹ để về nước làm cuộc Cải cách Ruộng Đất giết oan hàng trăm ngàn người vô tội.

Hắn dùng chính sách “bao tử trị” học từ cách dạy chó của nhà sinh vật học người Nga – Ivan Pavlov – để biến toàn xã hội thành trại súc vật. Chẳng ai còn nhân phẩm, nhân quyền.

Hắn làm nhục trí thức, vì coi trí thức không bằng cục cứt. Hắn lập ra một bộ máy cai trị dựa trên tiêu chí “Hồng hơn Chuyên” thì chỉ có cái thứ thiến heo hoạn lợn lên làm lãnh đạo mà thôi!

Tất cả những tội ác của Hồ Chí Minh đã được những đảng viên trung kiên cộng sản viết ra, chứ tôi không bịa đặt để bôi bẩn Hồ Chí Minh. Một người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Thực dân để giành độc lập mà ác hiểm, đạo đức giả như hắn thì chắc chắn hắn có chủ trương tiêu diệt nòi giống Việt. Hầu hết tinh hoa của đất nước đã bị quỷ ám, mới nhắm mắt đi theo phục vụ, tôn thờ, sùng bái thì có phải lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm là quá đúng, phải không?

Đại sứ Bùi Diễm viết cuốn “Trong Gọng Kìm Lịch Sử” (In The Jaws Of History) để nói lên sự khó khăn của các chiến sĩ cách mạng Quốc gia vừa chiến đấu chống Thực dân Pháp vừa lo đối phó với Việt Minh (bọn cộng sản trá hình). Điều đó đúng! Nhưng sau năm 1954, cái gọng kìm oan nghiệt ấy đâu còn nữa? Mỹ Quốc viện trợ kinh tế, vũ khí để Chính quyền tổ chức gần 1 triệu người Miền Bắc vào Miền Nam tị nạn cộng sản định cư, lập khu dinh điền và xây dựng guồng máy Quốc gia. Mỹ đâu phải là Thực dân Pháp? Chính quyền Ngô Đình Diệm đâu phải là Việt Minh? Vấn đề là lãnh tụ đảng phái, tôn giáo không ý thức hiểm họa cộng sản, nên chia rẽ nhau, xung đột nhau và chống Chính quyền Quốc gia còn mạnh mẽ hơn là chống Việt Cộng, nên Miền Nam mới mất!

Theo tôi biết, những lãnh đạo Đại Việt đều xuất thân con nhà danh giá, dù được Thực dân Pháp đào tạo, nhưng họ đều là những người yêu nước, nên mới dấn thân tham gia vào cuộc tranh đấu giành độc lập. Họ không phải là những kẻ cơ hội. Thế nhưng, họ đã không tuân theo lời dạy của tổ tiên: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Chẳng qua, họ bị lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm thì mới ra tình trạng chia rẽ đó. Tôi xin dẫn chứng một số trường hợp cá biệt để chứng minh.

Lúc Bố tôi đang làm Giám đốc Bệnh viện Phan Rang, được Cụ Thủ tướng Trần trọng Kim gọi về Huế để đảm nhiệm chức vụ Đổng lý Văn phòng. Bác sĩ Lê Khắc Quyến đến thay. Bác sĩ Quyến tạm ở tại tư dinh của Bố tôi, trước khi Mẹ tôi dọn nhà ra Huế. Bác sĩ Quyến cưng yêu tôi giống như chính con ruột của ông. Sau khi Nhật đầu hàng, quân Pháp trở lại Việt Nam. Bác sĩ Quyến trở về Huế hành nghề, có một phòng mạch nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng đi vào Cửa Thượng Tứ. Mỗi lần Mẹ con tôi ốm đau, đều được bác sĩ Quyến chăm sóc tận tình miễn phí, chúng tôi ghi ơn. Bác sĩ Quyến là một người đạo đức, có uy tín trong thành phố, được gia đình ông Ngô Đình Diệm mời làm bác sĩ riêng chăm lo sức khỏe cho thân mẫu. Năm 1954, ông Ngô Đình Diệm về nước tặng riêng cho bác sĩ Quyến một chiếc xe Mercedes để trả ơn. Chính quyền từ Đệ Nhất Cộng Hòa đến Đệ Nhị Cộng Hòa đều ưu đãi và trọng dụng ông. Thế mà đêm 23 tháng Giêng năm 1965, ông Chủ tịch Phong trào Nhân Dân Cứu Quốc Lê Khắc Quyến, phát động cuộc nổi loạn đốt cháy thư viện Hoa Kỳ tại Huế có trên 10 ngàn cuốn sách. Phong trào lan rộng rất nhanh, chạy dài từ Quảng Trị đến Nha Trang, tưởng chừng Miền Trung rơi vào tay Việt Cộng lúc bấy giờ. Chính quyền kịp thời dẹp tan Phong trào, nhưng oái oăm thay! Bác sĩ Lê Khắc Quyến vẫn được mời làm thành viên Thượng Hội đồng Quốc gia. Như vậy làm sao Miền Nam không mất?

Sau Tháng Tư năm 1975, một Sự Thật động trời được tiết lộ: “Bác sĩ Lê Khắc Quyến là Bí thư Chi bộ Thuận Hóa, gồm có những trí thức tên tuổi của thành phố Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo (đã đào tẩu thiên đàng CS, chạy qua Paris!)Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Thân Trọng Phước, Võ Đình Cường , Bà Tuần Chi và Hòa thượng Thích Đôn Hậu…

Bà Tuần Chi tên thật là Đào thị Xuân Yến, lấy quan Tuần phủ Nguyễn Đình Chi, nên dân Huế quen gọi bà là Bà Tuần Chi. Đa số những trí thức Miền Nam như bà Tuần Chi đều yêu nước, tham gia Mặt trận Việt Minh chống Pháp từ năm 1945. Sau 1955, Thực dân Pháp rời Việt Nam, chủ quyền Quốc gia thuộc về tay Việt Nam Cộng Hòa, nhưng các trí thức vừa được Miền Nam trọng dụng, lại vừa bí mật hoạt động cho Việt Cộng. Ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh coi trí thức không bằng Cục Cứt. Ở Miền Nam lại có một số thành phần trí thức được chế độ và nhân dân kính trọng, lại tự biến mình thành Cục Cứt cho chế độ cộng sản man rợ ở Miền Bắc. Vậy có phải những lời nguyền rủa của các oan hồn người Chàm đã tác động vào đầu óc trí thức, đúng không?

Nay tôi xin nhắc đến những lãnh tụ đảng Quốc gia chống cộng sản. Đó là Văn hào Nhất Linh, từng làm Bộ trưởng Ngoại Giao trong Chính phủ Liên Hiệp Hồ Chí Minh và đã thấy bộ mặt đểu cáng của Hồ Chí Minh, nên từ chức. Lẽ ra, với uy tín của nhà văn lớn, một lãnh tụ tên tuổi, Nhất Linh đứng ra hô hào toàn dân Miền Nam cùng nhau đoàn kết với chính thể Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ viện trợ tài chánh, quân sự để tiêu diệt ý đồ xâm lăng Miền Nam của Hồ Chí Minh thì hay biết mấy! Trái lại, Văn hào Nhất Linh lại dính líu đến cuộc đảo chánh của Vương văn Đông và Trần Đình Lan  hai sĩ quan Phòng Nhì của Thực dân Pháp  vào năm 1960. Ngoài ra, Văn hào Nhất Linh đã không có cái dũng của kẻ sĩ vì không dám ra tòa nhận lấy trách nhiệm. Ông để lại một bức thư tuyệt mệnh mà lời lẽ có mục đích kết án chế độ hết sức gắt gao. Một người nổi danh như Văn hào Nhất Linh mà kết án một cách vô tội vạ chế độ đàn áp đối lập, đàn áp tôn giáo thì khác nào cung cấp đạn dược cho bộ máy tuyên truyền dối trá của Việt Cộng! Trong khi ở Miền Bắc đập phá đền chùa miếu mạo, coi trí thức như cục cứt thì lại “phất cờ” giải phóng dân tộc. Dù quân sĩ của các Sư Đoàn Việt Nam Cộng Hòa thiện chiến đến mấy cũng phải thua thôi!

Nhân vật thứ hai là Cụ Nguyễn văn Lực  một trong những lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng  đã chứa chấp Nguyễn văn Linh  Bí thư Thành Ủy Sài Gòn của Việt Cộng  bí mật hoạt động nội thành Sài Gòn. Cụ Lực và Nguyễn văn Linh đã xúi giục con trai  phi công Nguyễn văn Cử  và Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962. Cụ Nguyễn văn Lực là bạn đồng chí Quốc Dân Đảng với Nguyễn văn Linh. Sau khi Nguyễn văn Linh bị Thực dân Pháp bắt bỏ tù chung với Lê Duẩn tại Côn Đảo thì Nguyễn văn Linh tuyên thệ vào đảng Cộng Sản. Giống như trường hợp Trần Huy Liệu – một đảng viên cao cấp Quốc Dân Đảng – khi ở tù Côn Đảo cũng tuyên thệ vào đảng Cộng sản. Cụ Nguyễn văn Lực có bốn người con trai đều là sĩ quan Phi công trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chẳng hay bốn anh em phi công Nguyễn văn Cử có biết bố mình thông đồng với Nguyễn văn Linh hay không? Các con đều gia nhập Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bố là lãnh tụ Quốc Dân Đảng mà tư thông với cán bộ Việt Cộng là nghĩa làm sao? Nếu không bảo là bị quỷ ám, thì giải thích sự kiện này thế nào cho hữu lý đây?

Sau năm 1975, anh Nguyễn văn Cử bị kẹt lại, vẫn bị giam vào trại Tập Trung, không được Nguyễn văn Linh can thiệp trả tự do! Gọi Việt Cộng là quân chó đẻ thì đâu có sai?

Mời độc giả xem Video do ông Bộ trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh phỏng vấn Đại tá Đào Quang Hiển https://www.youtube.com/watch?v=fYUDrm9Y7dM ở 1 giờ 03 phút để biết tình tiết.

Tiếp theo, mời độc giả xem Video cũng do ông Bộ trưởng Nội vụ Lâm Lễ Trinh phỏng vấn Đại tá Nguyễn văn Y  thân phụ ca sĩ đấu tranh Nguyệt Ánh  nói về việc Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh Đại tá Nguyễn văn Y  Giám đốc Cảnh sát Quốc gia  đốt hồ sơ Đại tướng Dương văn Minh thông đồng với Việt Cộng: 

https://www.youtube.com/watch?v=f2mVrjE4Wsc. Đại tá Dương văn Minh không theo Tướng Nguyễn văn Hinh, ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nên được ông Diệm cử làm Tư Lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu tiêu diệt Bình Xuyên. Thành công, ông Minh được phong Tướng. Nhưng khi Thủ tướng Diệm biết tin ông tịch thu thùng phuy tiền của Bình Xuyên mà không giao nộp cho Ngân khố Quốc gia, thì ông Diệm tỏ ra lạnh nhạt với ông, cho ông ngồi chơi xơi nước, nhưng không phạt quân kỷ. Thừa lúc ấy, em ruột của Dương văn Minh là Dương văn Nhựt – một cán bộ Việt Cộng – tiếp xúc anh mình và thuyết phục theo Việt Cộng! Tướng Dương văn Minh phản Quốc gia từ bấy giờ và lãnh đạo cuộc đảo chánh năm 1963 để giết anh ông Ngô Đình Diệm!

Ngoài ra, có ba điệp viên đắc lực của Việt Cộng là: nhà báo Phạm Xuân Ẩn, ký giả của tờ báo Times. Đại tá Đinh văn Đệ, nguyên Tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức, Chủ tịch Ủy ban Quốc Phòng Hạ Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa, được Tổng thống Nguyễn văn Thiệu cử làm Trưởng Phái đoàn sang Hoa Kỳ vận động Quốc Hội Mỹ viện trợ và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc, dạy Đại học Sài Gòn.

Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc là chồng của cháu ruột bà Đặng thị Lý  phu nhân Thủ tướng Phan Huy Quát và là chị ruột Hùm Xám Đặng văn Việt  từ Pháp về Sài Gòn dạy Đại Học và tá túc tại nhà bác sĩ Phan Huy Quát. Nguyễn Đình Ngọc cũng là anh em đồng hao với Đại tá Hải Quân VNCH Nghiêm văn Phú. Với bề ngoài nho nhã, đẹp trai, hơi lập dị, không quan tâm đến tiền bạc, chỉ ăn một bữa mỗi ngày, Nguyễn Đình Ngọc vốn là sĩ quan Tình báo Việt Cộng, trà trộn vào đoàn người di cư năm 1954, rồi sang Pháp du học và trở về Saigon dạy học. Biết người Quốc gia đặt nặng tình nghĩa gia đình, bọn Việt Cộng đã khai thác tối đa sự liên hệ bà con để phục vụ cho đảng của chúng. Thủ tướng Phan Huy Quát không hề biết người cháu rể của mình là cán bộ tình báo cao cấp của Việt Cộng. Có phải đấy là “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà” không? Ai có thể bảo vệ Miền Nam Tự Do khi những con vi khuẩn Việt Cộng đục nát cơ thể?

Năm 1975, Thủ tướng Phan Huy Quát bị kẹt lại. Chính Nguyễn Đình Ngọc, Đại tá Tình Báo Việt Cộng, đã dàn cảnh để bắt ông Quát vào giam tại Khám Chí Hòa. Thủ tướng Phan Huy Quát bị Việt Cộng bắt buộc phải nằm nền xi-măng (không có mền chiếu), không được cho ăn uống thức ăn sạch, không được tắm rửa, mình mẩy bị ghẻ lở và mắc bệnh kiết lỵ mà không được cấp thuốc. Nguyễn Đình Ngọc từng ăn cơm nhà ông Quát mòn răng, nhưng không hề bước chân vào thăm ông Quát một lần. Ông Quát chết, bị đem chôn mà không có một chiếc chiếu quấn quanh mình. Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc và nhà báo Phạm Xuân Ẩn được đảng thăng cấp Thiếu tướng. Trước khi chết, nhà báo Phạm Xuân Ẩn trối trăng với vợ con: “Đừng chôn ông cạnh mồ của mấy thằng Việt Cộng”. Cộng sản là đồ chó đẻ ở chỗ đó. Việt Cộng vắt chanh bỏ vỏ là thế đấy!

Ba điệp viên chiến lược gạo cội là Phạm Xuân Ẩn, Đinh văn Đệ và Nguyễn Đình Ngọc sau khi thu lượm tin tức từ Hoa Kỳ, đã báo cáo một cách quả quyết với Bộ Tư Lệnh đoàn quân xâm lăng Việt Cộng là Hoa Kỳ sẽ không đưa quân trở lại Việt Nam. Vì thế, xe tăng Việt Cộng cứ ào ào tiến như chẻ tre.

Mời quý vị độc giả nghe sau đây Nghê Lữ đọc bài viết của ký giả Trúc Giàng về Việt Cộng Nằm Vùng trong Chính phủ VNCH : 

https://www.youtube.com/watch?v=4p7Gy_4L-64&feature=youtu.be.

Việt Cộng động viên toàn lực nhân dân Miền Bắc để hoàn thành nghĩa vụ Quốc tế do Liên Xô và Trung Cộng sai khiến. Cuộc xâm lăng của Việt Cộng không đơn thuần về Quân Sự. Đó là một cuộc chiến toàn diện, gồm: Chính trị, Tôn giáo,Tình báo, Phản gián, Tâm lý, Địch vận, Tuyên truyền. Trong khi đó sự phòng thủ của Miền Nam không có chiến thuật, chiến lược toàn diện nhất quán để đáp trả ý đồ của Việt Cộng. Dù ông Ngô Đình Nhu – một nhà chiến lược đại tài – cũng không thể cứu Miền Nam vì sự thiếu cán bộ chuyên nghiệp và sự phản phúc của thuộc cấp.

Hãy xét về chính sách Giáo dục. Như trên đã viết, Việt Cộng phát động cuộc xâm lăng toàn diện. Nhưng chương trình Giáo dục Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ nhắm đào tạo học sinh, sinh viên thành chuyên viên, chứ không dạy cho thanh niên hiểu biết cộng sản là một kẻ thù hung hiểm hơn bất cứ quân xâm lược nào từng đô hộ Việt Nam. Ngay cả thanh niên muốn dấn thân hy sinh, gia nhập Quân Đội để chống lại kẻ thù, cũng không thấy được Miền Nam sẽ mất vào tay Việt Cộng, vì trí thức, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo tôn giáo hầu như đa số đều bị quỷ ám.

Đường lối cai trị của Đảng Việt Cộng cho đến ngày hôm nay vẫn không một mảy may thay đổi. Việt Cộng vẫn triệt hạ trí thức, vẫn triệt tiêu khí phách dân tộc để hoàn thành công việc Hán hóa do Hồ Chí Minh đã thiết lập từ năm 1930. Người dân trong nước chỉ được quyền sống như những tên nô lệ, câm nín trước sự bất công, tham nhũng của quan chức cộng sản.

Mời quý độc giả xem tiếp những chứng minh của người viết trong bài tới để thấy dân mình bị lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm là có thật.

Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 2 tháng 6 năm 2022.

Telephone: 714 – 276 – 5600

Email Address: bangphongdva033@gmail.com




Trên đây là Căn cước (Carte d’Identité) của Hồ Chí Minh cao 1 mét 65.

Và dưới đây là hình Hồ Chí Minh chụp cùng với thành phần Chính phủ Liên Hiệp mà Hồ Chí Minh lập năm 1946. Mặc dù Hồ Chí Minh đứng ở bậc cấp thấp nhất, nhưng hơn nhiều người. Ước chừng Hồ Chí Minh cao 1 mét 75. Vậy thì “Hồ Chủ Tịt” không thể là Nguyễn Sinh Cung, con trai ông Nguyễn Sinh Sắc được.

 




 https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/khong-con-la-nguy-co-bang-phong-ang-van_3.html