Cách đây 20 năm, khi anh làm Chủ bút
Giai phẩm Lý Tưởng, anh đã động viên nhiều anh chị em viết. Lúc đầu họ ngần
ngại vì cả đời chỉ làm luận văn trong trường, nhưng chưa hề viết văn để đăng
báo bao giờ. Nhưng anh kiên nhẫn thôi thúc và đã có một số trở thành nhà văn
được nhiều người yêu mến. Anh nghĩ ai cũng có thể “tâm tình” về đời mình, nếu
chịu khó rèn luyện và đặt tấm lòng vào đó. Giống như bà nội trợ kho một nồi cá
và đặt tấm lòng vào đó, thì nồi cá sẽ ngon hơn nồi cá chỉ kho cho qua chuyện.
Anh Đại tá Đặng Duy Lạc, Không Đoàn
trưởng của Sư Đoàn II Không Quân được anh gợi ý viết mẩu truyện tình thời trai
trẻ của ảnh. Sau nhiều ngày đêm thai nghén, anh Lạc đã cho ra đời một đứa con
đặt tên là Giòng Đời, một mối tình thật thơ ngây, mộc mạc với người bạn gái tên
Nga cùng học một lớp. Từ mối tình đó, anh đã đóng vai cô Nga để viết cho anh
Đại tá Đặng Duy Lạc một bức thư lấy tựa đề là “Hồi Âm Dòng Đời” (Về sau, có
nhiều tờ báo lấy đăng lại và thay chữ Dòng anh viết thành chữ Giòng.
Nhà văn Không Quân Đào Vũ Anh Hùng
thay anh đảm trách Giai Phẩm Lý Tưởng, đọc thấy bài viết đăng trên tờ báo Ngày
Nay của Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, anh Hùng lấy chuyện tình ấy để đăng lên tờ Lý
Tưởng (Bộ Mới) với lời giới thiệu cô Nga hết sức trân trọng. Nhà văn Đào Vũ Anh
Hùng khen bài văn của cô Nga văn chương hơn hẳn tác giả Giòng Đời Đặng Duy Lạc.
Nếu nhà văn Đào Vũ Anh Hùng biết cô Nga chính là anh thì không bao giờ anh Hùng
đã khen ngợi cô Nga nồng nàn như thế!
May nhờ chúng ta đang sống trong thời
đại Internet, nhiều trang mạng đăng tác phẩm đó, nên bây giờ anh có thể lấy về
và đưa vào Blog của anh. Em hãy xem đường link dưới đây và mở ra đọc:
Nhiều trang mạng khác đã phổ biến
bức thư của cô Nga đến độc giả khắp thế giới và liên tục kéo dài suốt 20 năm,
đã nhiều nữ đọc giả rơi nước mắt vì cô Nga.
Khi bài thơ “Hai sắc hoa Tigon” được
tác giả vô danh ký TTKH, đã gợi trí tò mò của độc giả. Có người tự nhận là tác
giả, có người bảo biết TTKH là ai. Nhưng bí ẩn cho tới ngày nay vẫn còn là bí
ẩn. Anh nghĩ bức thư anh viết thay cho cô Nga đã trải qua 20 năm, đây là thời
điểm mình phải tiết lộ cô Nga là ai, khi mình còn sống và nhiều anh em trong
Ban Biên tập từng cộng tác với anh trên tờ Lý Tưởng thực chứng. Bởi vì anh kể
chuyện ngày 30 tháng Tư năm 1975, anh đã mang hộ cho người bạn phi công cùng
Phi đoàn một túi bạc (Sac marin) không có khóa một số tiền là một triệu mốt
toàn giấy $100.00, mà khi trao lại số tiền cho bạn vẫn nguyên vẹn, không thiếu
một tờ nào. Nhà bank dã chiến phải mất gần 3 giờ đồng hồ mới đếm xong số bạc,
vì thời đó chưa có máy dò bạc giả. Chuyên viên đếm tiền là người Mỹ làm việc
cho Ngân Hàng tại Hongkong có khả năng miết hai ngón tay vào tờ bạc là biết bạc
thật hay bạc giả. Chuyện anh kể là chuyện thật, vì chủ nhân số bạc đó đang ở
đây và người co-pilot của anh cũng biết anh là người mang bao bạc và hiện sống
tại Tiểu bang Maryland. Làm sao anh có thể phịa ra cái chuyện ấy để khoe mẽ về
mình?
Nếu anh là thằng đểu, tráo trở thì
anh vẫn có thể chứng minh anh sở hữu số tiền đó. Bởi vì cái biên nhận của Quan
thuế tại phi trường Guam đề tên anh. Anh cứ nghĩ nếu mình lật lọng để cướp số
tiền đó một cách hợp pháp vẫn cứ được cơ mà. Nhưng còn có Tòa Án Lương Tâm nữa
chứ! Nếu anh làm chuyện lật lọng, liệu chủ nhân túi bạc để yên cho anh ngày nay còn
nói chuyện “phải đạo” được hay sao? Danh dự lớn hơn tiền bạc chứ!
Hoặc giả sử có sẵn tiền, đi mua một
chiếc xe thể thao thuộc loại chiến, phóng trên xa lộ cho thỏa thích, biết đâu
cái của phi nghĩa sẽ làm anh bị tai nạn thì sao? Thử hỏi nếu mình có tâm địa
bẩn, ngày nay làm sao mình có can đảm viết một cách hiên ngang như ngày nay, em
hiểu không?
Thế mà vẫn có đứa chửi anh nói láo,
ngụy tạo thành tích để khoe sự liêm khiết của mình. Anh chẳng quan tâm đến cái
lỗ miệng thiên hạ có ác ý với mình, bởi vì chúng ta đang bị sống với loài chó
đẻ cộng sản, thì chỉ có Trời biết, Đất biết việc mình làm là đủ!
Vừa rồi anh viết một bài tham luận
để bình giải bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải không anh?” của cô giáo Trần
thị Lam ở Hà Tĩnh với tựa đề “DÂN VIỆT NGU SI VÀ HÈN HẠ” (https://khongquanc130.blogspot.com/2021/12/dan-viet-ngu-si-va-hen-ha_8.html.) Thế là có một bầy Việt Cộng làm dư luận viên viết bài chửi
anh hết sức bẩn, hết sức vô giáo dục. Anh không phản ứng để đáp trả phường vô
loại. Anh quan niệm rằng mình đã dấn thân vào trường tranh đấu cho phẩm giá
người Việt Nam, mình phải coi mình mang một sứ mạng, giống như người đi tu. Đi
tu giữa chợ, chứ không phải đến chốn rừng núi thâm u tĩnh tọa để tìm con đường
giải thoát cho bản thân. Không ai bắt buộc mình phải đi tu, cũng như không ai
bắt buộc mình phải dấn thân tranh đấu. Chẳng qua anh không muốn chủng tộc khác
khinh nòi giống mình, thì phải lao vào chốn lao xao thôi!
Trước đây Peter Phạm đã viết bài
nhận xét một đoản văn của em. Em nhận thấy người đọc mô tả đúng tâm trạng của
mình, nên em đã dùng bài nhận xét của Peter để làm lời tựa cho cuốn sách “VIẾT
CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT”. Anh thấy Peter là người có khả năng nhận xét sâu sắc,
tinh tế và dí dỏm, nên anh thường động viên Peter nên viết, để ghi lại một dấu
ấn cho mai sau. Đến nay, sự động viên của anh với Peter chưa đi đến đâu. Peter
vẫn … lười viết!
Sáng nay, anh mở Email đọc thấy một
nữ độc giả ở trong nước viết mấy chữ nhận xét về bài nhận xét của Peter Phạm.
Nói để Bông Giấy biết rằng mặc dù đêm đêm anh gò lưng trên bàn phím để trang
trải nỗi lòng của mình với Nước Non, chứ không như Đặng Dung mài kiếm dưới
trăng nuôi mộng lớn. Anh hiểu rằng dân tộc mình đang gặp phải mối oan cừu, thì
dân tộc mình phải trả cho xong. Anh không hề mang chút ảo tưởng mình có thể đội
đá vá trời.
Trước đây, trong một tác phẩm của
em, em có kể người yêu đầu đời xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tên
Chàng. Anh ta tâm sự với em rằng khi ra trường sẽ tình nguyện vào Binh chủng
Nhảy Dù, đánh giặc thật hăng để mau lên Tướng, nhằm giành lại quê hương cho Tổ
tiên dân tộc Chàm. Chính vì đọc mẩu chuyện của em khiến cho anh phải tìm em để
xác minh niềm ấp ủ của người trai Chàm là đúng như thắc mắc của anh. Tiếc thay
người trai đó sớm hy sinh ngoài chiến trường, nên giấc mộng không thành. Trong
lúc chiến đấu dưới cờ, anh cũng nhiều lần tự hỏi “phải chăng Tướng Thiệu là hóa
thân của một vị vua Chàm đang thi hành sứ mạng giành lại quê hương cho dân tộc
Chàm?” Dưới đây là cái Email của Peter:
peter pham
Wed, Dec 8, 3:49 PM (15 hours ago)
Error! Filename not specified.Reply
Error! Filename not specified.
to me, Bà, Chi, GL, LINH, trancanh, thangbui, Toan
Ông
Chu mạnh Trinh trong một lần cảm xúc về việc Thúy Kiều bán mình chuộc cha,phải
xa làng xa xóm, nỗi nhớ quê, nhớ quán của Thúy Kiều, được ông CMT diễn tả như
sau:
Nước non ngàn dặm hai hàng lệ.
Tâm sự năm canh một bóng đèn.
''''''::::::::::::::::::::::::::::::::::"""""''
Hơn 100 năm sau,
từ một nơi xa xăm hơn nửa vòng Trái Đất, cách xa làng Phú Thị Hưng Yên có trên
7000 dặm chim bay. Ông Bằng Phong đã mượn 2 câu thơ của cụ Chu để trang trải
nổi niềm.
+++((((((((((())))))))))+++++
Trong bài viết " viết cho người đã chết ". Ông BP đã móc hết tâm tư
gan ruột, như con chim Yến đã phải xù lông đau đớn tiết ra từng vệt nước bọt
đôi khi lẫn máu để xây tổ ấm.
Nước non ngàn dặm hai hàng lệ.
Tâm sự năm canh một bóng đèn.
Chao ôi !
Hai câu thơ chứa chất một trời tâm
sự, một trời u uẩn..... nỗi niềm này ai có đồng cảm cho Ông ?
Xưa, thời Xuân Thu bên
Tàu, có ông Ngũ Viên vì nóng lòng nghĩ kế trả thù cha, mà chỉ một đêm đầu đã
bạc, còn ở nước Ta, đời hậu Trần, ông Đặng Dung cũng vì thù cha phải trả, nợ
nước phải đền mà:
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch.
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt
ma.
Nợ cha chưa trả, nợ nước chưa
xong..... ngày qua ngày, bóng câu qua cửa sổ, chẳng mấy Thu mà tóc đã mòn, đầu
đã bạc. Đêm đêm ngồi dưới trăng .....mài gươm quý ( Long Tuyền) đợi ngày rửa
hận.
Hình ảnh người tráng sĩ thân mang
trọng trách, nợ nước thù nhà..... mài gươm dưới Nguyệt, nung nấu chuyện đội đá
vá trời....
Ôi chao ! Sao mà hào hùng và lãng
mạn.
Nhưng ông Bằng Phong lại
có chút khác biệt, lẽ dĩ nhiên tên Tàu Ngũ tử Tư kia, sao so được với ông
BP, hắn chỉ vì thù cha, mà cõng con rắn Ngô về cắn con gà nước Sở. Còn ông Đặng
Dung cũng có phần may mắn hơn ông Bằng Phong. Đặng Dung có rừng để ẩn, có quân
để chờ thời và hơn nữa có cây Bảo Kiếm Long Tuyền để đêm đêm dốc bầu tâm sự,
thân như kiếm, kiếm như người, thấy ta như thấy kiếm, thấy kiếm như thấy ta.
Ông Đặng Dung mang trên vai
thù nhà nợ nước, mà đường thì xa thăm thẳm, ông than thở, trách móc, thằng bán
thịt giết heo Phàn Khoái, thằng câu cá kiếm cơm Hàn Tín mà còn danh vọng hơn
ta:
Thời lai đồ điếu thành
công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận
đa.
Ông nuốt nỗi hận vào tận đáy
lòng.
Còn ông Bằng Phong có gì trong tay,
ngoài một di sản mục rửa, tồi tệ, mà thế hệ đi trước đã để lại, ông còn gì cho
hôm nay, ngoài tuổi già sức yếu, ngoài lồng ngực bấy bá với dăm ba vết mổ chí
chết.
Nợ nước chưa trả, ông Đặng
Dung vẫn còn có tí tóc để bạc đầu, ông Bằng Phong nợ nước chưa đền,. Đầu chẳng
còn tóc để bạc .
Ông chẳng còn gì ngoài cái thân già,
bệnh hoạn, bước đi liêu xiêu vất vả, nếu còn chăng, là tí phương tiện
nghèo nàn, cái Computer lạc hậu, cái bàn phím cũ xì, để đêm đêm dưới
“một bóng đèn” ông miệt mài, cẩn trọng sắp xếp từng con chữ, chiến đấu
chống lại kẻ thù.
Ông BP không than thở, không trách
móc, và không cam tâm nuốt hận vào lòng, ông khóc, khóc cho quê hương sao quá
đỗi đọa đày, khóc cho dân tộc sao quá đỗi lầm than, những giọt nước mắt hiếm
hoi của người già, khóc trong canh khuya u ám, âm vang u buồn não nuột làm
sao!!!!
Nước non ngàn dặm hai hàng lệ.
Tâm sự năm canh một bóng đèn.
Trong đêm khuya hình ảnh một người
già gục đầu trên bàn phím, những con chữ rơi rãi chung quanh, ly trà đen cô
lạnh, ngọn đèn vàng mệt mỏi, bóng tối, ánh sáng nhập nhoè , ông BP ngồi đó, đôi
vai rung lên , cảm xúc.... nước mắt rơi, rơi lặng lẽ, cô đơn thật cô đơn.......
“Ôi những người khóc
lẽ loi một mình”......
Ông Thanh tâm Tuyền
khóc cho ........một người tình.
Ông BP Đặng văn Âu cũng
khóc lẽ loi một mình ,
Nhưng ông không khóc cho riêng
ông, ông khóc cho cả .....một dân tộc.
Peter Pham.
Anh đã reply Email của Peter vắn tắt
như sau:
Dec 8, 2021, 4:35 PM (14 hours ago)
Cám ơn Peter Phạm
đã chia sẻ nỗi niềm của Người Lính tuy già nhưng chưa xếp cánh Đại bàng.
Thân ái,
Và đây là Email của cô Phương Loan Đặng Thị từ trong nước
viết cho anh về cái Email của Peter.
Phuong Loan Dang Thi
6:44 AM (20 minutes ago)
Error! Filename not specified.Reply
Error! Filename not specified.
to me
Đọc bài
của Peter Pham viết về Bằng Phong, em thấy rất cảm đông vì có người hiểu và ủng
hộ ông anh họ Đặng của em. Rồi đọc bài “Dân Việt Ngu Si và Hèn Hạ” của anh Âu,
em lại thấy uất hận quá thể. Em cám ơn anh Âu thật nhiều đã khai sáng cho
em, và cho những người thân, quen mà em đã chuyển bài. Kính chúc anh Âu
và gia đình luôn an vui.
Em Trần thị Bông Giấy thân yêu,
Bữa trước, em gửi cho anh một Email
nói em chỉ muốn quyên sinh vì chuyện con cái. Anh đã khuyên em đừng có ý nghĩ
tiêu cực như thế, cha mẹ mình nơi chín suối sẽ buồn, vì có một người con thiếu
nghị lực. Nên nhớ rằng trên đời còn có nhiều người bất hạnh hơn mình. Hãy lấy
“niềm đau khổ cá nhân để đấu tranh cho dân mình có cuộc sống xứng đáng với phẩm
giá con người”, tự nhiên em sẽ thấy mình mang một trọng trách chưa hoàn thành.
Anh từng nghe một người bạn (Thiếu
tá) xuất thân trường Võ Bị Đà Lạt tâm sự: “Chúng ta phải cám ơn Việt Cộng đã
chiến thắng, thì mình mới đến được Mỹ để cho con cái mình được vào học trường
Đại học Harvard, trường Đại học MIT”.
Một ông Trung tá cũng xuất thân
trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt, từng bị tù trên 10 năm trong trại Tập Trung Cộng
sản, thổ lộ với anh bằng bộ mặt thành khẩn: “Hồ Chí Minh là một vị Bồ Tát.
Nhờ có Hồ Chí Minh nên dân cả nước mình không bị theo đạo Công giáo”.
Ông Trung tá là một người rất thánh
thiện, rất ân cần giúp đỡ người nghèo khó, siêng năng đi Chùa lạy Phật, siêng
năng ngồi dịch Kinh Phật từ tiếng Anh sang Việt ngữ. Em có thấy các sư trong
Chùa đã “brainwash” ông Trung tá tài tình không? Một người có học, tốt bụng, lại
là một sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà suy nghĩ như thế, thì
anh còn biết nói gì nữa?
Tỷ phú Hoàng Kiều tổ chức Đại Nhạc
Hội, thuê xe bus chở khách đi xem và có đãi tôm hùm. Trên sân khấu, Hoàng Kiều
phát biểu lời nói coi khinh, mạ lỵ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mà bao quanh bởi
những ông lớn của Tập thể Chiến sĩ cười nói nham nhở, thân mật ôm vai ông tỷ
phú và bảy ngàn (7.000) khán giả trong hội trường ngồi yên, không có một phản
ứng để đợi tới giờ tôm hùm được mang ra! Làm sao anh có thể ca ngợi dân mình,
hả em?
Gần đây, mấy người bạn trẻ “trí
thức” có chức, có học, bàn tính trong bí mật để xây Tượng Đài vinh danh Binh
Chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Nhiều cư dân trong thành phố Westminster và
anh đề nghị Ủy ban nên vinh danh tất cả các Quân Binh chủng để tạo tình đoàn
kết. Nhưng Ủy ban không thèm lắng nghe điều hợp lý ấy, còn buông lời miệt thị
khinh dễ bọn lính già ít học! Có lẽ Ủy ban nhận thấy đề nghị đoàn kết đi ngoài
chủ đích của Ủy ban chăng?
Thi sĩ Tản Đà viết: “Bởi tại thằng
dân ngu quá lợn”. Anh không đồng ý. Tục ngữ của ta đã dạy “Con hư tại Mẹ, cháu
hư tại Bà”, thì dân ngu là tại vì “trí thức” ngu không biết đường dạy dân, chứ
sao lại trách thằng dân ngu, đúng không? Chẳng lẽ nhà thơ Tản Đài sợ “trí thức”
nên không dám đụng đến?
Anh biết dân mình ưa ngọt. Cứ khen
tưới hột sen thì người nghe sướng rên lên ngay! Nhưng anh đâu muốn làm con chồn
khen con gà trống gáy hay để vồ con gà trống? Sở dĩ anh em nhà Hoàng Cơ Minh có
thể lừa đồng bào mình được, vì họ biết khai thác cái tâm lý khát khao đánh đổ
bọn cầm quyền Việt Cộng. Tới khi mặt nạ lừa bịp đã rơi xuống, chúng vẫn mở quán
treo đầu dê bán thịt chó, mà vẫn có khách “hồ hỡi” vào ăn chí chạp và nức nở
khen ngon.
Bởi lẽ đó, anh phải dùng mấy chữ
“ngu si” và “hèn hạ” để đánh thức quần chúng đừng để cho bọn buôn thần bán
thánh, bọn con buôn chính trị lừa đảo nữa. Hãy thức dậy đi! Anh coi đó là nhiệm
vụ và bổn phận của người trí thức!
Em thân yêu của anh nhớ nhé! Tất cả
người dân Việt Nam đều có bổn phận vinh danh dân tộc mình bằng hành động xứng
đáng như người Nhật, chứ không phải dựng Tượng Đài vô tri, vô giác mà gọi là
VINH DANH! Nếu người dân Việt Nam tôn thờ chủ nghĩa “mackeno” (mặc kệ nó), anh
bảo đảm rằng nòi giống Việt Nam sẽ bị diệt vong! Ở Mỹ, loài chim Ó "Bald
Head Eagle có nguy cơ diệt chủng thì có Hội Bảo vệ Sinh vật hiếm quý
(endangered Species) lo việc bảo tồn. Anh thấy nòi giống Việt có nguy cơ bị
biến mất trên mặt địa cầu thì cảnh báo vậy thôi!
Vài dòng tâm tình với em vào thời
điểm hoàng hôn của cuộc đời cũng là cách anh bắt chước nhà thơ Phùng Quán “vịn
câu thơ mà đứng dậy”, chỉ vì anh không muốn … sống quỳ! Anh cầu chúc em
sức khỏe dồi dào và đừng quên nhiệm vụ của nhà văn không thể “mua vui cũng được
một vài trống canh” như thi hào Nguyễn Du. Em hãy tin Thượng Đế trao cho em một
sứ mạng thì em sẽ vượt qua mọi khổ đau cá nhân. Người ta bảo “Văn dĩ tải đạo”
thì làm nhà văn phải chuyển tải cái gì đó để dân tộc mình trưởng thành, phải
không? Đâu có thể là “thương nữ bất tri vong quốc hận” mãi được!
Đầu tháng 9-96, báo Ngày Nay ở Houston có đăng một lá thư, tác giả là
một người đàn bà ký tên Nga (Sài gòn) gửi cho người yêu cũ Duy, tức Đại
Tá Không Quân Đặng Duy Lạc, người đã viết đoản văn “Giòng Đời” trên Đặc san Ngàn Sao của Hội Không Quân Houston, số mùa Hè 92 với bút danh Duy Lạc.
“Giòng Đời” là một bài văn hồi tưởng về cuộc tình lỡ
của tác giả trong thời niên thiếu. Đó là mối tình đầu, như rất nhiều
mối tình đầu dang dở khác, ở cái thời đại mà tình yêu trai gái coi như
trái cấm bởi vòng rào luân lý, và quan niệm tương giao nam nữ khắt khe
của xã hội đương thời. Biết bao mối tình trong sáng, ngây thơ, chất
phác, như những đóa hoa yêu hoa lệ nở rụt rè, rồi tan vỡ, để lại trong
văn chương nhiều chuyện tình đẫm lệ, dư âm còn mãi đến bây giờ.
Trong phần giới thiệu, Ngày Nay viết: “… Tác giả (Duy Lạc) kể lại
mối tình đầu của mình vào thời niên thiếu, lúc cắp sách đến trường
huyện với một người con gái tên Nga học cùng lớp. Lúc đó, vào dịp toàn
dân kháng Pháp, 1945. Thời thế sau đó đổi thay, ông Duy Lạc vào Nam, rồi
trở thành một Sĩ quan Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Còn cô Nga trở
thành một người lính của phía bên kia, vượt Trường Sơn vào Nam”.
Chuyện không ngờ là tờ Ngàn Sao lọt được về Sài gòn, và cô Nga ngày xưa được đọc bài “Giòng Đời” và sau đó, viết một bài chuyển ra ngoài với tên “Hồi Âm Giòng Đời”.
Đây là một bức thư tâm tình riêng tư giữa hai người bạn lòng, nhưng
tình tiết ghi lại một giai đoạn phân ly nghiệt ngã của đất nước…”
Bài “Hồi Âm Giòng Đời” đăng trên Ngày Nay đã gây một
xôn xao dư luận, nhất là trong dư luận Không Quân. Ở một vài nơi, có
những báo khác đăng lại. Đây là chuyện tình cảm động của thế hệ chúng
ta, với đầy đủ tính cách bi thương, lãng mạn, chung thủy và đằm thắm
biết bao, trong bối cảnh đau thương của đất nước, với cuộc phân tranh
đối đầu chủ nghĩa, huynh đệ tương tàn.
Lý Tưởng đăng lại bài văn “Hồi Âm Giòng Đời”, vì thứ
nhất, ngoài tính chất bi thảm của một câu chuyện đầy bi thảm, còn vì
cái đoạn kết bất ngờ và đau xót là Đại Tá Đặng Duy Lạc đã chết đường
đột, ít ngày sau khi bài báo được phổ biến. Có thể chăng, lá thư tình
gởi muộn đã làm anh rúng động và cảm xúc, vì ăn năn, hờn trách mình ngày
xưa đã rụt rè, yêu không dám ngỏ và đã hiểu lầm, hóa nên cuộc tình
thành chia biệt 40 năm…?
Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều… (Kiều)
Phải chăng chính cái tâm “quán tưởng” theo kinh Phật mà
Nguyễn Du đề cập đến rất nhiều lần trong truyện Kiều, đã khiến con người
nòi tình nghệ sĩ Đặng Duy Lạc tưởng tượng thêm ra những tình tiết đẹp
đẽ cho mối duyên dang dở, để càng nặng lòng tiếc nuối, âu sầu, đắm đuối
mình trong niềm ai oán với trò chơi nghiệt ngã của định mệnh? Anh khổ
dau, dằn vặt bởi giòng chữ bùi ngùi thương tội “Anh đã từ phương xa
lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng
lặng ra đi không một lời từ biệt…” khiến “Anh Duy thân mến” của Nga đã bơi ngược giòng đời, day dứt niềm thương, đem xuống tuyền đài mối tình đằng đẳng chưa tan.
Thứ nữa, “Hồi Âm Giòng Đời” của Nga Sài gòn có một giá trị văn chương cao vượt trên “Giòng Đời”
của Duy Lạc khó mà phủ nhận. Người nữ đó đã sống hết ngả truân chuyên,
trôi cuốn theo giòng cuồng lưu vận nước, vô độ thảm thương hơn thân phận
Thúy Kiều, khổ đau và tủi nhục trên cả Lara trong “Dr. Jivago”, vượt xa cơn khốn khó của Catherine Barkley trong “A Farawell To Arms”.
Những nhân vật nữ đa truân của văn chương nhân loại. Người đàn bà tên
Nga đã cho đi ở lứa tuổi thanh xuân đẹp đẽ đó, cả cuộc đời nàng vì lý
tưởng thiêng liêng dành cho đất nước, thủy chung ôm giữ mối tình đầu câm
lặng cùng niềm u oán… Để bốn chục năm sau, bàng hoàng sống lại nguyên
tròn cảm giác bồi hồi xưa cũ, nửa đêm ngồi viết lá thư dài, gửi “Anh Duy dấu yêu”
những lời nồng nàn tha thiết, bây giờ mới ngỏ… Để tim người tình năm
xưa quặn thắt và đau buốt nhức, tay cầm tờ thư cũng run lên, như trước
đây, bên trời xa mù tắp, Nga cũng run lên “còn hơn bị B-52 trải thảm”, khi đọc “Giòng Đời” trên giai phẩm Ngàn Sao.
Thiên tình sử đã được viết ra bằng những giòng chữ đầm đìa ngấn lệ,
văn chương tới độ chân thành, cảm động, khiến hoe rưng người đọc.
Thêm vào đó, “Hồi Âm Giòng Đời” còn là một tác phẩm
sâu sắc, tát thẳng vào mặt chế độ với những giòng chữ viết ra từ một
người theo cách mạng, nói về thực chất của cái gọi là “nhà nước”, trên phương diện thông tin chỉ thuần mục đích tuyên truyền “nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích”, về tệ trạng tham nhũng hối mại “chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền v.v… thì cái gì to như con voi cũng qua lọt”, và thú nhận lầm lỡ đi theo Việt cộng chỉ là do “định
mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!”… Em tập kết
vì ngỡ mình sẽ đến được một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý
tưởng hay vì bị huyền hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn có cảnh
người bốc lột người….”
Đó là tâm trang não nề của “người đàn bà góa bụa mái tóc đã bắt đầu điểm sương ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất..”
tủi buồn ngậm giọt thương thân, nhớ lại mối tình thơ ngây không dám ngỏ
và thổn thức hồi niệm cuộc chia ly định mệnh, khiến cho đời nàng giông
bão “Nhiều đêm em đã khóc vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều…” Nhớ đến bóng hình xưa thuở thanh xuân đèn sách học trò và giấc mơ lãng mạn “Có
lần nào anh say sưa oanh kích, mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu
chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người
băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình
huống ấy?”
“Hồi Âm Giòng Đời” nói lên đầy đủ cái thảm kịch của
thế hệ chúng ta, của phần số đau thương bất hạnh dân tộc ta gánh chịu.
Lý Tưởng trân trọng mời bạn đọc theo dõi và cảm xúc với từng giòng chữ
phô diễn chân thành tâm trạng người viết, để hiểu tại sao cái khổ đau
ray rứt đã khiến ông Đại Tá phi công khu trục Đặng Duy Lạc không gượng
nổi, phải từ giã anh em, từ giã bạn bè để ra đi mang theo tình yêu thánh
hóa sang bên kia thế giới…
Đào Vũ Anh Hùng
* * *
GIÒNG ÐỜI
Tôi sinh ra vào thế hệ của thập niên 30. Thế hệ của chúng tôi chịu
nhiều xáo trộn điên đảo nhất trong giòng lịch sử 60 năm của dân tộc
(1930-1990). Chúng tôi may mắn là nhân chứng của nhiều sự hưng vong của
bao chế độ và cuối cùng được nhìn tận mắt sự sụp đổ ngoạn mục của chế độ
Cộng sản bạo ngược khắp thế giới. Ðó cũng là một niềm an ủi cuối đời
cho thế hệ chúng tôi, những người chống cộng sản phải bỏ nước ra đi lang
thang, bơ vơ, chịu nhiều bất hạnh, mang nhiều nổi đau buồn trên đất
khách.
Ngày xưa từ tuổi nhi đồng qua thời niên thiếu, chúng tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luân lý đạo đức Khổng Mạnh qua các tập “Luân Lý Giáo Khoa Thư”
ở nhà trường. Trong xã hội lúc bấy giờ, một thời văn chương lãng mạn
của các nhà thơ: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Chế
Lan Viên v.v… và nhóm chủ trương Tự Lực Văn Ðoàn của Nhất Linh đã mang
lại cho chúng tôi một ít mơ mộng về tình yêu (Hồn Bướm Mơ Tiên), hay ý
thức mơ hồ về các hoạt động cách mạng (Ðôi Bạn). Sau đó từ năm
1935-1945, dòng nhạc tiền chiến trữ tình và lòng yêu nước của Văn Cao,
Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Tô Vũ, Ðặng Thế Phong.v.v… đã thật sự thấm nhập
tâm hồn tuổi trẻ vừa lãng mạn vừa khơi động tình yêu tổ quốc của tuổi
thanh niên.
Kế đến thế chiến thứ hai vào giai đoạn chót bộc phát dữ dội. Bom đạn của
chiến tranh bắt đầu tàn phá quê hương. Nương theo sự thất trận của
Nhật, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp nổi dậy, cuối cùng đi đến
ngày 19-8-1945, ngày toàn quốc khởi nghĩa mà bọn Việt Minh Cộng sản quỷ
quyệt cướp lấy công đầu. Và cũng từ hoàn cảnh đó, đám thanh niên thế hệ
chúng tôi một số vào rừng, vào bưng, vào chiến khu để theo tiếng gọi
thiêng liêng của Tổ Quốc. Một số khác vì còn trẻ tuổi, phải bỏ thành phố
tản mác về vùng quê để tạm lánh cư.
Cũng như mọi gia đình khác, cha mẹ chúng tôi vội vã bỏ hết gia sản chạy
về vùng quê miền Trung. Từ đó đời tôi bắt đầu một khúc quanh: cơ cực
cũng lắm, hạnh phúc cũng nhiều, chạy dài suốt một thời niên thiếu. Tôi
dần dần yêu thích cảnh sống đồng quê. Say sưa với núi cao, biển rộng,
rừng thông, đồi cát, ruộng mía, nương khoai với những hình ảnh của đình
chùa, miếu mão. Tôi yêu thương làng tôi qua lũy tre xanh. Con đường nho
nhỏ thông reo. Ngôi đình cổ kính nằm bên chân đồi. Tôi mê nhất những
buổi trưa hè ngồi nghe tiếng thông vi vu, réo rắt một điệu nhạc buồn như
tiếng sáo diều từ lưng đồi vọng lại.
Tuổi thơ của tôi thấm đậm tình quê hương từ những ngày tháng êm đềm thơ
dại đó. Những năm đầu kháng chiến, gia đình tôi chưa đến nỗi sa sút. Tôi
được đi học tại trường Trung học cấp huyện, cất ngay trong làng. Ở miệt
thôn quê thời kháng chiến, sự học hành bị gián đoạn nên học sinh tuy
ngồi chung lớp nhưng tuổi tác chênh lệch nhau. Trong lớp “Ðệ nhất niên”
của tôi có độ mươi cô nữ sinh. Các cô thuộc người làng hoặc từ những
làng kế cận đến học. Phần nhiều nữ sinh thuộc gia đình giàu có trong đám
hương mục ngày xưa như Chánh Tổng, Xã Trưởng, Hương Lý, Hương Hộ v.v…
Các cô tuy là gái quê nhưng trông cũng xinh đẹp lượt là lắm. Tôi thời đó
học hành dốt nát, chỉ thích lêu lỏng ngoài đường. Chuyện nhà trốn
tránh, chuyện bạn bè thì mau mắn. Tôi lang thang suốt xóm trên làng
dưới, tập đàn ca với đám nữ sinh cùng lớp, ít khi có mặt ở nhà. Công
việc nặng nhọc trong gia đình tôi giao cho chú em kế gánh vác. Mẹ già
nhiều lúc mắng mỏ rầy la, tôi vẫn trơ mặt thịt.
Ðã vậy tôi còn tơ tưởng yêu đương. Tôi yêu tha thiết một cô em tên Nga
cùng lớp. Em ngồi dãy bàn trước mặt. Tôi còn nhớ chiếc áo chemise lụa
mỏng và chiếc quần lãnh đen của em. Em có đôi mắt nhung huyền sâu thẳm
như đáy hồ thu mà tôi tự nguyện chết đuối trong đó những lần em quay lại
nhìn tôi cầu cứu. Ðôi môi em đỏ hồng gợi cảm. Những lúc em ban phát cho
tôi một nụ cười cám ơn khi tôi cho cóp bi bài toán là những lần tim tôi
như ngừng đập. Em thường liếc xéo tôi mỗi khi tôi trêu chọc. Cái nguýt
dài, con mắt có đuôi, kèm theo một nụ cười mỉm của cô gái dậy thì, có
lúc là một “message” ưng chịu kín đáo của thời đó.
Thật tình lúc bấy giờ tôi không đoán được Nga có cảm tình gì với tôi
chưa. Nhưng riêng tôi, tôi đã mê tít nàng. Cứ mỗi ngày cô em nghỉ học là
mỗi ngày tôi thẩn thờ nhớ nhung. Tôi tương tư nàng như Nguyễn Bính
tương tư “Cô hàng xóm”: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn…
Tuy yêu thương mê mẩn như thế, tôi chưa dám nói một lời yêu thương
cùng nàng. Hồi đó tôi đen đúa xấu trai. Tóc chải bảy ba có thêm một chút
tango ổ quạ ngay trước trán (thời trang 1945). Tôi gầy đét và cao lêu
nghiêu như cây sậy. Thật tình nhìn kỹ tôi chả giống con giáp nào! Tôi
chỉ được tiếng “người Sài gòn” và một chút tài mọn về đàn ca
hát xướng. Vì vậy, tôi chủ quan nghĩ rằng em đã cảm tình với tôi. Một
hôm vào dịp nhà trường tổ chức đi cắm trại qua đêm ở một rừng dừa ven
biển. Dĩ nhiên tối hôm ấy có đốt lửa trại và thi đua văn nghệ, giữa mấy
trăm học sinh cùng trường. Tôi táo bạo ghi tên tham dự, cốt để chứng tỏ
với Nga về khả năng văn nghệ của mình. Ðêm hôm đó, trước đám đông đảo
học sinh, tôi đơn ca bản nhạc “Nhớ Chiến Khu”, một bài ca tủ của tôi, “Còn đâu trong chiến khu trên rừng chiều. Bên đèo tiếng suối reo, ngàn thông réo…”
Tôi đang mơ màng vừa ca vừa diễn xuất bộ mặt sầu sầu của anh Vệ quốc
Quân nhớ nhà, nào ngờ đến đoạn cao nhất của bài hát, một phần vì khớp,
một phần vì nhìn thấy cô nàng đang theo dõi mình, tự nhiên tôi té giọng
kim, dứt đoạn, rồi ngừng ngang nửa chừng. Tôi đúng như trời trồng giữa
tiếng vỗ tay la ó của đám học sinh. Tôi xấu hổ, tay chân thừa thải, mặt
đỏ bừng chỉ muốn độn thổ cho xong. Tội nghiệp Nga, nàng cúi đầu thương
hại cho tôi.
Rồi có một lần, chuyện phải đến đã đến, Nga ngỏ lời mời tôi đến nhà nàng
chơi vào chiều thứ bảy. Tôi sung sướng nhận lời. Dịp này nhất định tôi
sẽ bộc lộ tâm sự với nàng bằng một lá thơ. Mấy ngày liền tôi ngồi nắn
nót viết bức thư tình đầu tiên. Tôi còn nhớ rõ bức thư viết dài và hay
lắm. Tôi diễn tả mối tình say đắm của mình. Văn chương lãng mạn và ướt
át vô cùng.
Trong bức thư tôi còn làm dáng về vốn Pháp văn của mình bằng hai câu bất hủ “L’homme sans amour comme La Terre sans Lumière” mà tôi thuổng được ở mấy bức thư tình của bà chị tôi. Chiều hôm ấy, tôi băng mấy cánh rừng dương để đến nhà nàng.
Nhà Nga xinh xắn bao quanh bởi một vườn cau và một hàng rào bông bụp tím
nhạt. Vườn có nhiều hoa và cây ăn trái. Tôi dạo chơi thơ thẩn trong
vườn cùng nàng suốt buổi tối. Nàng bóc bưởi mời tôi ăn. Tôi trèo cây hái
khế tặng nàng. Cứ như thế mãi cho đến khi trăng treo đầu ngọn cau và
hoa bưởi bắt đầu tỏa hương thơm ngát, tôi mới từ giã nàng. Trước khi về
tôi dúi vội bức thư vào tay nàng. Nàng ngập ngừng e thẹn nhận lấy thư
tôi.
Sau ngày trao bức thư tình, tôi cảm thấy yêu đời, mơ mộng nhiều hơn. Và
trong khi tôi nao nức đợi chờ hồi âm, thì hởi ơi! Hai câu Pháp văn bất
hủ tôi viết cho nàng được loan truyền khắp nơi nhất là trong đám nữ
sinh. Mấy bà chị họ, mỗi lần gặp tôi đều tủm tỉm cười, làm tôi xấu hổ vô
cùng. Tôi loáng thoáng đoán rằng tôi đã lầm và quá chủ quan, chớ nàng
không hề yêu thương hay tình cảm gì với tôi. Nàng đã đem bức thư của tôi
bêu rếu để làm trò cười. Từ đó tôi không nhìn nàng. Tôi đau khổ hận
đời, hận nàng và trốn học luôn…
Cho đến một ngày trước khi xuống tàu bỏ trốn vào Nam, vì vô tình hay cố
ý, Nga chận tôi trên con đường làng vắng vẻ, gương mặt xanh xao, ánh mắt
buồn buồn. Nàng khóc thật nhiều và giải thích với tôi rằng nàng đã yêu
tôi. Chuyện bức thư là lỗi bất cẩn của nàng (Nga cho người bạn gái mượn
quyển sách trong đó có dấu bức thư).
Nàng trách tôi tại sao bỏ học và trốn tránh không nhìn mặt nàng. Lần đầu
tiên tôi run run cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt lệ nhạt nhòa, thổn
thức không nói một lời, bởi vì ngày tôi nhận được hạnh phúc tình yêu đầu
đời và cũng là ngày tôi xót xa chia tay mối tình học trò ngắn ngủi đó.
Ngày hôm đó, tôi đau đớn vĩnh biệt Nga mà chính nàng không hề hay biết.
Con thuyền đưa tôi vào Nam chập chùng giông bão. Giông bão xô dạt con thuyền. Giông bão ngay trong lòng tôi…
Tôi có người em kế, cùng trạc tuổi. Chúng tôi là hai thái cực. Chú Lâm
hiền hòa thích sống trong gia đình. Tôi mê cuộc đời hải hồ lang bạt. Lớn
lên, hai anh em cùng vào quân đội. Tôi đi lính Không Quân đồn trú tại
Pleiku. Chú đi sĩ quan Thủ Ðức đóng đồn ở Daksut. Những ngày cao nguyên
sôi động, nhiều lần từ trời cao, tôi xót xa nhìn chú bị vây hãm dưới
đồn. Anh em tuy đóng quân cùng một vùng nhưng chả bao giờ gặp nhau.
Thỉnh thoảng hành quân ngang đồn, tôi bay thấp để chào chú, hoặc liên
lạc FM để thăm hỏi sức khỏe và nhắn tin nhà, thế thôi. Vậy mà chú Lâm
vẫn vui vẻ sống cuộc đời gian khổ bộ binh.
Mãi đến ngày bỏ nước ra đi, chú ra đi một mình không kịp đón gia đình vợ
con. Những năm tháng xa quê hương, chú Lâm vẫn sống cảnh đơn lẻ ở một
tiểu bang xa lắc xa lơ. Nhưng mấy năm gần đây, chắc có lẽ chịu hết nổi
cảnh “Ðồn Lẻ Chiều Xuân” chú đã âm thầm bước thêm bước nữa để nếm mùi “một cảnh hai quê”. Thật tội nghiệp!
Hôm Tết vừa qua, nhân dịp đi công tác cho hãng ở Hà Nội. Lâm ghé Sàigòn
thăm nhà và về làng thăm quê cũ. Một sự việc bất ngờ và cảm động là chú
Lâm đã tìm được dấu tích của Nga ngày xưa. Ðuợc biết nàng đã trốn ra Bắc
năm 1956 và sau ngày Việt cộng cưỡng chiếm miền Nam, nàng trở về với
quân hàm Ðại úy và là vợ lẽ của một ông tướng già Việt cộng. Hiện nay
nàng đang ở Sàigòn, khu cư xá sĩ quan Chí Hòa và ông tướng già đã chết.
Trước khi trở về Mỹ, Lâm có đến tìm gặp nàng. Nga sững sốt mừng rỡ khi
nhận ra Lâm em của tôi. Nàng vui vẻ kể chuyện xưa về tôi với chú Lâm và
nói rõ lý do vì sao nàng bỏ xứ ra đi. Trong câu chuyện thăm hỏi, Lâm đã
cố khơi lại chuyện tình ngày xưa của chúng tôi. Lâm nói: “Anh tôi vẫn nhắc nhớ về chị.” Nàng cúi đầu lặng lẽ, giọng buồn buồn: “Dạ vâng, tôi đoán thế.”
Và nàng cảm động cho biết người làng đã kể: Có lần tôi một mình lái xe
về thăm vườn cũ tìm lại người xưa, và người xưa không còn nữa. Lâm tiếp
tục thăm dò: “Chị có biết anh tôi ngày xưa làm gì không?” .“Dạ tôi
biết, nghe nói anh ấy là một phi công trong Không Lực Cộng Hòa”. “Chị có
oán hận, căm thù gì chúng tôi không?” Nga lắc đầu cười chua chát, “Tôi không nghĩ đến điều đó, và chẳng bao giờ nghĩ như vậy, nhất là đối với anh ấy…”
Nàng trả lời với đôi mắt mơ màng xa vắng. Chắc có lẽ chú Lâm đã vô tình
khơi dậy những kỹ niệm thời học trò của nàng. Những kỹ niệm tưởng như đã
chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau bốn mươi năm xa cách.
Và trong buổi chiều hôm đó, theo lời nhật xét của chú Lâm. Nga như “lội ngược giòng thời gian”
tìm sống lại quảng đời con gái ngây thơ, cùng với mối tình thơ mộng và
đẹp nhất của đời nàng. Vì đó là mối tình đầu và mối tình không có đoạn
cuối.
Duy Lạc
* * *
Hồi Âm GIÒNG ÐỜI
Anh Duy thân mến,
Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông
miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã
làm cho cái nóng oi bức của Sài gòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những
giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên
hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình
đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Ðặt bút
viết lá thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm
tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt… Không biết rồi
lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ
gì? Thôi em cũng liều… Cầm bằng như gió mang đi.
Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em
trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ
sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân
viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này
thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có
cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng
viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người
Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các
cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của
phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản
nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng
hồ rẻ tiền…v.v… thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê
nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều
nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng
chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều…
cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt
ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.
Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:
– Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng.
Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:
– Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Ðọc để xúc động vì “người ta” còn nhớ tới mình!
Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên
phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa
xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên
Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh,
đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên
tưởng đến một điều gì đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa
lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên
tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở
Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:
– Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?
Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc
cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em
run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng
cười em già rồi mà còn vớ vẩn.
Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường
Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to
tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người
bạn học cùng trường thủa thiếu thời.
Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len
lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại
ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, “Chắc chắn là anh đây rồi?!” Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.
Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì?
Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai
mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.
Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay
giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ
bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao
khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn
mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui
thích như đi trẩy hội ngày Xuân.
Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài “Nhớ Chiến Khu”. Lúc bấy
giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà
của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run … vì ánh mắt
ngưỡng mộ và say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy
anh Duy nhỉ?
Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách
phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, “mờ mịt” thì anh phát âm thành “mờ mịch” hay “vui quá” thành “vui góa”. Và còn nhiều chữ độc đáo nữa…
Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường
thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười
hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai
cười khỉnh rất là… Sài gòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ
chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài
để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.
Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè
51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán
B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong
lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử
chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm
động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ
khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:
– Trại sinh bên toán B ăn hết “thịch” (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho “dzui”!
Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ
khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em
bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!
Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra
tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy
múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập
bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái
ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ
vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù
theo điệu nhạc trầm bổng.
Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không
thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình
đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để
ý “người Sài gòn” có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?
Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình
thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không
tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính “nghịch” ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài “Giòng Ðời”, em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó.
Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai
như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học
dốt!
Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả
viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển
nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh
không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới
lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn
nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và
đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự
tại, đẹp như một pho tượng!
Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ
những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ,
có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?
Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh
nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới
thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp
học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em
là con gái, đặc biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của
phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong
thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ
bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa
lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để… ngắm anh (!) Hoặc để luồn những
ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Ðó là cái rạo rực rất tự
nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh
chàng đang ngấm nghé.
Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em,
con nhỏ Thủy – con gái ông Xã Tài – đọc trộm lá thư em dấu trong sách
cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm
đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn
gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Ðằng này con nhỏ Thủy vốn thầm
yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh
phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em
chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc
tình chúng mình!
Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết
lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì
im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn
hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho
em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biếng nhác việc học hành và công
việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cũng
sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh
gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời
từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em
mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.
Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng
xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ.
Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không
bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ
có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có
nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận.
Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân.
Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường
lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ
gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu
lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê
hương!
Anh Duy yêu dấu,
Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ
đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình,
của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa
mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em
còn nhớ đến cái giọng Sài gòn ngồ ngộ của anh nữa!
Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà “người ta”
đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi
anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em
đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười
lăm tuổi. Trong bài “Giòng Ðời” anh kể rằng em làm lẽ
một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm
vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu “bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!”
Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi
ngày. Ða số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải
phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em
là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi
như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ
nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một
điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về
xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi
Nam) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một
người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường “làm nghĩa vụ quốc tế”
như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh
rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn.
Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân
của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em
là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao
trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta
khỏi bị ngỡ ngàng.
Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả
xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận
tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!
Khi miền Nam được “giải phóng”, em nghĩ rằng đây là cơ hội em
có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta
mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất
mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy
vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen
lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không
phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với
Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi “học tập cải tạo”,
rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng.
Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là
tướng Việt cộng mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ
nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy
do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình?
Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?
Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô
cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân
trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng
mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ
yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những
lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại
xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có
bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù,
bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn
được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.
Ðúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá
thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không
may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của
anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc
đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa
vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút
nắng trong buổi chiều tàn, “Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!”
Ðời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những
dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây
giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sài
gòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của
người yêu ban đầu.
Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã
thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Ðêm đã xuống từ lâu. Cảnh vật yên lặng
như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì
rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao
giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe
sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất
rồi! Ðừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí
nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lúm đồng tiền và nụ cười răng
khểnh.
Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự
may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở
nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.
Thân ái,
Em gái anh, Nga
Tái bút: Ðể tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư
này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú
Lâm bằng đường bưu diện.
Em hy vọng rằng chú Lâm vẫn còn ở tại địa chỉ mà chú cho em trước đây.
Ðọc thư em, ước mong anh sẽ hài lòng khi thấu rõ tâm tình của em.
Không phải cô giáo Trần thị Lam ở Hà
Tĩnh là người đầu tiên viết “Bốn nghìn tuổi mà dân không chịu lớn” với
ẩn ý chê dân Việt Nam ngu thâm canh cố đế. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng
đã từng than: “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn”. Thi sĩ Tản Đà
trách thằng dân ngu là không đúng. Phải trách thằng trí thức ngu thì mới đúng!
Bởi vì thằng trí thức có ăn, có học mà không chịu dạy cho dân hiểu cộng sản,
lại còn đi theo cộng sản, mới là … đại ngu!
Bắt chước các cụ tiên đoán thời tiết
qua câu: “Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa”, tôi cũng đoán rằng nếu một
dân tộc có bốn ngàn năm không chịu lớn, thì cái dân tộc đó chắc chắn sẽ bị diệt
chủng. Vừa rồi tôi viết bài “Dân Việt Ngu Si và Hèn Hạ” thì đâu có gì
mới mẻ, so với Trần thị Lam hay thi sĩ Tản Đà, mà mấy thằng Việt Cộng chửi tôi
vong bản, hỗn láo với tổ tiên? Việt Cộng là tay sai Nga Tàu, nhưng mồm chúng
lúc nào cũng chửi Việt Nam Cộng Hòa là vọng ngoại, là Ngụy Quân, Ngụy Quyền. Vì
bản chất mất dạy của Việt Cộng phải là như thế! Chúng ta đang sống trong thời
đại của lũ hàng tôm hàng cá lên ngôi thì phải đành chịu thôi!
Nhà hiền triết Pascal nhận định: “Con
người chỉ là cây sậy, nhưng cây sậy có tư tưởng” (L’homme n’est qu’un
roseau, mais un roseau pensant). Chẳng biết mọi người nghĩ gì về thân phận của
dân tộc mình. Riêng tôi luôn thắc mắc tại sao dân tộc mình ra nông nỗi này. Mặc
dầu tự biết mình chỉ là cây sậy yếu ớt, nhưng tôi thấy được cái nguyên nhân:
Dân Việt đang bị đọa!
Tôi từng kể rằng khi bay những phi
vụ bao vùng trong đêm mà không có mục tiêu tác xạ, có thời giờ cô quạnh giữa
không gian (vì cả phi hành đoàn đều ngủ say), đầu óc tôi cứ miên man suy nghĩ
tại sao các nhà lãnh đạo không thấy nguy cơ Miền Nam rơi vào tay Việt Cộng?
Thậm chí, tôi còn tự hỏi chẳng lẽ Tổng thống Nguyễn văn Thiệu là hóa thân của
ông vua Chàm có nhiệm vụ báo thù cho dân tộc ông, như mấy cụ già kháo nhau?
Năm 2015, anh Lê Đào – cựu
học sinh Quốc học – đứng ra tổ chức cuộc hội ngộ lớp “55 – 58” từ các
nơi xa về Quận Cam dự. Mặc dầu không ai cần đến sự giúp đỡ, tôi tình nguyện làm
phận sự lái xe đưa rước các bạn từ bến xe Đò Hoàng về địa điểm hội tụ tại góc
đường Euclid @ McFadden. Sau khi các anh đến đầy đủ, tay bắt mặt mừng xong, một
người hỏi tôi:
– “Chúng tôi thường theo dõi những bài viết của
bạn. Theo bạn, chúng ta có hy vọng một ngày nào đó có thể trở về quê nhà?”.
– Còn gay go lắm, thưa các anh. Có lẽ món nợ
đối với dân tộc Chàm do tổ tiên chúng mình gây ra, trả chưa hết! Tôi đáp.
Ngay sau câu trả lời của tôi, anh
Hương An Võ văn Dật nói:
– Giáo sư Lê Tuyên có viết một bài về nước Việt
ta mất vào tay Chàm trong Tập san Đại Học Sư Phạm Huế của chúng tôi. Lúc nào về
lại San Jose, tôi sẽ gửi cho bạn cuốn Tập san đó.
Đúng như lời anh Dật hứa, tôi đã
nhận cuốn Tập san ba ngày sau, trong đó có bài viết của Giáo sư Lê Tuyên kể vị
Linh Mục tại Nhà thờ Santander tiết lộ rằng nước Việt Nam mình đã mất vào tay
người Chàm. Bài viết của giáo sư Lê Tuyên càng củng cố mối thắc mắc của tôi từ
hồi đánh nhau với quân thù trên chiến trường.
Xin bạn đọc đừng cho rằng tôi mê tín
dị đoan, tin nhảm. Tôi xin hỏi các bạn hãy giải thích thế nào về sự ngu si của
trí thức. Ngu si chứ không phải ngu dốt! Ngu si, nghĩa là vừa ngu vừa si. Một
khi đã rơi vào trạng thái “Si” như si tình hay nghiện thuốc phiện, thì không
cách gì gỡ ra được! Còn nếu ngu dốt thì ta có thể dạy để mở trí ra! Hãy cho
rằng năm 1945, trí thức đi theo Việt Minh vì tinh thần yêu nước, vì căm thù
Thực dân Pháp, vì khao khát giành độc lập và cộng sản chưa ló mòi. Nhưng sau
năm 1954, gần cả triệu người dân Bắc phải bỏ lại mồ mả tổ tiên, cha mẹ già, tài
sản của một đời tạo dựng, bồng bế nhau vào Nam tìm tự do, mà chưa đủ để cho
người trí thức mở mắt để giáo dục quần chúng là ngu chứ còn gì nữa? Tình báo
Hoa Kỳ đã lấy được tài liệu về trí thức dưới chế độ cộng sản ở Miền Bắc bị đày
đọa, bị trừng trị tàn nhẫn để trao cho Cụ Hoàng văn Chí hoàn thành cuốn “Trăm
Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” mà trí thức Miền Nam vẫn hoạt động cho Việt Cộng là
nghĩa làm sao? Ai có thể giải thích cho tôi hiểu vì sao nhà văn Nhất Linh,
người khai sinh Tự Lực Văn Đoàn, Lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng, Bộ trưởng
Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp của Hồ Chí Minh, rồi bỏ chức vì thấy bộ
mặt thật của Hồ Chí Minh, về Miền Nam sinh sống tự do, nhưng tại sao ông không
dùng uy tín của mình để giảng dạy cho những nhà trí thức khác hiểu Hồ Chí Minh
là một tên đại bịp? Tại sao ông lên Đà Lạt vào rừng kiếm hoa lan để hưởng nhàn,
trong khi đất nước đang đối diện hiểm họa cộng sản xâm lăng? Tại sao ông tham
gia cuộc đảo chánh của hai tên tay sai Thực dân Pháp Vương văn Đông và Trần
Đình Lan để làm cuộc đảo chánh năm 1960? Chẳng lẽ ông muốn Thực dân Pháp quay
lại đô hộ Việt Nam thêm nữa hay sao? Tại sao ông không thấy Ngài Quảng Đức bị
thiêu sống?
Tại sao trí thức không thấy Hoa Kỳ
đánh bại Nhật bản, rồi trợ giúp nước Nhật có nền kinh tế đứng vào hàng thứ hai
sau Mỹ và nhân dân Nhật được hưởng nền văn minh, tự do như thế giới Tây phương?
Đành rằng Hoa Kỳ dùng Miền Nam để làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng đỏ vì chủ
thuyết Domino, nhưng tại sao trí thức Việt Nam không biết lợi dụng cơ hội đó để
chống lại chủ nghĩa cộng sản? Tại sao trí thức không giảng dạy cho dân hiểu Hoa
Kỳ không phải là Đế quốc như Việt Cộng tuyên truyền? Nếu trí thức không thể trả
lời những câu hỏi vừa nêu, thì cô giáo Trần thị Lam bảo dân tộc ta không chịu
lớn, là không đúng à?
Tục ngữ có câu “Chưa thấy quan tài,
chưa đổ lệ!”. Sau 30 Tháng Tư, hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam bị đày
vào trại Tập trung, hàng triệu người liều chết ào ra biển đi tìm tự do, chưa
phải là cái quan tài vĩ đại nằm chình ình trước mắt đó sao? Đáng lý ra những
người từng lãnh đạo đất nước, những nhà trí thức phải ngồi lại với nhau để
thiết kế một chiến lược nhằm bảo vệ phòng tuyến cuối cùng tại Hải ngoại mới
phải. Trái lại các ông chỉ đua nhau viết Hồi ký để bào chữa cho mình và oán
trách Mỹ. Tôi từng nghe lời than vãn của một số ông tai to mặt lớn như sau: “Thằng
Mỹ nó đểu lắm!”. Nghe vậy, tôi chỉ im lặng, nhưng trong lòng xem thường các
ông, vì nhận thấy các ông không biết rằng chẳng Quốc gia nào phải có bổn phận
yêu thương dân tộc của quốc gia khác. Họ chẳng học được gì qua câu nói của Thủ
tướng Winston Churchill: “Không có bạn muôn đời và chẳng có kẻ thù truyền
kiếp”. Câu nói ấy là để dạy cho những nhà lãnh đạo Quốc gia phải thương
yêu dân mình, đừng bao giờ trông cậy vào nước khác. Hợp tác nhau là vì tương
quan lợi ích. Bằng cớ là Nga và Mỹ đồng minh với nhau để đánh Đức Quốc Xã,
nhưng khi chiến tranh chấm dứt là kẻ thù của nhau vì xung đột quyền lợi.
Thực tiễn đã cho mọi người Việt Nam
thấy rõ Hồ Chí Minh lập ra đảng cộng sản có mục đích tiêu diệt nòi giống Việt
Nam. Chẳng qua trí thức Việt Nam ngu, nên không thấy dã tâm của Hồ Chí Minh. Bố
tôi bị bác sĩ Lê Đình Thám dụ dỗ gia nhập đảng cộng sản. Bố tôi từ chối, vì
đảng cộng sản vô thần, chủ trương vô sản chuyên chính, tham gia làm sao được?
Chỉ giản dị vậy thôi! Đâu cần phải thông thái mới thấy? Bằng cấp đầy mình lại
đâm đầu theo Hồ Chí MInh là nghĩa làm sao? Vậy, cái ngu của tầng lớp trí thức
kéo theo cái ngu của cả một dân tộc, không đúng à?
Hồ Chí Minh không hề giấu diếm ý đồ
của nó. Trí thức là bộ óc của dân tộc để dẫn dắt quần chúng tiến tới nền văn
minh. Nhà cách mạng Phan Chu Trinh nhắc nhở sứ mệnh của người trí thức là “khai
dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” giống như công thức toán học. Hồ
Chí Minh đưa ra khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ” mà trí thức
cứ nhắm mắt đâm đầu vào thì không ngu là gì? Trong nước, khi Giáo sư
Nguyễn Huệ Chi tập hợp một nhóm trí thức lập trang mạng Bauxite để lên tiếng về
việc Bộ Chính trị cho phép Trung Cộng khai thác “bauxite” ở Tây nguyên, nhưng
lại treo tấm hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm biểu tượng (Icon). Tôi liền viết
thư khuyên ông nên lấy tấm hình ấy xuống, thay bằng tấm hình của Cụ Phan Chu
Trinh, thì mới đúng tiêu chí của trí thức. Võ Nguyên Giáp là tay sai Hồ Chí
Minh, người có tội với dân tộc Việt Nam vì theo lệnh Nga Tàu, xua quân xâm lăng
Miền Nam, làm chết hàng triệu thanh niên. Một thời gian sau, trang mạng
Bauxitevn đặt tấm hình Cụ Phan Chu Trinh lên cho đến nay vẫn còn treo. Giáo sư
Nguyễn Huệ Chi đang còn sống ở Hà Nội làm chứng cho lời đề nghị của tôi với
ông. Thử hỏi có nhà trí thức nào ở Hải ngoại quan tâm đến vai trò trí thức như
tôi?
Việt Cộng đã xâm chiếm toàn bộ lãnh
thổ Việt Nam. Nhưng chúng chưa dừng lại tại đó. Chúng cài cán bộ bám sát làn
sóng vượt biên, vượt biển đi tìm tự do để phá nát phòng tuyến cuối cùng của
người Quốc gia, giống như chúng đã làm vào năm 1954 theo chân đoàn di cư từ
Miền Bắc. Chiến lược, sách lược của Việt Cộng không hề thay đổi. Tôi đã chứng
minh tổ chức của anh Trần văn Bá ở Pháp và Mặt trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh
là do âm mưu của Việt Cộng dàn dựng. Nguyên tắc thành lập tổ chức của ông Hoàng
Cơ Minh hoàn toàn sai. Tôi đã nói thẳng với ông Minh rằng “anh làm kháng chiến
cái kiểu mì ăn liền như thế, trước sau gì anh cũng trở thành thảo khấu”. Xin
hỏi có vị Tướng lãnh nào, nhà trí thức nào lên tiếng can ngăn ông Hoàng Cơ
Minh? Tại sao? Quý vị sợ à? Hay quý vị không đủ trí tuệ để thấy Mặt trận Hoàng
Cơ Minh lừa bịp là giết chết niềm tin vào lý tưởng phục quốc? Niềm tin mất, thì
lấy đâu ra sức mạnh đấu tranh?
Người anh thúc bá của tôi, Đặng văn
Đệ, bạn thân với Đại tá Phạm văn Liễu từ hồi cùng học trường Quân sự Lục quân
Yên Bái do Đại Việt thành lập. Anh đưa tôi đến gặp Đại tá Liễu, đương kim Chủ
tịch Mặt Trận đặc trách Hải ngoại. Tôi giữ phận đàn em, yên lặng ngồi nghe ông
Liễu “thuyết pháp” về con đường cách mạng. Một lúc khá lâu, tôi cất tiếng hỏi:
“Anh nói xong chưa?” Ông gật đầu và hỏi tôi: “Chú thấy thế nào? Chú có muốn gia
nhập Mặt Trận không?”. Tôi đáp: “Anh là bạn thân của ông anh em, anh hãy coi em
như thằng em của anh, anh cho em được phép thực tình nói rất thật cảm nghĩ của
em”. Lý do tôi phải rào đón như vậy, vì ông Liễu là Đại tá từng chỉ huy Thủy
Quân Lục Chiến, còn tôi chỉ là Thiếu tá lái máy bay, thì sợ ông chê mình chẳng
biết gì về chiến thuật, chiến lược. Xong, tôi nói tiếp: “Không những anh từng
chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến, anh còn là Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Anh
phải biết dù mình đang ở Hoa Kỳ, nhưng gián điệp cộng sản luôn luôn theo dõi
hoạt động của những phần tử chống Cộng. Vậy tiên quyết của tổ chức đấu tranh
chống Việt Cộng bằng bạo lực là vấn đề bí mật và an ninh nội bộ. Chưa gì mà Mặt
Trận đã phát động quần chúng. Anh nên nhớ rằng quần chúng là lửa rơm, hăng hái
ủng hộ vì cảm tính, nhưng cũng chóng tàn vì không đủ kiên nhẫn để chờ đợi sự
thành công. Mặt Trận muốn giữ lửa thì phải phịa ra thành quả, tức là nói dối.
Anh là người rất hùng biện thu hút quần chúng ào ào đổ tiền yểm trợ. Bao nhiêu
tiền thu được, anh giao nạp cho Hoàng Cơ Định. Anh nên nhớ rằng kẻ nào cầm
tiền, kẻ đó có thực quyền. Anh chỉ là con rối mà anh không hay. Em bảo đảm rằng
Mặt Trận sẽ tan vỡ vào một ngày không xa, vì tranh chấp giữa thực quyền và hư
quyền. Anh thuộc loại hư quyền, anh em nhà Hoàng Cơ Minh có thực quyền, vì
Hoàng Cơ Định nắm giữ hầu bao, phát tiền cho cán bộ, trong khi anh chỉ có nước
bọt. Rừng không thể có hai chúa tể sơn lâm! Anh hữu dõng, nhưng vô mưu.”
Ông Đại tá nghe thằng em phi công,
một kẻ “ăn cơm dưới đất, làm việc trên trời”, phân tích bằng lý lẽ như thế làm
sao anh cãi. Nhưng vì tự ái, ông vỗ vai tôi trấn an: “Chú yên chí, anh em họ là
người tử tế, đều hy sinh vì đại cuộc, không thể nào có chuyện tranh chấp quyền
lực như chú lo!”. Tôi đáp gọn: “Anh hãy chờ xem!” Quả nhiên, Mặt Trận tan vỡ
sau đó. Một hôm, Đại tá Liễu đến nhà Nghị sĩ Nguyễn văn Chức, gọi tôi lại. Tôi
đến, lễ phép chào hai anh, không hề tỏ ra thái độ “I told you so” để chạm tự ái
hai người đàn anh. Tôi quen biết Luật sư Chức từ năm 1962, vì ông là anh rể của
người bạn thân của tôi. Khi biết anh Chức tham gia Mặt Trận một cách hăng say,
tôi đã nói với anh Chức hãy coi chừng. Nhưng anh không tin, mà còn giận tôi,
không thèm “giao du” với tôi nữa. Có lẽ Luật sư Chức đánh giá tôi là loại vũ
biền, lính tráng giống như Khố Xanh, Khố Đỏ thì chẳng biết gì? Cái quan niệm
khó lòng gột rửa của mấy người có bằng cấp thường coi rẻ nhận thức của bọn lính
tráng.
Đại tá Vũ Thượng Văn, Xứ Bộ trưởng
Xứ Bộ 109 của Mặt Trận HCM, đặc trách ba Tiểu bang Texas, Oklahoma, Arkansas,
cuối tuần nào cũng đi sinh hoạt cơ sở. Ông được anh em Không Quân xem như là
một nhà trí thức sáng giá, nên ông đã kết nạp nhiều anh em Không Quân. Ông cũng
tính kết nạp tôi, vì có thời kỳ ông là cấp chỉ huy của tôi tại Bộ Chỉ huy Hành
Quân Không Quân. Nhưng tôi đã nói với Đại tá Văn như những gì tôi đã nói với
Đại tá Phạm văn Liễu. Đại tá Vũ Thượng Văn có vẻ giận, vì không thuyết phục
được thằng đàn em. Trung tá Đàm Thượng Vũ, Chỉ huy trưởng Phi đoàn F-5 gia nhập
Mặt Trận vì tin theo Đại tá Vũ Thượng Văn.
Tôi thuật lại điều này là để chứng
minh với độc giả rằng những bậc đàn anh trí thức tầm cỡ như Trần Đức Thảo,
Nguyễn Mạnh Tường, Tạ Quang Bửu … hay cấp chỉ huy Quân sự như Đại tá Phạm văn
Liễu, Đại tá Vũ Thượng Văn dễ lôi kéo đàn em đi theo, vì cái danh và cái uy tín
của họ. Khi những con chim đầu đàn lao vào núi đá, thì đàn em cứ thế nhắm mắt
lao theo. Tôi không hề có ác cảm với giới trí thức. Trái lại, tôi rất kính
trọng họ, vì họ là bộ óc của dân tộc. Một khi bộ óc u tối vì bị quỷ ám thì thân
thể dù lực lưỡng đến mấy cũng trở nên vô dụng. Trong cuộc họp kết hợp Đại Việt
tại nhà anh Nguyễn Quang Vĩnh ở San José, trước mặt các đàn anh lãnh tụ, tôi
nói các anh không đủ lòng yêu nước để vượt qua sự đố kỵ, nên đã chia rẽ nhau.
Điều đó không có nghĩa rằng tôi hỗn hào, vô phép với bậc trưởng thượng. Tôi chỉ
nói lên Sự Thật! Dám nhìn nhận Sự Thật thì mới trông mong giải quyết vấn đề dân
tộc.
Giáo sư Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng
thường gửi lên Diễn đàn đường “link” các buổi nói chuyện của ông trên làn sóng
phát thanh với chủ đề “Vấn Đề Việt Nam”. Tôi thường xuyên mở nghe để học hỏi.
Nhưng có lẽ Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng là nhà chính trị, hơn là nhà cách mạng mà
ông đang là thủ lĩnh Đại Việt Cách Mạng. Nay tôi, với tư cách lính tráng, tôi
nói Sự Thật: “Không những dân Việt ngu, mà còn không biết nhục!” Khi đảm
trách Giai phẩm Lý Tưởng, tôi đã bàn với Ban Chấp hành của Hội, Ban Biên tập
của tờ báo rằng chúng ta phải đăng bài “Vàng Rơi Không Tiếc” của nhà văn Đào Vũ
Anh Hùng tố giác Mặt Trận Hoàng Cơ Minh lừa bịp. Anh Hùng đã gửi bài tới các
báo khắp nước Mỹ, nhưng không một tờ báo nào dám đăng. Tôi bảo rằng tờ Lý Tưởng
đã lấy câu “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè” làm tiêu chí, thì không
thể nào từ chối không đăng bài của anh Hùng. Tất cả thành viên đều đồng ý.
Nhưng khi tờ báo phát hành, người
của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh làm dữ. Bí thư Thành bộ Mặt Trận ở Houston là Đặng
Quốc Việt gửi văn thư đến Hội yêu cầu thu hồi tờ báo, dùng điện thoại hăm
dọa tinh thần anh Hội trưởng Trần văn Nghiêm và lục soát nhà riêng của anh Phạm
Đăng Cường. Anh Hội trưởng đã khóc trong cuộc họp để lấy quyết định nên hay
không nên thu hồi tờ báo theo sự đòi hỏi của Mặt Trận. Tôi nói: “Ở xứ sở tự do,
sinh hoạt dân chủ là đối thoại. Tại sao Mặt Trận không trả lời thắc mắc của anh
Đào Vũ Anh Hùng, mà lại hăm dọa là nghĩa làm sao? Nếu các bạn đồng ý thu hồi tờ
báo, đồng bào sẽ khinh Không Quân hèn, các anh tính sao?” Rút cục, anh em
chấp nhận ý kiến của tôi. Tôi quá đỗi tiếc thương Phạm Đăng Cường – một người
bạn yêu Giai phẩm Lý Tưởng hết mình – uất ức vì bị chụp mũ cộng sản mà quyên
sinh! Tôi tự ý xuất bản tờ Thần Phong để hài tội sự côn đồ của Mặt Trận Hoàng
Cơ Minh.
Đặng viết Nghị có bí danh Đặng Quốc
Việt – Thành bộ trưởng Mặt Trận HCM – chỉ là một anh Trung úy
quèn bên Hải Quân, thế mà những ông “phi công danh tiếng muôn đời” từng chinh
Nam phạt Bắc lại co vòi vì một sự hăm dọa của đám giặc cỏ, thì ai có thể tưởng
tượng nổi? Tôi khá khen các chiến sĩ Không Quân cho tới nay mỗi lần họp nhau
đều hát bài Không Quân Hành Khúc một cách hùng hồn! Ít nhất bản thân tôi đã
sống với tiêu chí “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè”, thì ai nói gì mặc ai, tôi
không thẹn với vong hồn của phi công Phạm Đăng Cường!
Ở Thành phố Houston, Tiểu bang Texas
có các Hội đoàn Quân đội như Hải Quân, Gia đình Mũ Đỏ, Thủy Quân Lục Chiến v…v…
Nhưng có lẽ các Hội chỉ là Ái Hữu, nên chẳng quan tâm đến sự trịch thượng của
Mặt Trận đối với đoàn thể bạn? Qua đó, tôi hiểu được vì sao các tờ báo, đài
phát thanh dửng dưng trước cái chết của ký giả Đạm Phong bị quân khủng bố giết
một cách dã man. Không một tờ báo nào đăng một phân ưu chia buồn với gia đình
ký giả Đạm Phong để bày tỏ lòng lân tuất. Về cái chết của nhà báo Lê Triết và
vợ, tờ báo Washington Post phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích nghĩ gì về cái
chết thương tâm đó. Nhà văn hóa Nguyễn Ngọc Bích trả lời một cách lạnh lùng:
“Lê Triết là nhà báo thuộc loại ruồi nhặng (gadfly), nên ai cũng ghét”. Đó là
câu trả lời của người làm văn hóa trước cái chết thương tâm của một ký giả!
Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh và Trung
tá Không Quân Trần Tam Tiệp (bút hiệu Đạo Cù) đã tranh đấu hết mình để giữ Văn
Bút Việt Nam thành lập từ hồi Việt Nam Cộng Hòa cho Người Việt Tị Nạn, mà Việt
Cộng không giành được. Ít ai thấy nỗ lực của hai nhà văn trên mặt trận Văn Hóa.
Chừng 10 năm sau (không nhớ rõ), cuộc tranh chấp trong nội bộ xảy ra. Văn Bút
Quốc tế phải ra tay can thiệp thì hai phe mới giảng hòa được với nhau. Chẳng
hay các chiến sĩ văn hóa có cảm thấy nhục hay không? Lợi dụng sự chia rẽ của
Văn Bút, Việt Cộng cho ra đời Nhóm Giao Điểm, Hợp Lưu, Về Nguồn mà chẳng có nhà
văn nào bận tâm.
Nguyễn Gia Kiểng chủ trương “Hòa
Giải, Hòa Hợp Dân Tộc”, viết “Tổ Quốc An Năn” chửi anh hùng Nguyễn Huệ, đánh
giá Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ là con cháu cô Tư
Hồng (me Tây), nhưng vẫn được những người có chức, có danh một thời viết lời ca
tụng lên tận mấy xanh, mà không biết nhục. Sau này, ông Nguyễn Gia Thưởng tố
cáo Nguyễn Gia Kiểng đạo văn với bằng chứng rõ ràng. Không thấy người “trí
thức” nào từng đặt bút viết lời ca tụng trên sách “Tổ Quốc Ăn Năn” yêu cầu
Nguyễn Gia Kiểng phải trả lời sự tố giác của ông Nguyễn Gia Thưởng, tôi mới
viết “Email” yêu cầu Nguyễn Gia Kiểng minh xác. Nguyễn Gia Kiểng trả lời một
câu hết sức vô nghĩa: “Nguyễn Gia Thưởng chỉ là nhân viên làm việc cho tôi
trước đây”. Tư cách nhà tranh đấu như thế, làm sao tôi không đánh giá thấp
thành phần trí thức?
Chẳng cần phải là nhà tiên tri để
trả lời câu hỏi “Đất Nước minh rồi sẽ ra sao?” của cô giáo Trần thị Lam, tôi
cũng có thể khẳng định rằng dân tộc Việt Nam rồi sẽ không còn! Ai cũng thấy rõ
Việt Cộng chủ trương súc vật hóa dân tộc mình qua quyết định “cởi trói văn nghệ
sĩ” của Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh. Ở Hải ngoại, bọn làm Kháng Chiến Bịp làm
tay sai Việt Cộng vẫn ngang nhiên sinh hoạt trong Cộng Đồng, lãnh đạo Tập thể
Chiến sĩ thì nịnh bợ một anh tỷ phú mạt sát Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ
trơ mắt ngó, đám trẻ mệnh danh “hậu duệ” tỏ ra khinh bỉ bậc cha anh đứng đắn
khuyên nên xét lại công trình “Xây Tượng Đài”.
Mới đây Văn Bút lại xảy ra vụ lùm
xùm. Ông cựu Chủ tịch Văn Bút bị đặt cho cái ngoại danh “Dê Thành Lợn”, dù tôi
không phải là nhà văn, mà cũng cảm thấy nhục cho nòi giống.
Trên phương diện Quân sự, Không Quân
luôn luôn là lực lượng tiên phong để dọn bãi đáp cho lực lượng bạn nhảy vào
chiến trường. Ngày nay Không Quân có ông Thiếu tá Nguyễn Kim Huờn cam kết sẽ
chia tay băng đảng Kháng Chiến lừa đảo, rồi trốn biệt tăm ; có ông Trung tá
Nguyễn văn Ức cười nói nham nhở với anh tỷ phú chửi VNCH; có một Hội gồm nhiều
anh hùng chinh Nam phạt Bắc, mà chỉ bị một anh Trung úy quèn hăm dọa thì lập
tức co vòi, trốn xuống hầm.
Trên phương diện Văn Hóa, Hội Văn
Bút trở thành “Hội Văng Bút”.
Tại sao một nòi giống có lịch sử oai
hùng trong quá khứ, mà ngày nay lại trở nên tồi bại như thế? Tôi viết bài “Dân Việt Ngu Si và Hèn Hạ” với ước
mong trong cõi dân gian có được những người nổi CƠN GIẬN CHÍNH KHÍ” như Hai Bà Trưng, như Trần Bình Trọng để cứu
vãn thanh danh nòi giống Việt. Đối với cái bọn “dẫn nhiều hơn đi” chửi bới thô
tục, độc địa như chị đàn bà mất gà thì làm sao cứu nước đây? Chẳng lẽ tới đây
là “Chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm” hay sao? Dưới sự áp bức ghê gớm của
Việt Cộng còn có Trần Huỳnh Duy Thức, cô giáo Trần thị Lam, doanh gia Hân Phan.
Tại sao ở Hải ngoại được tự do, lại không thấy nhân vật trí thức nào nổi lên
chống lại bọn lừa đảo, bịp bợm vậy?
Hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo nếu
tôi chưa nghe được LỜI CHÍNH KHÍ!