Search This Blog

Thursday, December 9, 2021

DÒNG ĐỜI VÀ HỒI ÂM DÒNG ĐỜI

 

Giòng Đời … & … Hồi Âm Giòng Đời

Đầu tháng 9-96, báo Ngày Nay ở Houston có đăng một lá thư, tác giả là một người đàn bà ký tên Nga (Sài gòn) gửi cho người yêu cũ Duy, tức Đại Tá Không Quân Đặng Duy Lạc, người đã viết đoản văn “Giòng Đời” trên Đặc san Ngàn Sao của Hội Không Quân Houston, số mùa Hè 92 với bút danh Duy Lạc.

“Giòng Đời” là một bài văn hồi tưởng về cuộc tình lỡ của tác giả trong thời niên thiếu. Đó là mối tình đầu, như rất nhiều mối tình đầu dang dở khác, ở cái thời đại mà tình yêu trai gái coi như trái cấm bởi vòng rào luân lý, và quan niệm tương giao nam nữ khắt khe của xã hội đương thời. Biết bao mối tình trong sáng, ngây thơ, chất phác, như những đóa hoa yêu hoa lệ nở rụt rè, rồi tan vỡ, để lại trong văn chương nhiều chuyện tình đẫm lệ, dư âm còn mãi đến bây giờ.

Trong phần giới thiệu, Ngày Nay viết: “… Tác giả (Duy Lạc) kể lại mối tình đầu của mình vào thời niên thiếu, lúc cắp sách đến trường huyện với một người con gái tên Nga học cùng lớp. Lúc đó, vào dịp toàn dân kháng Pháp, 1945. Thời thế sau đó đổi thay, ông Duy Lạc vào Nam, rồi trở thành một Sĩ quan Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Còn cô Nga trở thành một người lính của phía bên kia, vượt Trường Sơn vào Nam”.

Chuyện không ngờ là tờ Ngàn Sao lọt được về Sài gòn, và cô Nga ngày xưa được đọc bài “Giòng Đời” và sau đó, viết một bài chuyển ra ngoài với tên “Hồi Âm Giòng Đời”. Đây là một bức thư tâm tình riêng tư giữa hai người bạn lòng, nhưng tình tiết ghi lại một giai đoạn phân ly nghiệt ngã của đất nước…”

Bài “Hồi Âm Giòng Đời” đăng trên Ngày Nay đã gây một xôn xao dư luận, nhất là trong dư luận Không Quân. Ở một vài nơi, có những báo khác đăng lại. Đây là chuyện tình cảm động của thế hệ chúng ta, với đầy đủ tính cách bi thương, lãng mạn, chung thủy và đằm thắm biết bao, trong bối cảnh đau thương của đất nước, với cuộc phân tranh đối đầu chủ nghĩa, huynh đệ tương tàn.

Lý Tưởng đăng lại bài văn “Hồi Âm Giòng Đời”, vì thứ nhất, ngoài tính chất bi thảm của một câu chuyện đầy bi thảm, còn vì cái đoạn kết bất ngờ và đau xót là Đại Tá Đặng Duy Lạc đã chết đường đột, ít ngày sau khi bài báo được phổ biến. Có thể chăng, lá thư tình gởi muộn đã làm anh rúng động và cảm xúc, vì ăn năn, hờn trách mình ngày xưa đã rụt rè, yêu không dám ngỏ và đã hiểu lầm, hóa nên cuộc tình thành chia biệt 40 năm…?

Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều… (Kiều)

Phải chăng chính cái tâm “quán tưởng” theo kinh Phật mà Nguyễn Du đề cập đến rất nhiều lần trong truyện Kiều, đã khiến con người nòi tình nghệ sĩ Đặng Duy Lạc tưởng tượng thêm ra những tình tiết đẹp đẽ cho mối duyên dang dở, để càng nặng lòng tiếc nuối, âu sầu, đắm đuối mình trong niềm ai oán với trò chơi nghiệt ngã của định mệnh? Anh khổ dau, dằn vặt bởi giòng chữ bùi ngùi thương tội “Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt…” khiến “Anh Duy thân mến” của Nga đã bơi ngược giòng đời, day dứt niềm thương, đem xuống tuyền đài mối tình đằng đẳng chưa tan.

Thứ nữa, “Hồi Âm Giòng Đời” của Nga Sài gòn có một giá trị văn chương cao vượt trên “Giòng Đời” của Duy Lạc khó mà phủ nhận. Người nữ đó đã sống hết ngả truân chuyên, trôi cuốn theo giòng cuồng lưu vận nước, vô độ thảm thương hơn thân phận Thúy Kiều, khổ đau và tủi nhục trên cả Lara trong “Dr. Jivago”, vượt xa cơn khốn khó của Catherine Barkley trong “A Farawell To Arms”. Những nhân vật nữ đa truân của văn chương nhân loại. Người đàn bà tên Nga đã cho đi ở lứa tuổi thanh xuân đẹp đẽ đó, cả cuộc đời nàng vì lý tưởng thiêng liêng dành cho đất nước, thủy chung ôm giữ mối tình đầu câm lặng cùng niềm u oán… Để bốn chục năm sau, bàng hoàng sống lại nguyên tròn cảm giác bồi hồi xưa cũ, nửa đêm ngồi viết lá thư dài, gửi “Anh Duy dấu yêu” những lời nồng nàn tha thiết, bây giờ mới ngỏ… Để tim người tình năm xưa quặn thắt và đau buốt nhức, tay cầm tờ thư cũng run lên, như trước đây, bên trời xa mù tắp, Nga cũng run lên “còn hơn bị B-52 trải thảm”, khi đọc “Giòng Đời” trên giai phẩm Ngàn Sao.

Thiên tình sử đã được viết ra bằng những giòng chữ đầm đìa ngấn lệ, văn chương tới độ chân thành, cảm động, khiến hoe rưng người đọc.

Thêm vào đó, “Hồi Âm Giòng Đời” còn là một tác phẩm sâu sắc, tát thẳng vào mặt chế độ với những giòng chữ viết ra từ một người theo cách mạng, nói về thực chất của cái gọi là “nhà nước”, trên phương diện thông tin chỉ thuần mục đích tuyên truyền “nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích”, về tệ trạng tham nhũng hối mại “chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền v.v… thì cái gì to như con voi cũng qua lọt”, và thú nhận lầm lỡ đi theo Việt cộng chỉ là do “định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!”… Em tập kết vì ngỡ mình sẽ đến được một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay vì bị huyền hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn có cảnh người bốc lột người….”

Đó là tâm trang não nề của “người đàn bà góa bụa mái tóc đã bắt đầu điểm sương ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất..” tủi buồn ngậm giọt thương thân, nhớ lại mối tình thơ ngây không dám ngỏ và thổn thức hồi niệm cuộc chia ly định mệnh, khiến cho đời nàng giông bão “Nhiều đêm em đã khóc vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều…” Nhớ đến bóng hình xưa thuở thanh xuân đèn sách học trò và giấc mơ lãng mạn “Có lần nào anh say sưa oanh kích, mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy?”

“Hồi Âm Giòng Đời” nói lên đầy đủ cái thảm kịch của thế hệ chúng ta, của phần số đau thương bất hạnh dân tộc ta gánh chịu. Lý Tưởng trân trọng mời bạn đọc theo dõi và cảm xúc với từng giòng chữ phô diễn chân thành tâm trạng người viết, để hiểu tại sao cái khổ đau ray rứt đã khiến ông Đại Tá phi công khu trục Đặng Duy Lạc không gượng nổi, phải từ giã anh em, từ giã bạn bè để ra đi mang theo tình yêu thánh hóa sang bên kia thế giới…

Đào Vũ Anh Hùng

* * *

GIÒNG ÐỜI

Tôi sinh ra vào thế hệ của thập niên 30. Thế hệ của chúng tôi chịu nhiều xáo trộn điên đảo nhất trong giòng lịch sử 60 năm của dân tộc (1930-1990). Chúng tôi may mắn là nhân chứng của nhiều sự hưng vong của bao chế độ và cuối cùng được nhìn tận mắt sự sụp đổ ngoạn mục của chế độ Cộng sản bạo ngược khắp thế giới. Ðó cũng là một niềm an ủi cuối đời cho thế hệ chúng tôi, những người chống cộng sản phải bỏ nước ra đi lang thang, bơ vơ, chịu nhiều bất hạnh, mang nhiều nổi đau buồn trên đất khách.

Ngày xưa từ tuổi nhi đồng qua thời niên thiếu, chúng tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luân lý đạo đức Khổng Mạnh qua các tập “Luân Lý Giáo Khoa Thư” ở nhà trường. Trong xã hội lúc bấy giờ, một thời văn chương lãng mạn của các nhà thơ: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên v.v… và nhóm chủ trương Tự Lực Văn Ðoàn của Nhất Linh đã mang lại cho chúng tôi một ít mơ mộng về tình yêu (Hồn Bướm Mơ Tiên), hay ý thức mơ hồ về các hoạt động cách mạng (Ðôi Bạn). Sau đó từ năm 1935-1945, dòng nhạc tiền chiến trữ tình và lòng yêu nước của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Tô Vũ, Ðặng Thế Phong.v.v… đã thật sự thấm nhập tâm hồn tuổi trẻ vừa lãng mạn vừa khơi động tình yêu tổ quốc của tuổi thanh niên.
Kế đến thế chiến thứ hai vào giai đoạn chót bộc phát dữ dội. Bom đạn của chiến tranh bắt đầu tàn phá quê hương. Nương theo sự thất trận của Nhật, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp nổi dậy, cuối cùng đi đến ngày 19-8-1945, ngày toàn quốc khởi nghĩa mà bọn Việt Minh Cộng sản quỷ quyệt cướp lấy công đầu. Và cũng từ hoàn cảnh đó, đám thanh niên thế hệ chúng tôi một số vào rừng, vào bưng, vào chiến khu để theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Một số khác vì còn trẻ tuổi, phải bỏ thành phố tản mác về vùng quê để tạm lánh cư.
Cũng như mọi gia đình khác, cha mẹ chúng tôi vội vã bỏ hết gia sản chạy về vùng quê miền Trung. Từ đó đời tôi bắt đầu một khúc quanh: cơ cực cũng lắm, hạnh phúc cũng nhiều, chạy dài suốt một thời niên thiếu. Tôi dần dần yêu thích cảnh sống đồng quê. Say sưa với núi cao, biển rộng, rừng thông, đồi cát, ruộng mía, nương khoai với những hình ảnh của đình chùa, miếu mão. Tôi yêu thương làng tôi qua lũy tre xanh. Con đường nho nhỏ thông reo. Ngôi đình cổ kính nằm bên chân đồi. Tôi mê nhất những buổi trưa hè ngồi nghe tiếng thông vi vu, réo rắt một điệu nhạc buồn như tiếng sáo diều từ lưng đồi vọng lại.
Tuổi thơ của tôi thấm đậm tình quê hương từ những ngày tháng êm đềm thơ dại đó. Những năm đầu kháng chiến, gia đình tôi chưa đến nỗi sa sút. Tôi được đi học tại trường Trung học cấp huyện, cất ngay trong làng. Ở miệt thôn quê thời kháng chiến, sự học hành bị gián đoạn nên học sinh tuy ngồi chung lớp nhưng tuổi tác chênh lệch nhau. Trong lớp “Ðệ nhất niên” của tôi có độ mươi cô nữ sinh. Các cô thuộc người làng hoặc từ những làng kế cận đến học. Phần nhiều nữ sinh thuộc gia đình giàu có trong đám hương mục ngày xưa như Chánh Tổng, Xã Trưởng, Hương Lý, Hương Hộ v.v…
Các cô tuy là gái quê nhưng trông cũng xinh đẹp lượt là lắm. Tôi thời đó học hành dốt nát, chỉ thích lêu lỏng ngoài đường. Chuyện nhà trốn tránh, chuyện bạn bè thì mau mắn. Tôi lang thang suốt xóm trên làng dưới, tập đàn ca với đám nữ sinh cùng lớp, ít khi có mặt ở nhà. Công việc nặng nhọc trong gia đình tôi giao cho chú em kế gánh vác. Mẹ già nhiều lúc mắng mỏ rầy la, tôi vẫn trơ mặt thịt.
Ðã vậy tôi còn tơ tưởng yêu đương. Tôi yêu tha thiết một cô em tên Nga cùng lớp. Em ngồi dãy bàn trước mặt. Tôi còn nhớ chiếc áo chemise lụa mỏng và chiếc quần lãnh đen của em. Em có đôi mắt nhung huyền sâu thẳm như đáy hồ thu mà tôi tự nguyện chết đuối trong đó những lần em quay lại nhìn tôi cầu cứu. Ðôi môi em đỏ hồng gợi cảm. Những lúc em ban phát cho tôi một nụ cười cám ơn khi tôi cho cóp bi bài toán là những lần tim tôi như ngừng đập. Em thường liếc xéo tôi mỗi khi tôi trêu chọc. Cái nguýt dài, con mắt có đuôi, kèm theo một nụ cười mỉm của cô gái dậy thì, có lúc là một “message” ưng chịu kín đáo của thời đó.
Thật tình lúc bấy giờ tôi không đoán được Nga có cảm tình gì với tôi chưa. Nhưng riêng tôi, tôi đã mê tít nàng. Cứ mỗi ngày cô em nghỉ học là mỗi ngày tôi thẩn thờ nhớ nhung. Tôi tương tư nàng như Nguyễn Bính tương tư “Cô hàng xóm”:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn…

Tuy yêu thương mê mẩn như thế, tôi chưa dám nói một lời yêu thương cùng nàng. Hồi đó tôi đen đúa xấu trai. Tóc chải bảy ba có thêm một chút tango ổ quạ ngay trước trán (thời trang 1945). Tôi gầy đét và cao lêu nghiêu như cây sậy. Thật tình nhìn kỹ tôi chả giống con giáp nào! Tôi chỉ được tiếng “người Sài gòn” và một chút tài mọn về đàn ca hát xướng. Vì vậy, tôi chủ quan nghĩ rằng em đã cảm tình với tôi. Một hôm vào dịp nhà trường tổ chức đi cắm trại qua đêm ở một rừng dừa ven biển. Dĩ nhiên tối hôm ấy có đốt lửa trại và thi đua văn nghệ, giữa mấy trăm học sinh cùng trường. Tôi táo bạo ghi tên tham dự, cốt để chứng tỏ với Nga về khả năng văn nghệ của mình. Ðêm hôm đó, trước đám đông đảo học sinh, tôi đơn ca bản nhạc “Nhớ Chiến Khu”, một bài ca tủ của tôi, “Còn đâu trong chiến khu trên rừng chiều. Bên đèo tiếng suối reo, ngàn thông réo…” Tôi đang mơ màng vừa ca vừa diễn xuất bộ mặt sầu sầu của anh Vệ quốc Quân nhớ nhà, nào ngờ đến đoạn cao nhất của bài hát, một phần vì khớp, một phần vì nhìn thấy cô nàng đang theo dõi mình, tự nhiên tôi té giọng kim, dứt đoạn, rồi ngừng ngang nửa chừng. Tôi đúng như trời trồng giữa tiếng vỗ tay la ó của đám học sinh. Tôi xấu hổ, tay chân thừa thải, mặt đỏ bừng chỉ muốn độn thổ cho xong. Tội nghiệp Nga, nàng cúi đầu thương hại cho tôi.
Rồi có một lần, chuyện phải đến đã đến, Nga ngỏ lời mời tôi đến nhà nàng chơi vào chiều thứ bảy. Tôi sung sướng nhận lời. Dịp này nhất định tôi sẽ bộc lộ tâm sự với nàng bằng một lá thơ. Mấy ngày liền tôi ngồi nắn nót viết bức thư tình đầu tiên. Tôi còn nhớ rõ bức thư viết dài và hay lắm. Tôi diễn tả mối tình say đắm của mình. Văn chương lãng mạn và ướt át vô cùng.
Trong bức thư tôi còn làm dáng về vốn Pháp văn của mình bằng hai câu bất hủ “L’homme sans amour comme La Terre sans Lumière” mà tôi thuổng được ở mấy bức thư tình của bà chị tôi. Chiều hôm ấy, tôi băng mấy cánh rừng dương để đến nhà nàng.
Nhà Nga xinh xắn bao quanh bởi một vườn cau và một hàng rào bông bụp tím nhạt. Vườn có nhiều hoa và cây ăn trái. Tôi dạo chơi thơ thẩn trong vườn cùng nàng suốt buổi tối. Nàng bóc bưởi mời tôi ăn. Tôi trèo cây hái khế tặng nàng. Cứ như thế mãi cho đến khi trăng treo đầu ngọn cau và hoa bưởi bắt đầu tỏa hương thơm ngát, tôi mới từ giã nàng. Trước khi về tôi dúi vội bức thư vào tay nàng. Nàng ngập ngừng e thẹn nhận lấy thư tôi.
Sau ngày trao bức thư tình, tôi cảm thấy yêu đời, mơ mộng nhiều hơn. Và trong khi tôi nao nức đợi chờ hồi âm, thì hởi ơi! Hai câu Pháp văn bất hủ tôi viết cho nàng được loan truyền khắp nơi nhất là trong đám nữ sinh. Mấy bà chị họ, mỗi lần gặp tôi đều tủm tỉm cười, làm tôi xấu hổ vô cùng. Tôi loáng thoáng đoán rằng tôi đã lầm và quá chủ quan, chớ nàng không hề yêu thương hay tình cảm gì với tôi. Nàng đã đem bức thư của tôi bêu rếu để làm trò cười. Từ đó tôi không nhìn nàng. Tôi đau khổ hận đời, hận nàng và trốn học luôn…
Cho đến một ngày trước khi xuống tàu bỏ trốn vào Nam, vì vô tình hay cố ý, Nga chận tôi trên con đường làng vắng vẻ, gương mặt xanh xao, ánh mắt buồn buồn. Nàng khóc thật nhiều và giải thích với tôi rằng nàng đã yêu tôi. Chuyện bức thư là lỗi bất cẩn của nàng (Nga cho người bạn gái mượn quyển sách trong đó có dấu bức thư).
Nàng trách tôi tại sao bỏ học và trốn tránh không nhìn mặt nàng. Lần đầu tiên tôi run run cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt lệ nhạt nhòa, thổn thức không nói một lời, bởi vì ngày tôi nhận được hạnh phúc tình yêu đầu đời và cũng là ngày tôi xót xa chia tay mối tình học trò ngắn ngủi đó. Ngày hôm đó, tôi đau đớn vĩnh biệt Nga mà chính nàng không hề hay biết.
Con thuyền đưa tôi vào Nam chập chùng giông bão. Giông bão xô dạt con thuyền. Giông bão ngay trong lòng tôi…
Tôi có người em kế, cùng trạc tuổi. Chúng tôi là hai thái cực. Chú Lâm hiền hòa thích sống trong gia đình. Tôi mê cuộc đời hải hồ lang bạt. Lớn lên, hai anh em cùng vào quân đội. Tôi đi lính Không Quân đồn trú tại Pleiku. Chú đi sĩ quan Thủ Ðức đóng đồn ở Daksut. Những ngày cao nguyên sôi động, nhiều lần từ trời cao, tôi xót xa nhìn chú bị vây hãm dưới đồn. Anh em tuy đóng quân cùng một vùng nhưng chả bao giờ gặp nhau. Thỉnh thoảng hành quân ngang đồn, tôi bay thấp để chào chú, hoặc liên lạc FM để thăm hỏi sức khỏe và nhắn tin nhà, thế thôi. Vậy mà chú Lâm vẫn vui vẻ sống cuộc đời gian khổ bộ binh.
Mãi đến ngày bỏ nước ra đi, chú ra đi một mình không kịp đón gia đình vợ con. Những năm tháng xa quê hương, chú Lâm vẫn sống cảnh đơn lẻ ở một tiểu bang xa lắc xa lơ. Nhưng mấy năm gần đây, chắc có lẽ chịu hết nổi cảnh “Ðồn Lẻ Chiều Xuân” chú đã âm thầm bước thêm bước nữa để nếm mùi “một cảnh hai quê”. Thật tội nghiệp!
Hôm Tết vừa qua, nhân dịp đi công tác cho hãng ở Hà Nội. Lâm ghé Sàigòn thăm nhà và về làng thăm quê cũ. Một sự việc bất ngờ và cảm động là chú Lâm đã tìm được dấu tích của Nga ngày xưa. Ðuợc biết nàng đã trốn ra Bắc năm 1956 và sau ngày Việt cộng cưỡng chiếm miền Nam, nàng trở về với quân hàm Ðại úy và là vợ lẽ của một ông tướng già Việt cộng. Hiện nay nàng đang ở Sàigòn, khu cư xá sĩ quan Chí Hòa và ông tướng già đã chết. Trước khi trở về Mỹ, Lâm có đến tìm gặp nàng. Nga sững sốt mừng rỡ khi nhận ra Lâm em của tôi. Nàng vui vẻ kể chuyện xưa về tôi với chú Lâm và nói rõ lý do vì sao nàng bỏ xứ ra đi. Trong câu chuyện thăm hỏi, Lâm đã cố khơi lại chuyện tình ngày xưa của chúng tôi. Lâm nói: “Anh tôi vẫn nhắc nhớ về chị.” Nàng cúi đầu lặng lẽ, giọng buồn buồn: “Dạ vâng, tôi đoán thế.” Và nàng cảm động cho biết người làng đã kể: Có lần tôi một mình lái xe về thăm vườn cũ tìm lại người xưa, và người xưa không còn nữa. Lâm tiếp tục thăm dò: “Chị có biết anh tôi ngày xưa làm gì không?” .“Dạ tôi biết, nghe nói anh ấy là một phi công trong Không Lực Cộng Hòa”. “Chị có oán hận, căm thù gì chúng tôi không?” Nga lắc đầu cười chua chát, “Tôi không nghĩ đến điều đó, và chẳng bao giờ nghĩ như vậy, nhất là đối với anh ấy…”
Nàng trả lời với đôi mắt mơ màng xa vắng. Chắc có lẽ chú Lâm đã vô tình khơi dậy những kỹ niệm thời học trò của nàng. Những kỹ niệm tưởng như đã chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau bốn mươi năm xa cách.
Và trong buổi chiều hôm đó, theo lời nhật xét của chú Lâm. Nga như “lội ngược giòng thời gian” tìm sống lại quảng đời con gái ngây thơ, cùng với mối tình thơ mộng và đẹp nhất của đời nàng. Vì đó là mối tình đầu và mối tình không có đoạn cuối.

Duy Lạc

* * *

Hồi Âm GIÒNG ÐỜI

Anh Duy thân mến,

Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sài gòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Ðặt bút viết lá thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt… Không biết rồi lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ gì? Thôi em cũng liều… Cầm bằng như gió mang đi.
Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền…v.v… thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều… cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.
Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:
– Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng.
Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:
– Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Ðọc để xúc động vì “người ta” còn nhớ tới mình!
Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh, đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên tưởng đến một điều gì đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:
– Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?
Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng cười em già rồi mà còn vớ vẩn.
Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người bạn học cùng trường thủa thiếu thời.
Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, “Chắc chắn là anh đây rồi?!” Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.
Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì? Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.
Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui thích như đi trẩy hội ngày Xuân.
Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài “Nhớ Chiến Khu”. Lúc bấy giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run … vì ánh mắt ngưỡng mộ và say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy anh Duy nhỉ?
Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, “mờ mịt” thì anh phát âm thành “mờ mịch” hay “vui quá” thành “vui góa”. Và còn nhiều chữ độc đáo nữa…
Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai cười khỉnh rất là… Sài gòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.
Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè 51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:
– Trại sinh bên toán B ăn hết “thịch” (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho “dzui”!
Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!
Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù theo điệu nhạc trầm bổng.
Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để ý “người Sài gòn” có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?
Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính “nghịch” ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài “Giòng Ðời”, em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó.
Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học dốt!
Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự tại, đẹp như một pho tượng!
Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ, có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?
Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em là con gái, đặc biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để… ngắm anh (!) Hoặc để luồn những ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Ðó là cái rạo rực rất tự nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh chàng đang ngấm nghé.
Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em, con nhỏ Thủy – con gái ông Xã Tài – đọc trộm lá thư em dấu trong sách cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Ðằng này con nhỏ Thủy vốn thầm yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc tình chúng mình!
Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biếng nhác việc học hành và công việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cũng sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.
Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ. Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận. Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân. Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!

Anh Duy yêu dấu,
Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình, của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em còn nhớ đến cái giọng Sài gòn ngồ ngộ của anh nữa!
Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà “người ta” đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười lăm tuổi. Trong bài “Giòng Ðời” anh kể rằng em làm lẽ một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu “bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!”
Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi ngày. Ða số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi Nam) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường “làm nghĩa vụ quốc tế” như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn. Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta khỏi bị ngỡ ngàng.
Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!
Khi miền Nam được “giải phóng”, em nghĩ rằng đây là cơ hội em có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi “học tập cải tạo”, rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng. Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là tướng Việt cộng mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình? Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?
Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù, bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.
Ðúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút nắng trong buổi chiều tàn, “Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!” Ðời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sài gòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của người yêu ban đầu.
Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Ðêm đã xuống từ lâu. Cảnh vật yên lặng như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất rồi! Ðừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lúm đồng tiền và nụ cười răng khểnh.
Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.

Thân ái,
Em gái anh,
Nga

Tái bút: Ðể tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú Lâm bằng đường bưu diện.
Em hy vọng rằng chú Lâm vẫn còn ở tại địa chỉ mà chú cho em trước đây. Ðọc thư em, ước mong anh sẽ hài lòng khi thấu rõ tâm tình của em.

Wednesday, December 8, 2021

DÂN VIỆT NGU SI VÀ HÈN HẠ

 

DÂN VIỆT NGU SI VÀ HÈN HẠ

Bằng Phong Đặng văn Âu

BÀI SỐ 3 Tiếp theo

Không phải cô giáo Trần thị Lam ở Hà Tĩnh là người đầu tiên viết “Bốn nghìn tuổi mà dân không chịu lớn” với ẩn ý chê dân Việt Nam ngu thâm canh cố đế. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng đã từng than: “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn”. Thi sĩ Tản Đà trách thằng dân ngu là không đúng. Phải trách thằng trí thức ngu thì mới đúng! Bởi vì thằng trí thức có ăn, có học mà không chịu dạy cho dân hiểu cộng sản, lại còn đi theo cộng sản, mới là … đại ngu!

Bắt chước các cụ tiên đoán thời tiết qua câu: “Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa”, tôi cũng đoán rằng nếu một dân tộc có bốn ngàn năm không chịu lớn, thì cái dân tộc đó chắc chắn sẽ bị diệt chủng. Vừa rồi tôi viết bài “Dân Việt Ngu Si và Hèn Hạ” thì đâu có gì mới mẻ, so với Trần thị Lam hay thi sĩ Tản Đà, mà mấy thằng Việt Cộng chửi tôi vong bản, hỗn láo với tổ tiên? Việt Cộng là tay sai Nga Tàu, nhưng mồm chúng lúc nào cũng chửi Việt Nam Cộng Hòa là vọng ngoại, là Ngụy Quân, Ngụy Quyền. Vì bản chất mất dạy của Việt Cộng phải là như thế! Chúng ta đang sống trong thời đại của lũ hàng tôm hàng cá lên ngôi thì phải đành chịu thôi!

Nhà hiền triết Pascal nhận định: “Con người chỉ là cây sậy, nhưng cây sậy có tư tưởng” (L’homme n’est qu’un roseau, mais un roseau pensant). Chẳng biết mọi người nghĩ gì về thân phận của dân tộc mình. Riêng tôi luôn thắc mắc tại sao dân tộc mình ra nông nỗi này. Mặc dầu tự biết mình chỉ là cây sậy yếu ớt, nhưng tôi thấy được cái nguyên nhân: Dân Việt đang bị đọa!

Tôi từng kể rằng khi bay những phi vụ bao vùng trong đêm mà không có mục tiêu tác xạ, có thời giờ cô quạnh giữa không gian (vì cả phi hành đoàn đều ngủ say), đầu óc tôi cứ miên man suy nghĩ tại sao các nhà lãnh đạo không thấy nguy cơ Miền Nam rơi vào tay Việt Cộng? Thậm chí, tôi còn tự hỏi chẳng lẽ Tổng thống Nguyễn văn Thiệu là hóa thân của ông vua Chàm có nhiệm vụ báo thù cho dân tộc ông, như mấy cụ già kháo nhau?

Năm 2015, anh Lê Đào – cựu học sinh Quốc học – đứng ra tổ chức cuộc hội ngộ lớp “55 – 58” từ các nơi xa về Quận Cam dự. Mặc dầu không ai cần đến sự giúp đỡ, tôi tình nguyện làm phận sự lái xe đưa rước các bạn từ bến xe Đò Hoàng về địa điểm hội tụ tại góc đường Euclid @ McFadden. Sau khi các anh đến đầy đủ, tay bắt mặt mừng xong, một người hỏi tôi:

–   “Chúng tôi thường theo dõi những bài viết của bạn. Theo bạn, chúng ta có hy vọng một ngày nào đó có thể trở về quê nhà?”.

–    Còn gay go lắm, thưa các anh. Có lẽ món nợ đối với dân tộc Chàm do tổ tiên chúng mình gây ra, trả chưa hết! Tôi đáp.

Ngay sau câu trả lời của tôi, anh Hương An Võ văn Dật nói:

–   Giáo sư Lê Tuyên có viết một bài về nước Việt ta mất vào tay Chàm trong Tập san Đại Học Sư Phạm Huế của chúng tôi. Lúc nào về lại San Jose, tôi sẽ gửi cho bạn cuốn Tập san đó.

Đúng như lời anh Dật hứa, tôi đã nhận cuốn Tập san ba ngày sau, trong đó có bài viết của Giáo sư Lê Tuyên kể vị Linh Mục tại Nhà thờ Santander tiết lộ rằng nước Việt Nam mình đã mất vào tay người Chàm. Bài viết của giáo sư Lê Tuyên càng củng cố mối thắc mắc của tôi từ hồi đánh nhau với quân thù trên chiến trường.

Xin bạn đọc đừng cho rằng tôi mê tín dị đoan, tin nhảm. Tôi xin hỏi các bạn hãy giải thích thế nào về sự ngu si của trí thức. Ngu si chứ không phải ngu dốt! Ngu si, nghĩa là vừa ngu vừa si. Một khi đã rơi vào trạng thái “Si” như si tình hay nghiện thuốc phiện, thì không cách gì gỡ ra được! Còn nếu ngu dốt thì ta có thể dạy để mở trí ra! Hãy cho rằng năm 1945, trí thức đi theo Việt Minh vì tinh thần yêu nước, vì căm thù Thực dân Pháp, vì khao khát giành độc lập và cộng sản chưa ló mòi. Nhưng sau năm 1954, gần cả triệu người dân Bắc phải bỏ lại mồ mả tổ tiên, cha mẹ già, tài sản của một đời tạo dựng, bồng bế nhau vào Nam tìm tự do, mà chưa đủ để cho người trí thức mở mắt để giáo dục quần chúng là ngu chứ còn gì nữa? Tình báo Hoa Kỳ đã lấy được tài liệu về trí thức dưới chế độ cộng sản ở Miền Bắc bị đày đọa, bị trừng trị tàn nhẫn để trao cho Cụ Hoàng văn Chí hoàn thành cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” mà trí thức Miền Nam vẫn hoạt động cho Việt Cộng là nghĩa làm sao? Ai có thể giải thích cho tôi hiểu vì sao nhà văn Nhất Linh, người khai sinh Tự Lực Văn Đoàn, Lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp của Hồ Chí Minh, rồi bỏ chức vì thấy bộ mặt thật của Hồ Chí Minh, về Miền Nam sinh sống tự do, nhưng tại sao ông không dùng uy tín của mình để giảng dạy cho những nhà trí thức khác hiểu Hồ Chí Minh là một tên đại bịp? Tại sao ông lên Đà Lạt vào rừng kiếm hoa lan để hưởng nhàn, trong khi đất nước đang đối diện hiểm họa cộng sản xâm lăng? Tại sao ông tham gia cuộc đảo chánh của hai tên tay sai Thực dân Pháp Vương văn Đông và Trần Đình Lan để làm cuộc đảo chánh năm 1960? Chẳng lẽ ông muốn Thực dân Pháp quay lại đô hộ Việt Nam thêm nữa hay sao? Tại sao ông không thấy Ngài Quảng Đức bị thiêu sống?

Tại sao trí thức không thấy Hoa Kỳ đánh bại Nhật bản, rồi trợ giúp nước Nhật có nền kinh tế đứng vào hàng thứ hai sau Mỹ và nhân dân Nhật được hưởng nền văn minh, tự do như thế giới Tây phương? Đành rằng Hoa Kỳ dùng Miền Nam để làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng đỏ vì chủ thuyết Domino, nhưng tại sao trí thức Việt Nam không biết lợi dụng cơ hội đó để chống lại chủ nghĩa cộng sản? Tại sao trí thức không giảng dạy cho dân hiểu Hoa Kỳ không phải là Đế quốc như Việt Cộng tuyên truyền? Nếu trí thức không thể trả lời những câu hỏi vừa nêu, thì cô giáo Trần thị Lam bảo dân tộc ta không chịu lớn, là không đúng à?

Tục ngữ có câu “Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ!”. Sau 30 Tháng Tư, hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam bị đày vào trại Tập trung, hàng triệu người liều chết ào ra biển đi tìm tự do, chưa phải là cái quan tài vĩ đại nằm chình ình trước mắt đó sao? Đáng lý ra những người từng lãnh đạo đất nước, những nhà trí thức phải ngồi lại với nhau để thiết kế một chiến lược nhằm bảo vệ phòng tuyến cuối cùng tại Hải ngoại mới phải. Trái lại các ông chỉ đua nhau viết Hồi ký để bào chữa cho mình và oán trách Mỹ. Tôi từng nghe lời than vãn của một số ông tai to mặt lớn như sau: “Thằng Mỹ nó đểu lắm!”. Nghe vậy, tôi chỉ im lặng, nhưng trong lòng xem thường các ông, vì nhận thấy các ông không biết rằng chẳng Quốc gia nào phải có bổn phận yêu thương dân tộc của quốc gia khác. Họ chẳng học được gì qua câu nói của Thủ tướng Winston Churchill: “Không có bạn muôn đời và chẳng có kẻ thù truyền kiếp”. Câu nói ấy là để dạy cho những nhà lãnh đạo Quốc gia phải thương yêu dân mình, đừng bao giờ trông cậy vào nước khác. Hợp tác nhau là vì tương quan lợi ích. Bằng cớ là Nga và Mỹ đồng minh với nhau để đánh Đức Quốc Xã, nhưng khi chiến tranh chấm dứt là kẻ thù của nhau vì xung đột quyền lợi.

Thực tiễn đã cho mọi người Việt Nam thấy rõ Hồ Chí Minh lập ra đảng cộng sản có mục đích tiêu diệt nòi giống Việt Nam. Chẳng qua trí thức Việt Nam ngu, nên không thấy dã tâm của Hồ Chí Minh. Bố tôi bị bác sĩ Lê Đình Thám dụ dỗ gia nhập đảng cộng sản. Bố tôi từ chối, vì đảng cộng sản vô thần, chủ trương vô sản chuyên chính, tham gia làm sao được? Chỉ giản dị vậy thôi! Đâu cần phải thông thái mới thấy? Bằng cấp đầy mình lại đâm đầu theo Hồ Chí MInh là nghĩa làm sao? Vậy, cái ngu của tầng lớp trí thức kéo theo cái ngu của cả một dân tộc, không đúng à?

Hồ Chí Minh không hề giấu diếm ý đồ của nó. Trí thức là bộ óc của dân tộc để dẫn dắt quần chúng tiến tới nền văn minh. Nhà cách mạng Phan Chu Trinh nhắc nhở sứ mệnh của người trí thức là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” giống như công thức toán học. Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ” mà trí thức cứ nhắm mắt đâm đầu vào thì không ngu  là gì? Trong nước, khi Giáo sư Nguyễn Huệ Chi tập hợp một nhóm trí thức lập trang mạng Bauxite để lên tiếng về việc Bộ Chính trị cho phép Trung Cộng khai thác “bauxite” ở Tây nguyên, nhưng lại treo tấm hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm biểu tượng (Icon). Tôi liền viết thư khuyên ông nên lấy tấm hình ấy xuống, thay bằng tấm hình của Cụ Phan Chu Trinh, thì mới đúng tiêu chí của trí thức. Võ Nguyên Giáp là tay sai Hồ Chí Minh, người có tội với dân tộc Việt Nam vì theo lệnh Nga Tàu, xua quân xâm lăng Miền Nam, làm chết hàng triệu thanh niên. Một thời gian sau, trang mạng Bauxitevn đặt tấm hình Cụ Phan Chu Trinh lên cho đến nay vẫn còn treo. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đang còn sống ở Hà Nội làm chứng cho lời đề nghị của tôi với ông. Thử hỏi có nhà trí thức nào ở Hải ngoại quan tâm đến vai trò trí thức như tôi?

Việt Cộng đã xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nhưng chúng chưa dừng lại tại đó. Chúng cài cán bộ bám sát làn sóng vượt biên, vượt biển đi tìm tự do để phá nát phòng tuyến cuối cùng của người Quốc gia, giống như chúng đã làm vào năm 1954 theo chân đoàn di cư từ Miền Bắc. Chiến lược, sách lược của Việt Cộng không hề thay đổi. Tôi đã chứng minh tổ chức của anh Trần văn Bá ở Pháp và Mặt trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh là do âm mưu của Việt Cộng dàn dựng. Nguyên tắc thành lập tổ chức của ông Hoàng Cơ Minh hoàn toàn sai. Tôi đã nói thẳng với ông Minh rằng “anh làm kháng chiến cái kiểu mì ăn liền như thế, trước sau gì anh cũng trở thành thảo khấu”. Xin hỏi có vị Tướng lãnh nào, nhà trí thức nào lên tiếng can ngăn ông Hoàng Cơ Minh? Tại sao? Quý vị sợ à? Hay quý vị không đủ trí tuệ để thấy Mặt trận Hoàng Cơ Minh lừa bịp là giết chết niềm tin vào lý tưởng phục quốc? Niềm tin mất, thì lấy đâu ra sức mạnh đấu tranh?

Người anh thúc bá của tôi, Đặng văn Đệ, bạn thân với Đại tá Phạm văn Liễu từ hồi cùng học trường Quân sự Lục quân Yên Bái do Đại Việt thành lập. Anh đưa tôi đến gặp Đại tá Liễu, đương kim Chủ tịch Mặt Trận đặc trách Hải ngoại. Tôi giữ phận đàn em, yên lặng ngồi nghe ông Liễu “thuyết pháp” về con đường cách mạng. Một lúc khá lâu, tôi cất tiếng hỏi: “Anh nói xong chưa?” Ông gật đầu và hỏi tôi: “Chú thấy thế nào? Chú có muốn gia nhập Mặt Trận không?”. Tôi đáp: “Anh là bạn thân của ông anh em, anh hãy coi em như thằng em của anh, anh cho em được phép thực tình nói rất thật cảm nghĩ của em”. Lý do tôi phải rào đón như vậy, vì ông Liễu là Đại tá từng chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến, còn tôi chỉ là Thiếu tá lái máy bay, thì sợ ông chê mình chẳng biết gì về chiến thuật, chiến lược. Xong, tôi nói tiếp: “Không những anh từng chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến, anh còn là Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Anh phải biết dù mình đang ở Hoa Kỳ, nhưng gián điệp cộng sản luôn luôn theo dõi hoạt động của những phần tử chống Cộng. Vậy tiên quyết của tổ chức đấu tranh chống Việt Cộng bằng bạo lực là vấn đề bí mật và an ninh nội bộ. Chưa gì mà Mặt Trận đã phát động quần chúng. Anh nên nhớ rằng quần chúng là lửa rơm, hăng hái ủng hộ vì cảm tính, nhưng cũng chóng tàn vì không đủ kiên nhẫn để chờ đợi sự thành công. Mặt Trận muốn giữ lửa thì phải phịa ra thành quả, tức là nói dối. Anh là người rất hùng biện thu hút quần chúng ào ào đổ tiền yểm trợ. Bao nhiêu tiền thu được, anh giao nạp cho Hoàng Cơ Định. Anh nên nhớ rằng kẻ nào cầm tiền, kẻ đó có thực quyền. Anh chỉ là con rối mà anh không hay. Em bảo đảm rằng Mặt Trận sẽ tan vỡ vào một ngày không xa, vì tranh chấp giữa thực quyền và hư quyền. Anh thuộc loại hư quyền, anh em nhà Hoàng Cơ Minh có thực quyền, vì Hoàng Cơ Định nắm giữ hầu bao, phát tiền cho cán bộ, trong khi anh chỉ có nước bọt. Rừng không thể có hai chúa tể sơn lâm! Anh hữu dõng, nhưng vô mưu.”

Ông Đại tá nghe thằng em phi công, một kẻ “ăn cơm dưới đất, làm việc trên trời”, phân tích bằng lý lẽ như thế làm sao anh cãi. Nhưng vì tự ái, ông vỗ vai tôi trấn an: “Chú yên chí, anh em họ là người tử tế, đều hy sinh vì đại cuộc, không thể nào có chuyện tranh chấp quyền lực như chú lo!”. Tôi đáp gọn: “Anh hãy chờ xem!” Quả nhiên, Mặt Trận tan vỡ sau đó. Một hôm, Đại tá Liễu đến nhà Nghị sĩ Nguyễn văn Chức, gọi tôi lại. Tôi đến, lễ phép chào hai anh, không hề tỏ ra thái độ “I told you so” để chạm tự ái hai người đàn anh. Tôi quen biết Luật sư Chức từ năm 1962, vì ông là anh rể của người bạn thân của tôi. Khi biết anh Chức tham gia Mặt Trận một cách hăng say, tôi đã nói với anh Chức hãy coi chừng. Nhưng anh không tin, mà còn giận tôi, không thèm “giao du” với tôi nữa. Có lẽ Luật sư Chức đánh giá tôi là loại vũ biền, lính tráng giống như Khố Xanh, Khố Đỏ thì chẳng biết gì? Cái quan niệm khó lòng gột rửa của mấy người có bằng cấp thường coi rẻ nhận thức của bọn lính tráng.

Đại tá Vũ Thượng Văn, Xứ Bộ trưởng Xứ Bộ 109 của Mặt Trận HCM, đặc trách ba Tiểu bang Texas, Oklahoma, Arkansas, cuối tuần nào cũng đi sinh hoạt cơ sở. Ông được anh em Không Quân xem như là một nhà trí thức sáng giá, nên ông đã kết nạp nhiều anh em Không Quân. Ông cũng tính kết nạp tôi, vì có thời kỳ ông là cấp chỉ huy của tôi tại Bộ Chỉ huy Hành Quân Không Quân. Nhưng tôi đã nói với Đại tá Văn như những gì tôi đã nói với Đại tá Phạm văn Liễu. Đại tá Vũ Thượng Văn có vẻ giận, vì không thuyết phục được thằng đàn em. Trung tá Đàm Thượng Vũ, Chỉ huy trưởng Phi đoàn F-5 gia nhập Mặt Trận vì tin theo Đại tá Vũ Thượng Văn.

Tôi thuật lại điều này là để chứng minh với độc giả rằng những bậc đàn anh trí thức tầm cỡ như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Tạ Quang Bửu … hay cấp chỉ huy Quân sự như Đại tá Phạm văn Liễu, Đại tá Vũ Thượng Văn dễ lôi kéo đàn em đi theo, vì cái danh và cái uy tín của họ. Khi những con chim đầu đàn lao vào núi đá, thì đàn em cứ thế nhắm mắt lao theo. Tôi không hề có ác cảm với giới trí thức. Trái lại, tôi rất kính trọng họ, vì họ là bộ óc của dân tộc. Một khi bộ óc u tối vì bị quỷ ám thì thân thể dù lực lưỡng đến mấy cũng trở nên vô dụng. Trong cuộc họp kết hợp Đại Việt tại nhà anh Nguyễn Quang Vĩnh ở San José, trước mặt các đàn anh lãnh tụ, tôi nói các anh không đủ lòng yêu nước để vượt qua sự đố kỵ, nên đã chia rẽ nhau. Điều đó không có nghĩa rằng tôi hỗn hào, vô phép với bậc trưởng thượng. Tôi chỉ nói lên Sự Thật! Dám nhìn nhận Sự Thật thì mới trông mong giải quyết vấn đề dân tộc.

Giáo sư Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng thường gửi lên Diễn đàn đường “link” các buổi nói chuyện của ông trên làn sóng phát thanh với chủ đề “Vấn Đề Việt Nam”. Tôi thường xuyên mở nghe để học hỏi. Nhưng có lẽ Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng là nhà chính trị, hơn là nhà cách mạng mà ông đang là thủ lĩnh Đại Việt Cách Mạng. Nay tôi, với tư cách lính tráng, tôi nói Sự Thật: “Không những dân Việt ngu, mà còn không biết nhục!” Khi đảm trách Giai phẩm Lý Tưởng, tôi đã bàn với Ban Chấp hành của Hội, Ban Biên tập của tờ báo rằng chúng ta phải đăng bài “Vàng Rơi Không Tiếc” của nhà văn Đào Vũ Anh Hùng tố giác Mặt Trận Hoàng Cơ Minh lừa bịp. Anh Hùng đã gửi bài tới các báo khắp nước Mỹ, nhưng không một tờ báo nào dám đăng. Tôi bảo rằng tờ Lý Tưởng đã lấy câu “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè” làm tiêu chí, thì không thể nào từ chối không đăng bài của anh Hùng. Tất cả thành viên đều đồng ý.

Nhưng khi tờ báo phát hành, người của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh làm dữ. Bí thư Thành bộ Mặt Trận ở Houston là Đặng Quốc Việt gửi văn thư đến Hội yêu cầu thu hồi tờ báo, dùng điện thoại  hăm dọa tinh thần anh Hội trưởng Trần văn Nghiêm và lục soát nhà riêng của anh Phạm Đăng Cường. Anh Hội trưởng đã khóc trong cuộc họp để lấy quyết định nên hay không nên thu hồi tờ báo theo sự đòi hỏi của Mặt Trận. Tôi nói: “Ở xứ sở tự do, sinh hoạt dân chủ là đối thoại. Tại sao Mặt Trận không trả lời thắc mắc của anh Đào Vũ Anh Hùng, mà lại hăm dọa là nghĩa làm sao? Nếu các bạn đồng ý thu hồi tờ báo, đồng bào sẽ  khinh Không Quân hèn, các anh tính sao?” Rút cục, anh em chấp nhận ý kiến của tôi. Tôi quá đỗi tiếc thương Phạm Đăng Cường – một người bạn yêu Giai phẩm Lý Tưởng hết mình – uất ức vì bị chụp mũ cộng sản mà quyên sinh! Tôi tự ý xuất bản tờ Thần Phong để hài tội sự côn đồ của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh.

Đặng viết Nghị có bí danh Đặng Quốc Việt – Thành bộ trưởng Mặt Trận HCM – chỉ là một anh Trung úy quèn bên Hải Quân, thế mà những ông “phi công danh tiếng muôn đời” từng chinh Nam phạt Bắc lại co vòi vì một sự hăm dọa của đám giặc cỏ, thì ai có thể tưởng tượng nổi? Tôi khá khen các chiến sĩ Không Quân cho tới nay mỗi lần họp nhau đều hát bài Không Quân Hành Khúc một cách hùng hồn! Ít nhất bản thân tôi đã sống với tiêu chí “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè”, thì ai nói gì mặc ai, tôi không thẹn với vong hồn của phi công Phạm Đăng Cường!

Ở Thành phố Houston, Tiểu bang Texas có các Hội đoàn Quân đội như Hải Quân, Gia đình Mũ Đỏ, Thủy Quân Lục Chiến v…v… Nhưng có lẽ các Hội chỉ là Ái Hữu, nên chẳng quan tâm đến sự trịch thượng của Mặt Trận đối với đoàn thể bạn? Qua đó, tôi hiểu được vì sao các tờ báo, đài phát thanh dửng dưng trước cái chết của ký giả Đạm Phong bị quân khủng bố giết một cách dã man. Không một tờ báo nào đăng một phân ưu chia buồn với gia đình ký giả Đạm Phong để bày tỏ lòng lân tuất. Về cái chết của nhà báo Lê Triết và vợ, tờ báo Washington Post phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích nghĩ gì về cái chết thương tâm đó. Nhà văn hóa Nguyễn Ngọc Bích trả lời một cách lạnh lùng: “Lê Triết là nhà báo thuộc loại ruồi nhặng (gadfly), nên ai cũng ghét”. Đó là câu trả lời của người làm văn hóa trước cái chết thương tâm của một ký giả!

Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh và Trung tá Không Quân Trần Tam Tiệp (bút hiệu Đạo Cù) đã tranh đấu hết mình để giữ Văn Bút Việt Nam thành lập từ hồi Việt Nam Cộng Hòa cho Người Việt Tị Nạn, mà Việt Cộng không giành được. Ít ai thấy nỗ lực của hai nhà văn trên mặt trận Văn Hóa. Chừng 10 năm sau (không nhớ rõ), cuộc tranh chấp trong nội bộ xảy ra. Văn Bút Quốc tế phải ra tay can thiệp thì hai phe mới giảng hòa được với nhau. Chẳng hay các chiến sĩ văn hóa có cảm thấy nhục hay không? Lợi dụng sự chia rẽ của Văn Bút, Việt Cộng cho ra đời Nhóm Giao Điểm, Hợp Lưu, Về Nguồn mà chẳng có nhà văn nào bận tâm.

Nguyễn Gia Kiểng chủ trương “Hòa Giải, Hòa Hợp Dân Tộc”, viết “Tổ Quốc An Năn” chửi anh hùng Nguyễn Huệ, đánh giá Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ là con cháu cô Tư Hồng (me Tây), nhưng vẫn được những người có chức, có danh một thời viết lời ca tụng lên tận mấy xanh, mà không biết nhục. Sau này, ông Nguyễn Gia Thưởng tố cáo Nguyễn Gia Kiểng đạo văn với bằng chứng rõ ràng. Không thấy người “trí thức” nào từng đặt bút viết lời ca tụng trên sách “Tổ Quốc Ăn Năn” yêu cầu Nguyễn Gia Kiểng phải trả lời sự tố giác của ông Nguyễn Gia Thưởng, tôi mới viết “Email” yêu cầu Nguyễn Gia Kiểng minh xác. Nguyễn Gia Kiểng trả lời một câu hết sức vô nghĩa: “Nguyễn Gia Thưởng chỉ là nhân viên làm việc cho tôi trước đây”. Tư cách nhà tranh đấu như thế, làm sao tôi không đánh giá thấp thành phần trí thức?

Chẳng cần phải là nhà tiên tri để trả lời câu hỏi “Đất Nước minh rồi sẽ ra sao?” của cô giáo Trần thị Lam, tôi cũng có thể khẳng định rằng dân tộc Việt Nam rồi sẽ không còn! Ai cũng thấy rõ Việt Cộng chủ trương súc vật hóa dân tộc mình qua quyết định “cởi trói văn nghệ sĩ” của Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh. Ở Hải ngoại, bọn làm Kháng Chiến Bịp làm tay sai Việt Cộng vẫn ngang nhiên sinh hoạt trong Cộng Đồng, lãnh đạo Tập thể Chiến sĩ thì nịnh bợ một anh tỷ phú mạt sát Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ trơ mắt ngó, đám trẻ mệnh danh “hậu duệ” tỏ ra khinh bỉ bậc cha anh đứng đắn khuyên nên xét lại công trình “Xây Tượng Đài”.

Mới đây Văn Bút lại xảy ra vụ lùm xùm. Ông cựu Chủ tịch Văn Bút bị đặt cho cái ngoại danh “Dê Thành Lợn”, dù tôi không phải là nhà văn, mà cũng cảm thấy nhục cho nòi giống.

Trên phương diện Quân sự, Không Quân luôn luôn là lực lượng tiên phong để dọn bãi đáp cho lực lượng bạn nhảy vào chiến trường. Ngày nay Không Quân có ông Thiếu tá Nguyễn Kim Huờn cam kết sẽ chia tay băng đảng Kháng Chiến lừa đảo, rồi trốn biệt tăm ; có ông Trung tá Nguyễn văn Ức cười nói nham nhở với anh tỷ phú chửi VNCH; có một Hội gồm nhiều anh hùng chinh Nam phạt Bắc, mà chỉ bị một anh Trung úy quèn hăm dọa thì lập tức co vòi, trốn xuống hầm.

Trên phương diện Văn Hóa, Hội Văn Bút trở thành “Hội Văng Bút”.

Tại sao một nòi giống có lịch sử oai hùng trong quá khứ, mà ngày nay lại trở nên tồi bại như thế? Tôi viết bài “Dân Việt Ngu Si và Hèn Hạ” với ước mong trong cõi dân gian có được những người nổi CƠN GIẬN CHÍNH KHÍ” như Hai Bà Trưng, như Trần Bình Trọng để cứu vãn thanh danh nòi giống Việt. Đối với cái bọn “dẫn nhiều hơn đi” chửi bới thô tục, độc địa như chị đàn bà mất gà thì làm sao cứu nước đây? Chẳng lẽ tới đây là “Chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm” hay sao? Dưới sự áp bức ghê gớm của Việt Cộng còn có Trần Huỳnh Duy Thức, cô giáo Trần thị Lam, doanh gia Hân Phan. Tại sao ở Hải ngoại được tự do, lại không thấy nhân vật trí thức nào nổi lên chống lại bọn lừa đảo, bịp bợm vậy?

Hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo nếu tôi chưa nghe được LỜI CHÍNH KHÍ!

Bằng Phong Đặng văn Âu.

Telephone: 714 – 276 – 5600.

Email Address: bangphongdva033@gmail.com   

 

 

Saturday, December 4, 2021

DÂN VIỆT NGU SI VÀ HÈN HẠ

 

DÂN VIỆT NGU SI VÀ HÈN HẠ

Bằng Phong Đặng văn Âu

BÀI SỐ 2 Tiếp theo

Một hôm tôi được Thiếu tá Nguyễn Hữu Luận, một điều hành viên (navigator) trong Phi đoàn, gọi điện thoại rủ ra quán nhậu lai rai chơi. Tôi tới, nhìn quanh gian phòng để tìm bạn, thấy anh Nguyễn Hữu Luận đứng lên vẫy. Tại bàn nhậu đã có Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Vinh, Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa (một nhân vật cao cấp trong Mặt trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh) và một anh bạn trẻ mà tôi không nhớ tên. Mặc dầu, trước đó tôi đã viết thư hỏi ông Nguyễn Xuân Nghĩa “Ông Là Ai” để được biết đích xác ông là Quốc gia hay Việt Cộng. Ông Nghĩa không trả lời. Tôi biết ông căm ghét tôi lắm. Nhưng theo phép lịch sự, tôi vẫn chào hỏi ông tử tế.

Tôi đã gặp ông Nguyễn Xuân Nghĩa một lần tại Houston, khi anh em trí thức trẻ tổ chức buổi nói chuyện cho Đại sứ Bùi Diễm và ông Nguyễn Xuân Nghĩa diễn thuyết. Hôm nay, tại bàn nhậu, tôi mới có dịp gặp lại ông Nguyễn Xuân Nghĩa diện đối diện. Tôi yên lặng ngồi nghe và quan sát đối tượng. Tôi nhận thấy Nguyễn Xuân Nghĩa tỏ ra rất ân cần với Đại tá Nguyễn Đình Vinh, như là đi lấy ly cho Đại tá, lau cái ly rất cẩn thận, tự tay lấy đá và rót rượu cho Đại tá. Chứng kiến cử chỉ của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, tôi mới thấy rõ những gì Đại tá Phạm văn Liễu mô tả về Nguyễn Xuân Nghĩa khéo nịnh bợ ông Hoàng Cơ Minh để lấy lòng, là chính xác.

Anh Nguyễn hữu Luận ngỏ lời mời mọi người đi tham dự buổi nói chuyện của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng tuần tới tại nhà hàng Paracels về trận hải chiến tại Hoàng Sa do Hội Hải quân tổ chức. Tất nhiên, tôi nhận lời vì tôi muốn gặp lại anh Hưng. Từ ngày rời Thủ đô Washington, tôi chưa gặp lại anh Hưng lần nào. Anh Hưng là một trí thức rất vui tính, bặt thiệp, lúc nào cũng tỏ ra niềm nở với mọi người. Tôi hân hạnh quen biết anh qua một người bạn ở Washington. Trái lại, kinh tế gia Nghĩa từ chối không đi. Ông Nghĩa bắt đầu mở máy chê anh Hưng thậm tệ về đủ mọi phương diện. Tôi hơi lấy làm lạ, bởi vì trước đây ông Nghĩa là người đứng ra giới thiệu và ca ngợi anh Hưng không tiếc lời trong buổi ra mắt sách của anh Hưng tại Westminster, Quận Cam. Lúc đó, tôi mới thấy rõ chân tướng con người hai mặt của Nguyễn Xuân Nghĩa từng giữ chức Tổng Vụ Tuyên Huấn của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh: Khi cần lợi ích cho mình thì ca tụng đối tượng lên tận mây xanh. Khi không cần nữa thì đạp đối tượng xuống bùn đen không thương tiếc.

Tôi đến Nhà hàng Paracels thì đã thấy anh Nguyễn hữu Luận chờ trước cửa và được biết anh đã mua sẵn vé cho tôi rồi. Trên vé có ghi số bàn, khách cứ tự động tới bàn ghi đúng số của mình, khỏi cần ai hướng dẫn. Tại bàn đã có mặt nhà báo Đinh Quang Anh Thái và bà chủ báo Việt Báo (nhà văn Nhã Ca, tác giả sách “Dãi Khăn Sô Cho Huế) và nhạc sĩ Cung Tiến. Từ bàn bên cạnh, anh Hưng thoáng thấy tôi, anh vội bước sang bắt tay tôi và luôn miệng nói: “Chào người hùng! Chào người hùng!”. Phép xã giao bặt thiệp, lịch sự, khiêm tốn, vồn vã của anh Hưng, khiến cho nhiều người quý mến anh là phải. Tôi đáp với vẻ bông lơn: “Tôi, một thằng lính thua trận, mà hùng cái quái gì, hả anh? Anh thương thì anh nói vậy”. Có một sự trùng hợp khá lạ: Trung tá Nguyễn Quốc Hưng, Không Đoàn trưởng đầu tiên Không Đoàn phi cơ F-5E và anh Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Kế hoạch trong Chính phủ Tổng thống Thiệu, cùng là Tiến sĩ, cùng họ Nguyễn, cùng tên Hưng, chỉ khác chữ lót, đều gọi tôi là “người hùng”. Có lẽ hai anh đọc thấy tôi viết mạnh bạo chăng? Không lẽ hai anh châm biếm mình vì tháo chạy khi địch quân sắp tràn ngập căn cứ?

Anh Hưng tự tay rót rượu chát vào ly của tôi, nâng ly chào mừng cuộc tái ngộ. Tôi khá cảm động trước sự niềm nở, ân cần của anh Hưng đối với một người lính vô danh tiểu tốt như tôi. Nhà văn Nhã Ca và nhà báo Đinh Quang Anh Thái lẳng lặng bỏ qua ngồi bàn khác. Tiến sĩ, nhạc sĩ Cung Tiến giữ thái độ thầm lặng, e dè. Tôi thấy vậy, gợi chuyện cho vui, vì dù sao anh Cung Tiến cũng là Không Quân với mình. Sau khi trao đổi nhau vài mẩu chuyện có tính cách thời sự, tôi nói: “Sở dĩ chúng ta mất nước, Cộng Đồng tỵ nạn Cộng sản chia rẽ, vì bị quả báo, khiến cho người có bằng cấp càng cao càng ngu”. Hai ông Tiến sĩ nhìn nhau, không nói lời nào, có lẽ họ không ngờ một anh võ biền dám nói trước mặt họ một câu như thế. Đoán được thái độ của hai anh, tôi nói: “Tôi sẽ chứng minh khi có dịp, để hai anh đừng nghĩ tôi rằng tôi hồ đồ, phát biểu vì say rượu”.

Thưa quý độc giả,

Hôm nay, tôi viết bài này để giữ lời hứa với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng và Tiến sĩ Cung Tiến để chứng minh “các nhà khoa bảng Việt Nam có bằng cấp càng cao càng ngu” bằng sự kiện thực tế, chứ không phải vì mình không có học vị như người ta, rồi cay cú đả phá cho hả tức. Nhớ lời dạy: “Không thầy, đố mày làm nên”, tôi luôn luôn kính trọng các vị thầy đã trao truyền kiến thức cho mình. Tôi chỉ đề cập đến những vị có bằng cấp to và giữ địa vị lãnh đạo Đất Nước mà không nhìn xa trông rộng và không có cái dũng như Cụ Chu văn An dưới thời Quân chủ chuyên chế mà dám dâng sớ xin vua chém đầu bảy nịnh thần.

Cuộc đời tôi do Thượng Đế định đoạt. Tôi tin như thế! Sau khi đỗ Tú Tài II ở Huế, vào Saigon ở với người anh và ghi tên vào Đại học Khoa học. Thú thực, tôi chẳng biết mình nên chọn nghề gì cho tương lai. Mẹ tôi mong muốn tôi theo học ngành Y khoa để nối nghiệp bố. Nhưng tôi ghét học “gạo”, sở trường của tôi là Toán, không thích môn Vạn vật. Cho nên cùng một lúc tôi ghi tên học hai chứng chỉ: Lý Hóa Sinh (PCB) và Toán học Đại cương (Math G). Bạn học PCB của tôi bấy giờ, nay là bác sĩ Lại Quốc Kỳ (con trai Cụ Lại Tư, Chủ tịch Quốc hội Đệ nhất Cộng Hòa) hiện ở San Jose. Bạn hoc Math G của tôi là Hà Tường Cát (về sau là nhà báo làm cho Người Việt) đã qua đời. Anh Cát hỏi tôi “bạn giỏi Toán như thế, tại sao bỏ đi Không Quân?”. Tôi trả lời: "Tại cái số Trời định!”

Một hôm đang khi thực tập trong phòng thí nghiệm, một người bạn yêu cầu tôi đưa vào Tân Sơn Nhất xin đơn gia nhập Không Quân. Thấy bạn điền đơn, tôi cũng làm theo, mà không hề nghĩ rằng một ngày nào đó mình trở thành phi công. Tôi nhớ có một lần nào đó đọc thấy lời “quảng cáo” kêu gọi thanh niên gia nhập Không Quân như sau: “Không Quân là một ngành học uyên bác, một kiếp sống hải hồ và một cuộc đời ngang dọc”. Còn trong cuốn Đời Phi Công, nhà văn Toàn Phong thuật buổi tiệc của giới thượng lưu, mỗi người khách tự giới thiệu nào là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư … Tới phiên tác giả Toàn Phong tự giới thiệu: “Tôi là người phi công của Đất Nước”. Cách tự giới thiệu của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh quá tuyệt vời! Đó là cách nói khiêm tốn, nhưng hàm chứa sự tự tin, không việc gì phải mặc cảm với những anh có bằng cấp. Vốn từng say sưa khi đọc “Vol de Nuit”, “Le Petit Prince” của Saint-Exupéry, làm sao tôi không mong muốn trở thành người phi công của Đất Nước cho được?

Tôi cám ơn Quân Đội đã rèn luyện cho tôi có thể chất khỏe mạnh và tinh thần yêu nước nồng nàn. Nhờ làm phi công, tôi có nhiều dịp từ trên cao nhìn xuống, thấy quê hương mình thật sự là gấm vóc. Cảnh trí của núi rừng và biển khơi, màu sắc đổi thay lúc ban sáng khác với lúc hoàng hôn, là hai bức tranh tuyệt vời ghi đậm trong ký ức của tôi đến nỗi nếu có kiếp sau, tôi vẫn muốn làm một phi công của Đất Nước. Đôi lúc tôi gần như ngất lịm trước vẻ đẹp của quê hương mình.

Từng thi hành những phi vụ chở quan tài của chiến sĩ, tôi thấy thương những góa phụ và thù ghét chiến tranh vô cùng. Lắm lúc tôi tự hỏi nếu mình là người nằm trong quan tài đó thì vợ con mình sẽ ra sao? Không ai ngờ một người có bề ngoài vũ biền như tôi, mà bên trong là một tâm hồn đa cảm. Tôi đã nhiều lần quay mặt đi để giấu đôi mắt đỏ hoe, vì quá thương xót người góa phụ bên quan tài chồng. Tôi từng ước mong rằng nếu mình có nhiều tiền, tôi sẽ dựng tượng Người Mẹ Lính, tượng Người Vợ Lính để tỏ lòng biết ơn họ. Cứ mỗi lần thấy Mẹ tôi thắp nhang đứng giữa Trời cầu xin cho con bình an trong mỗi phi vụ, lòng tôi quặn thắt: “nhỡ khi mình không về?”

Thế nào là “người phi công của Đất Nước”? Đó là người phi công được nhạc sĩ Văn Cao mô tả trong bài Không Quân Hành Khúc: “Đi không ai tìm xác rơi … và chiến công về đây dù thân vùi quên lấp chìm”. Đó là niềm tự hào của người Chiến sĩ vô danh! Một khi người phi công đã theo đuổi lý tưởng như thế, thì đâu còn màng đến công danh sự nghiệp cho riêng mình? Nếu người phi công nào khi hát lên khúc ca ấy, mà lòng rưng rưng tự hào thì không bao giờ quên bổn phận và nghĩa vụ cao quý của mình đối với Non Sông. Tôi luôn luôn cám ơn Thượng Đế đã sắp đặt cho đời tôi trở thành phi công để bay đến điểm hẹn của lịch sử Đất Nước. Trong lòng tôi luôn có niềm tự hào đó, nhưng không bao giờ tôi mặc lại bộ đồ bay đi dự cuộc họp mặt với anh em. Đành “đập cổ kính ra tìm thấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi”! Phải nuốt hận, mới đứng lên được!

Thưa quý bạn đọc,

Tôi sắp sửa viết lên điều suy nghĩ chân thật của tôi, có thể khiến cho quý vị khoa bảng không hài lòng. Nhưng xin quý vị hãy xem đây là một báo cáo để mai sau các nhà sử học, nhân chủng học đỡ mất thời gian tìm hiểu tại sao tộc Việt cuối cùng của Bách Việt không còn nữa. Dưới chế độ cộng sản, những nhà sử học như Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Dương Trung Quốc không dám viết sự thật. Ở Hải ngoại tự do, ông Tướng Đỗ Mậu, nguyên lính Khố Xanh, Phó Thủ tướng đặc trách Văn Hóa thời Đệ Nhị Cộng Hòa viết cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” chỉ ca ngợi cuộc đấu tranh Phật giáo do Thầy Chùa Trí Quang xách động và mạt sát dòng họ Ngô Đình, nhưng không một sử gia nào lên tiếng phản bác. “Sử gia” Trần Gia Phụng còn phụ họa, đánh tiếp Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông lính Khố Xanh Đỗ Mậu, quê Quảng Bình, được Tổng thống Diệm tín cẩn, cho làm Giám đốc An Ninh Quân Đội kiêm Quân Ủy trưởng đảng Cần Lao, chính là người đi móc nối các Tướng lãnh để đảo chính lãnh tụ của mình. Ông lính Khố Xanh Đỗ Mậu làm Phó Thủ tướng đặc trách Văn Hóa, thì còn gì là Văn Hóa? Sự phản bội, trình độ học vấn của ông lính Khố Xanh mà viết sử, thì cô giáo Trần thị Lam đâu cần đặt câu hỏi “Đất nước sẽ về đâu?”.

Có hai vị Trung tá QLVNCH đọc không sót một bài nào tôi viết, thân ái mở lời khuyên tôi: “Bạn nên dìm “Cái Tôi” của bạn xuống, người đọc sẽ thích hơn”. Tôi đáp: “Tôi chỉ là thằng Giặc Lái (Việt Cộng châm biếm phi công VNCH) thì có đáng cái mẹ gì mà khoe tên tuổi? Chẳng qua tôi là “người trong cuộc, biết chuyện trong kẹt” thì viết ra thôi. Tôi công khai viết lên những điều sử gia không viết vì lý do này hay lý do khác. Tôi ghi xuống cuối mỗi bài viết địa chỉ nhà, địa chỉ Email, số điện thoại là để cho độc giả tin tưởng người viết có tinh thần trách nhiệm. Tôi chỉ mong có người nổi giận, cái giận Chính Khí, để cứu nước. Tôi không quan tâm đến bọn tiểu nhân chửi bới thuộc loại mất gà. Tôi không viết theo đơn đặt hàng hay chiều theo thị hiếu quần chúng để nổi danh, mặc dầu tôi có khả năng làm điều đó. Bằng cớ là tôi đã viết thay cho người phụ nữ Việt Nam trong hoàn cảnh éo le của lịch sử qua bài “Hồi Âm Dòng Đời” rất được độc giả ái mộ. Nhiều độc giả thuộc thành phần trí thức, khoa bảng gọi điện thoại, gửi email động viên tôi hãy giữ vững lập trường. Dù không ai động viên, tôi vẫn giữ lập trường, bởi vì tôi coi việc bóc trần sự dối trá của cộng sản và sự lừa đảo của bọn con buôn chính trị, tôn giáo, là một nghĩa vụ thiêng liêng!

Cả thế giới đã xác định chủ nghĩa cộng sản là một tai họa của nhân loại. Tôi khẳng định chủ nghĩa cộng sản do Hồ Chí Minh mang về không hề có chủ đích đem lại “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho dân tộc Việt Nam như Việt Cộng riêu rao. Chủ đích của Hồ Chí Minh là từng bước dâng toàn cõi nước Việt cho Trung Cộng và biến dân Việt thành súc vật. Chủ đích của Hồ Chí Minh bỗng nhiên trở thành công cụ cho lời nguyền rủa trước khi chết của những oan hồn đã bị tổ tiên ta chém bay đầu. Tôi tin lời tường thuật của Giáo sư Lê Tuyên về vị Linh mục tại Nhà Thờ Santander, Tây Ban Nha đã nói: “Nước Việt Nam đã bị dân tộc Chàm lấy lại”. Tôi tin rằng dân tộc mình bị nguyền rủa, bởi vì không lý do gì một dân tộc thông minh, có truyền thống chống ngoại xâm, mà trở nên ngu si, hèn nhát, chia rẽ nhau, phản bội nhau, tàn ác với nhau, mạt sát nhau, chửi bới nhau khủng khiếp ngoài trí tưởng tượng của con người.

Karl Marx, cha đẻ chủ nghĩa cộng sản, tác giả hai bộ sách nổi tiếng: Tuyên Ngôn Cộng Sản và Chủ nghĩa Tư Bản. Nhưng nếu không có Lenin, sách của Marx chỉ là một thứ tài liệu bám đầy bụi trong thư viện. Chính Lenin là người biết sử dụng sách của Marx để phát triển chủ nghĩa cộng sản, gây nên tai họa cho loài người. Lenin luôn luôn nhấn mạnh nhiều lần: “Tổ chức! Tổ Chức! Không có tổ chức là không có gì cả”. Tổ chức do Lenin lập ra với mục đích cướp chính quyền bằng bạo lực để thống trị loài người bằng cách biến CON NGƯỜI thành SÚC VẬT. Mao Trạch Đông dạy thuộc cấp phải luôn luôn ghi nhớ nằm lòng câu: “Quyền lực phát xuất từ họng súng”. Kỹ thuật huấn luyện cán bộ của Lenin tinh vi và tàn bạo gấp vạn lần đảng cướp Mafia. Tinh vi ở chỗ uốn nắn bộ óc con người thành cái máy không tim không óc, chỉ biết thi hành mệnh lệnh và kỹ thuật nói dối siêu phàm đi kèm với khủng bố để gieo rắc sự sợ hãi. Chính sử gia Trần trọng Kim cũng nói cộng sản là một thứ tôn giáo. Nhưng Cụ không biết nó là tôn giáo của quỷ sứ, nên Cụ từ chối ông Đại sứ người Nhật đề nghị giúp Việt Nam tiêu diệt toàn bộ băng đảng Hồ Chí Minh.

Năm 1945, dân chúng phấn khởi kéo nhau tham dự ngày Độc Lập. Theo sử liệu, lúc bấy giờ đảng viên cộng sản có chừng 5 ngàn người, trong khi đảng viên Đại Việt và Quốc Dân đảng nhiều gấp 10 lần. Nhưng từ trong đám đông cuộc biểu tình, cán bộ cộng sản bất chợt tung cờ đỏ sao vàng ra và hoan hô Hồ Chí Minh vang trời. Thế là quần chúng hoan hô theo. Hồ Chí Minh đã áp dụng thành công câu nói “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” (có cán bộ tinh ròng, chuyên nghiệp hơn là có cán bộ đông đảo mà ô hợp). Những nhà ái quốc Việt Nam như Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Lý Đông A vì yêu nước mà lập tổ chức chống Pháp. Trong khi Hồ Chí Minh được Cộng sản Quốc tế dạy cách vận động quần chúng và kỹ thuật đấu tranh sắt máu “Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ”, thì cướp chính quyền dễ dàng thôi. Để báo thù, oan hồn người Chàm dùng đảng cộng sản tiêu diệt chủng tộc Việt là đúng nhất. Người Tàu có câu: “Quân tử nuôi chí trả thù 10 năm cũng chưa muộn”. Còn oan hồn người Chàm thì: “Một trăm năm trả thù vẫn còn kịp!”

Nếu lần theo dấu lịch sử, độc giả sẽ thấy cái ngu của vua quan Nhà Nguyễn thời Tự Đức chống lại chương trình canh tân của ông Nguyễn Trường Tộ, nước ta mới bị Thực dân Pháp đô hộ. Thậm chí, nếu Thực dân Anh đô hộ thì nước ta không bị tai họa cộng sản. Bằng cớ là không một thuộc địa nào của Anh bị cộng sản hóa. Cái xui xẻo của dân tộc ta là ở chỗ đó. Có một số độc giả yêu quý tôi, khuyên: “Tôi đồng ý với những luận điểm của anh nêu lên, nhưng một khi anh chê các vị Tiến sĩ ngu, thì họ thù ghét anh là phải rồi”. Tôi cũng hiểu điều ấy lắm chứ! Mấy ai ngu mà chịu nhận mình ngu? Do đó, tôi mới bảo rằng các nhà trí thức Việt Nam trở nên ngu vì họ bị ma đưa lối quỷ đưa đường, tức là cả dân tộc ta bị nguyền rủa bởi dân tộc Chàm, khiến cho những nhà trí thức không thấy cộng sản là tai họa khủng khiếp. Đem luật Nhân Quả để bào chữa, tôi hy vọng các nhà thông thái Việt Nam thông cảm, mà không quở trách.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện không những chỉ là người thầy thuốc giỏi, ông còn là một học giả thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ Anh. Vào khoảng thập niên 80, sau khi nhìn thấy Đỗ Mười đánh tư sản mại bản, ông Viện tuyên bố: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học. Việt Nam cần làm một cuộc cách mạng mới!”. Từ Mỹ, tôi gọi điện thoại về hỏi ông: “Tại sao Cụ thân sinh anh bị cộng sản đấu tố cho tới chết, mà anh lại đi theo cộng sản để rồi bây giờ mới than thở?” Ông bảo: “Tại vì mình ngây thơ cậu ạ!” Tôi nói: “Không! Anh không ngây thơ!” Ông lặp lại câu trả lời với  hai chữ “ngây thơ” nhiều lần. Cuối cùng tôi phát cáu, nói: “Không! Anh không ngây thơ! Anh ngu!” Trước đây, tôi thuật lại cuộc đối thoại giữa bác sĩ Viện và tôi để cho độc giả thấy cái ngu của người trí thức. Có độc giả viết lên diễn đàn: “Đặng văn Âu là thằng nói phét! Sức mấy mà nó có thể nói chuyện được với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện?”. Độc giả ấy chửi tôi, cho rằng tôi nổ, vì không biết bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là anh ruột của bà chị dâu tôi, nên tôi mới có thể nói chuyện điện thoại với một người danh tiếng như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.

Kỹ sư Hầm Mỏ (Ingénieur des mines) Hồ đắc Liên tốt nghiệp ở Pháp, về nước tham gia Mặt trận Việt Minh chiến đấu chống Pháp. Sau một thời gian nằm gai nếm mật, ông mới khám Việt Minh là cộng sản trá hình, lấy làm tức giận, chửi thề: “Đánh xong giặc Pháp, ta sẽ xử tội chúng mày”. Nhưng ông Liên không thể giữ được lời hứa, vì bộ máy tổ chức đảng cộng sản khủng khiếp quá chừng! Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tất cả những nhà trí thức Việt Nam đều cay đắng, hận thù cộng sản bầm gan tím ruột khi biết sự thật, nhưng chẳng làm gì được. Hồ chí Minh là một tên đại gian hùng. Sau khi cướp Chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim, hắn thành lập Chính phủ Liên Hiệp gồm những nhà trí thức như Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Thượng thư Đặng văn Hướng (thân sinh Hùm Xám Đặng văn Việt), văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng chỉ là bù nhìn, còn thực quyền nằm trong tay đảng viên Cộng Sản. Để che mắt thế giới, Hồ Chí Minh viết Tuyên Ngôn dựa theo Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ và có hai đảng đối lập cuội:Đảng Dân Chủ do ông Huỳnh văn Tiểng (?, nếu tôi nhớ không lầm) đứng đầu và Đảng Xã Hội do ông Nguyễn Xiển làm Chủ tịch. Nguyễn Xiển còn có câu nói bất hủ: “Bác Hồ muốn gì thì tôi làm theo ý Bác!” (trí thức Việt Nam là thế đấy!) Năm 1988, hai đảng cuội tuyên bố giải tán. Để tỏ ra đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh làm câu vè “Cây xanh thì lá cũng xanh, Lương sao Giáo vậy, ai đành bỏ ai?” (từ khi mới mười tuổi, tôi đã nghe cán bộ tuyên truyền cộng sản tụng câu vè này để dụ tín đồ Công giáo). Là một người vô thần, nhưng Hồ Chí Minh đã nài nỉ Đức Cha Lê Hữu Từ để xin rửa tội. Thử hỏi có vị lãnh tụ Quốc gia nào ma giáo bằng Hồ Chí Minh không? Một người hiền lương, đạo đức như Tổng thống Ngô Đình Diệm làm sao địch lại?

Ở Huế, có bốn dòng họ danh tiếng, thuộc vào hàng tứ trụ triều đình Nhà Nguyễn như Nguyễn Khoa, Hồ Đắc, Thân Trọng, Hà Thúc, đều có người ở phe này, phe kia. Chẳng hạn trong Không Quân VNCH có Đại tá Nguyễn Khoa Điềm, trong Bộ Chính trị Cộng sản cũng có Nguyễn Khoa Điềm. May mắn cho Đại tá Điềm thoát ra kịp vào năm 1975. Còn Đại tá Nguyễn Khoa Dánh chết thảm trong Trại Tập trung Việt Cộng! Tôi chỉ đưa ra trường hợp hai nhà trí thức bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và kỹ sư Hồ đắc Liên để minh chứng cái ngu của trí thức Việt Nam. Họ là những người thật sự yêu nước, đạo đức, nhưng họ ngu vì bị quỷ ám!

Nếu ai đã từng đọc “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc” của Luật sư Phạm Khắc Hòe, Đổng lý Ngự Tiền của vua Bảo Đại, người viết câu tuyên bố bất hủ cho Vua Bảo Đại “Thà làm dân một nước độc lập, còn hơn làm vua một nước nô lệ” thì mới thấy Việt Cộng chuẩn bị cấy người để phản dân hại nước từ lâu. Trần Huy Liệu, đảng viên cao cấp của Quốc Dân đảng bị Pháp bỏ tù ở Côn Sơn, rồi tuyên thệ vào đảng Cộng sản, là người đứng ra nhận ấn kiếm của Vua Bảo Đại, là người viết chuyện giả tưởng Lê văn Tám đốt kho xăng Nhà Bè để tuyên truyền đấy!

Theo những anh Không Quân Quốc gia Việt Nam sang du học bên Pháp cho biết, khi hay tin Việt Minh chiến thắng Điện Biên Phủ, tất cả đều reo hò một cách sung sướng, làm cho các sĩ quan huấn luyện người Pháp rất buồn. Điều đó chứng tỏ họ chẳng biết một tí gì về cộng sản. Tại sao? Tại vì người có bằng cấp danh tiếng như triết gia Trần Đức Thảo, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, Thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị còn chưa biết cộng sản, làm sao những thanh niên mới lớn biết được, mặc dù họ đang được đưa sang Pháp đào tạo để đánh nhau với cộng sản?

Nếu ông Ngô Đình Diệm biết được trí thức Việt Nam ngu một cách triệt để và phản phúc, thì ông không bao giờ vâng lời Hoàng đế Bảo Đại về nước xây dựng nền Cộng Hòa. Ông Diệm cho người sang Pháp, sang Mỹ tìm nhân tài về giúp nước. Ông Diệm còn cho các nhà sư Phật giáo đi du học để về phát huy Phật giáo. Nhưng trí thức không những ngu, mà còn vô ơn, phản phúc và hèn hạ nữa. Cái việc đấu tranh của bọn Việt Cộng đội lốt Phật giáo là rõ như ban ngày, xin hỏi có một trí thức Phật giáo nào, hay lãnh đạo chính trị nào mang danh nghĩa Phật giáo công khai vạch mặt những tên Việt Cộng đội lốt Thầy Chùa cho dân ngu biết không?

Với một hàng ngũ trí thức ngu muội, hèn nhát, không một nhà lãnh đạo nhân từ nào có thể xây dựng được một Quốc gia Dân chủ. Dù có mười nhà lãnh đạo như Tổng thống Ngô Đình Diệm đi nữa, Miền Nam vẫn bị Việt Cộng xâm lăng. Phải là một nhà lãnh đạo độc tài, nhưng yêu nước, không ngần ngại dùng biện pháp trừng trị mạnh bạo đối với bọn người chưa hiểu thế nào là dân chủ, bọn giả hình lưu manh lợi dụng dân chủ để mưu đồ lợi ích riêng, bọn mãi quốc cầu vinh thì mới xây dựng thế chế dân chủ được. Tưởng Giới Thạch sau khi chạy ra Đài Loan đã thi hành một chế độ độc tài thắt lưng buộc bụng nghiêm khắc thì mới tồn tại tới ngày nay. Tôi đã từng đi công tác Đài Loan và tôi đã chứng kiến cuộc sống của sĩ quan Không Quân Đài Loan rất đạm bạc. Phác Chính Hy cũng là nhà độc tài, bản thân sống khắc khổ thì Đại Hàn mới văn minh tiến bộ như ngày nay. Lý Quang Diệu đã ra lệnh cho Cảnh sát dùng roi phạt tại chỗ bọn không tuân hành luật pháp thì Singapore mới sạch sẽ như ngày nay. Nhà văn Dương Thu Hương đã khóc thương cho một chế độ văn minh đã bị một chế độ man rợ đánh bại. Tôi rất thích câu trả lời cuộc phỏng vấn của bà: “Tôi phải về nước để ỉa lên mặt những thằng lãnh đạo cộng sản”. Bởi vì, với cộng sản chỉ ỉa lên mặt chúng, chứ không thể nào đem tình yêu Quốc gia – Dân tộc để nói chuyện phải trái với chúng! Cũng giống như đối với mấy thằng bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà báo, lên Youtube của thằng Hoàng Bách và cái đám Sáng Tỏ rất đáng cho người Chống Cộng ỉa lên mặt lắm!

Nếu Hồ Chí Minh được như Phác Chính Hi, Lý Quang Diệu … thiết lập một bộ máy cai tri độc tài để chuẩn bị cho đất nước tiến tới nền dân chủ văn minh, thì ngày nay xã hội Việt Nam đâu có bầy nhầy như đống rác! Giải quyết vấn đề Việt Nam hiện nay không phải là dân chủ, mà là những nhà trí thức ở Hải ngoại, có ăn, có học, có ý thức biết rõ khả năng của mình với tinh thần trách nhiệm cao thì mới có thể bảo tồn nòi giống đang bị Việt Cộng hủy hoại. Phải xây dựng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước và trách nhiệm với nòi giống để chuẩn bị cho tương lai, thì mới mong nòi giống Việt tồn tại.

Những ai từng học Math G tại Saigon vào thời của tôi, đều biết Giáo sư Monavon. Trong lúc được gặp ông tại nhà anh tôi, tôi hỏi ông đánh giá thế nào về sinh viên Việt Nam? Ông trả lời “Les étudiants Vietnamiens sont très bons!” Lúc bấy giờ tôi khá tự hào vì nghe một ông thầy người Pháp khen sinh viên Việt Nam. Nhưng sau khi trải nghiệm thực tế, tôi mới hiểu ý của Thầy Monavon là sinh viên Việt Nam chỉ học giỏi, chăm chỉ, nhưng suốt đời chi là sinh viên, thầy dạy thế nào thì làm theo thế ấy, nghĩa là nặng phần sách vở, chứ không có tầm nhìn để lãnh đạo quần chúng.

Nếu kể ra những loại trí thức như Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá Thành, Trương Như Tảng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Châu Tâm Luân, Lý Chánh Trung … thì nhiều vô kể. Tướng Moshe Dayan nói phải cho nhân dân Việt Nam nếm mùi cộng sản, rồi họ mới biết đoàn kết nhau để tiêu diệt cộng sản. Nhưng câu nói của Tướng Moshe Dayan chỉ có thể áp dụng cho dân tộc nào khác. Còn đối với dân tộc Việt Nam, dù chiếc quan tài đặt chình ình giữa nhà, chẳng ai thèm nhỏ một giọt lệ. Bằng cớ là Việt cộng đã chiếm toàn bộ Đất Nước, hàng triệu người liều chết vượt biển, vượt biên đi tìm tự do. Nhưng sau khi đến được đất tự do, sống đầy đủ vật chất là quên ngay.

Tổng Bí thư Trường Chinh Đặng Xuân Khu luôn luôn nhắc nhở đảng viên: “Đảng ta cướp chính quyền bằng bạo lực, thì đảng ta phải dùng bạo lực để giữ chính quyền”. Sau này đảng cộng sản còn quyết tâm hơn: “Thà mất nước, hơn mất đảng” hoặc “Còn đảng, còn mình”. Vì vậy, đảng cộng sản triệt để ra tay tiêu diệt mọi mầm mống chống đối từ trong trứng nước, không phải chỉ ở Quốc Nội, mà còn áp dụng cả ở Hải ngoại. Trong nước, mọi đoàn thể quần chúng đều bị nhốt trong cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc. Ngoài nước thì dùng bọn Việt Tân để thi hành Nghị quyết 36.

Có người hỏi tôi Việt Cộng kết tội Việt Tân là phản động, là tổ chức khủng bố, mà bảo Việt Tân là tay sai Việt Cộng là nghĩa làm sao? Người đặt hỏi đó là chưa hiểu tí gì về thủ đoạn Việt Cộng. Đó là cách Việt Cộng tạo “uy tín” (credit) cho Việt Tân để Hải ngoại tưởng rằng Việt Tân chống Việt Cộng. Không! Việt Tân có thể làm những công tác có lợi cho Việt Cộng mà Việt Cộng không thể làm được. Ví dụ Việt Cộng không thể ra mặt nói như Luật sư Trần Kiều Ngọc “Em không Chống Cộng, em chỉ chống Cái Ác”. Việt Cộng không thể ra mặt nói “Đòi lật đổ Chính quyền Việt Nam là sai, chỉ xin nhân quyền thôi” như Tổng Giám đốc Trúc Hồ của SBTN. Hơn nữa, tổ chức Kháng Chiến hô hào rầm rộ, chắc chắn Việt Cộng cho người xâm nhập. Chính cụ Phạm Ngọc Lũy, Chủ tịch Ủy ban Yểm trợ Kháng Chiến tiết lộ trong hồi ký của ông: “Mặt trận đã kết nạp cán bộ một cách bừa bãi, không sưu tra lý lịch chu đáo, đã để cho Việt Cộng xâm nhập phân hóa nội bộ”. Chính Cụ Lũy viết: “Từ khi có Nguyễn Xuân Nghĩa tham gia tổ chức, thì nội bộ Mặt Trận bị phân hóa, vì Nguyễn Xuân Nghĩa thường viết thư nặc danh gửi cho người này, người kia trong Mặt Trận”. Nhà báo Kiêm Ái đã viết thẳng thừng: “Việt Tân là em Việt Cộng”!

Việt Cộng hoạt động ở Hải ngoại có tình báo phản gián, ắt nắm rõ những hoạt động phi pháp của Mặt Trận, thì chúng dễ dàng “blackmail” để sai khiến. Trước năm 1975, Việt Cộng đã sử dụng “blackmail” để nhân viên Dân sự và Quân sự trong Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sa lưới, rồi làm công tác cho chúng. Cứ đọc những bài tham luận chính trị của ông Lý Thái Hùng – Tổng Bí thư đảng Việt Tân – thì biết ngay ý đồ của đảng Việt Tân đang thuyết phục quần chúng chấp nhận chủ trương hòa giải hòa hợp bịp bợm với Việt Cộng. Huống chi, ông Đỗ Hoàng Điềm – Chủ tịch băng đảng Việt Tân – khẳng định trước Tòa Án Hoa Kỳ rằng Đông Tiến I, II, III là của Việt Cộng, thì còn nghi ngờ gì nữa?

Vũ khí của Việt Cộng là tình báo, phản gián, tuyên truyền, blackmail. Đáng lý ra Tướng Nguyễn Khắc Bình, người đứng đầu ngành Tình Báo Phản Gián của Việt Nam Cộng Hòa, ngầm yêu cầu thuộc cấp cũ của ông dùng chuyên môn của họ để theo dõi hoạt động của bọn Việt Cộng và bọn tay sai Việt Cộng phá hoại Cộng Đồng mới phải. Nhưng năm 2015, Tướng Nguyễn Khắc Bình tháp tùng  Đỗ Hoàng Điềm xuống Quận Cam họp báo giải độc về vụ “Terror In Little Saigon” thì phòng tuyến Chống Cộng ở Hải ngoại bị vỡ là đương nhiên. Tôi còn biết Tiến sĩ Đoàn Viết Hoạt từ Miền Đông sang để cố vấn cho ông Chủ tịch đảng Việt Tân họp báo. Căn cứ trên quan điểm của Tiến sĩ Đoàn Viết Hoạt có chủ trương “hòa giải hòa hợp” giống Việt Tân, ông Hoạt mà sang Quận Cam để “coach” cho Đỗ Hoàng Điềm thì tôi phải đặt dấu hỏi Đoàn Viết Hoạt đi tỵ nạn chính trị thật hay là được Việt Cộng gửi sang Mỹ để tăng cường cho băng đảng Việt Tân?

Tôi xin lặp lại: Việt Tân nguy hiểm hơn Việt Cộng, vì họ có thể gây cảm tình với các nhà văn bằng cách giúp tổ chức ra mắt sách, vào họp với Hội đoàn Quân đội hoặc Cộng Đồng để gây chia rẽ, để có thể làm từ thiện, để tặng quà thương phế binh VNCH … Bác sĩ Trần văn Tích ở bên Đức ca ngợi đoàn viên Việt Tân tử tế, vì họ cho mượn hệ thống âm thanh để tổ chức biểu tình và sau đó còn được mấy bà vợ các ông Việt Tân cho ăn bát cháo nóng ấm lòng. Sự gây cảm tình của Việt Tân là có ý đồ, chứ không tử tế gì với đoàn thể Chống Cộng. Cho nên, Kinh Kha Võ Đại Tôn tham dự Đại Hội Trẻ do Việt Tân tổ chức để Luật sư Trần Kiều Ngọc tuyên bố “em không Chống Cộng, em chỉ chống Cái Ác”, thì các nhà hoạt động Chống Cộng hình thức đều im tiếng, vì trót mang ơn Việt Tân mất rồi!

Tôi xin nói thẳng: “Hai đảng chính trị tên tuổi có bề dày kinh nghiệm thủ đoạn Việt Cộng là Đại Việt và Quốc Dân đảng, ngày nay cũng chỉ Chống Cộng hình thức mà thôi!” Nếu lãnh đạo hai đảng ấy không đồng ý với nhận định của tôi, cứ việc lên tiếng, tôi sẽ chứng minh.

Đảng Việt Cộng đã thề bảo vệ sự tồn tại của đảng bằng câu: “Thà mất nước vào tay Trung Cộng, còn hơn mất đảng”. Ai cũng đồng ý đảng Việt Cộng chỉ sụp đổ, khi nào Trung Cộng bị sụp mà thôi. Tổng thống Donald Trump thấy được Nước Mỹ sẽ chết dưới tay Trung Cộng, nên ông đã có biện pháp ngăn chặn sự lợi dụng của Trung Cộng bằng cách chấm dứt cho Trung Cộng hưởng quy chế tối huệ quốc; đóng cửa các Viện Khổng Tử “brainwash” thanh niên Mỹ; tân trang vũ khí và thành lập một Quân chủng mới (Space Force), ngăn chặn bọn buôn người, buôn ma túy qua biên giới phía Nam; tăng cường lực lượng Cảnh sát để bảo đảm an ninh nội địa; biến nước Mỹ từ một quốc gia nhập cảng nhiên liệu thành một quốc gia sản xuất … Dù bị đảng Dân Chủ đánh phá kịch liệt bằng những ngón đòn bẩn thỉu, Tổng thống Donald Trump vẫn mang lại những thắng lợi to lớn cho nước Mỹ hơn bất cứ vị Tổng thống tiền nhiệm nào khác.

Tại Việt Nam, một người đàn bà buôn thúng bán mẹt buồn bã, tuyệt vọng khi nghe tin Tổng thống Donald Trump bị đảng Dân Chủ cướp Chính quyền bằng gian lận. Tại sao đảng Việt Tân trong dịp này không dùng cán bộ vận động quần chúng tỵ nạn công khai ủng hộ Phong trào “Make America Great Again” để chứng tỏ đảng mình quan tâm đến sự tồn tại của nòi giống?

Bằng chứng đảng Con Lừa phản quốc đang âm mưu thủ tiêu nền dân chủ của nước Mỹ quá rõ ràng. Giống như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tay sai bọn xâm lăng Bắc Việt quá rõ ràng. Hiện tình nước Việt Nam ngày nay ra sao, thì tương lai nước Mỹ cũng sẽ như Việt Nam, nếu đảng Con Lừa thành công đẩy nước Mỹ vào chủ nghĩa cộng sản thành công. Chính vì vậy, tôi bắt chước câu nói của nhà văn Dương Thu Hương để “Ỉa lên mặt những thằng tỵ nạn cộng sản bợ đít bọn Con Lừa”.

Các vị khoa bảng luôn luôn được dân Việt Nam kính trọng, coi như là thành phần trí thức, mà không kết hợp thành một Khối Sức Mạnh công khai để đại diện chính thức cho Cộng Đồng tỵ nạn cộng sản nhằm chống lại bọn truyền thông thổ tả, thì câu nói của tôi trước mặt nhị vị Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng và Cung Tiến: “Dân Việt có học vị càng cao, càng ngu và hèn” là chính xác.

Không nhớ ai nói câu: “Chỉ có loài cầm thú mới quay lưng lại trước nỗi bất hạnh của đồng loại để chi lo chăm chút cho bộ lông của mình”, tôi xin nói: “Người trí thức mà thờ ơ, vô trách nhiệm với nòi giống, thì chắc chắn nòi giống sẽ bị hủy diệt”.

Cám ơn bạn đọc đã chịu khó đọc bài viết khá dài. Hẹn quý vị bài tiếp theo.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Telephone: 714 – 276 – 5600

Email Address: bangphongdva033@gmail.com