Search This Blog

Saturday, March 21, 2020


CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN SẮP DIỆT VONG
BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Chủ nghĩa cộng sản sắp diệt vong. Tôi khẳng định như thế và tôi xin tuần tự chứng minh.
Từ lâu tôi đã viết một cách công khai rằng chủ nghĩa cộng sản rồi đây sẽ diệt vong. Dù không phải là nhà tiên tri, nhưng tôi căn cứ trên quy luật: “Thuận thiên khả tồn, nghịch thiên khả vong”. Lúc bấy giờ, tôi không biết chừng nào thì chủ nghĩa cộng sản sẽ tiêu vong. Nhưng bây giờ có những hiện tượng trước mắt khiến cho tôi vững tin hơn về sự suy luận của mình.
Chủ nghĩa cộng sản là một tôn giáo của ngạ quỷ súc sinh. Chúng chống lại Thiên Nhiên (The Nature) hay Tạo Hóa (The Creator), tức là Đấng Sáng Tạo dựng lên vũ trụ và muôn loài. Chủ nghĩa nào chống lại Đấng Sáng tạo tất nhiên nó phải gặp phản lực hủy diệt!
Con Người là sinh vật thượng đẳng, được Tạo Hóa ban cho hai đặc ân: Tiếng nói và trí tuệ. Nhờ tiếng nói và trí tuệ, Con Người thăng tiến từ thời đại ăn lông ở lỗ cho đến nền văn minh ngày nay. Ngược lại, cộng sản tiêu diệt khả năng ngôn ngữ (có mồm không được quyền nói lời chính đáng) và trí tuệ (có óc không được quyền nghĩ đến đạo đức). Cộng sản dùng lời ngon ngọt tuyên dương những lý tưởng cao cả để mê hoặc hàng ngũ trí thức thông thái, nhưng ngây thơ, nhẹ dạ đi theo, khiến cho quần chúng ít học cứ thế nhắm mắt hùa theo như đàn cửu. Cộng sản không bao giờ thể hiện những gì chúng đã cam kết khi có quyền lực trong tay.
Rút kinh nghiệm của một nạn nhân cộng sản, bị mất nước về tay cộng sản, tôi có thể dẫn chứng vô số nhà trí thức danh tiếng trên thế giới, được nhân dân kính trọng, đã hăng say tôn thờ những con Ác Quỷ như Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành ... mặc dù cha mẹ, anh em, dòng họ của họ bị giết chết dưới bàn tay của bọn sát nhân.
Joseph Stalin tuyên bố: “Cái chết của một người là nỗi bất hạnh. Cái chết của một triệu người chỉ là con số thống kê”. Tức là giết hàng triệu người chẳng tội tình gì cả!
Mao Trạch Đông thách thức: “Nếu đánh nhau với Mỹ bằng bom nguyên tử, dù nước Tàu bị diệt một nửa tổng số nhân mạng, dân số nước Tàu vẫn còn đông hơn Mỹ”.
Nhà văn Xuân Vũ sau khi tỉnh ngộ, viết cuốn “Mạng Người Lá Rụng” để nói với loài người rằng đối với cộng sản, mạng người không bằng chiếc lá vàng rụng xuống đất.
Hoàng đế nước Pháp – Napoléon Bonarpate – được Thiên Chúa mặc khải, báo cho nhân loại về hiểm họa của nước Tàu: China is a sleeping lion. Let her sleep, for when she wakes she will shake the world.”  Ngày 28 tháng 3 năm 2014, Tập Cận Bình trấn an thế giới đừng sợ hãi vì lời tuyên bố của Hoàng đế Napoléon Bonarparte và đừng tin vào cuốn sách “Death By China” của ông Peter Navarro. Barack Obama tin Tập Cận Bình hơn ông Navarro, vì Obama vốn thần phục chủ nghĩa cộng sản, nên bị Tàu ngạo mạn đối xử, mà đành chui cửa sau phi cơ đi xuống.
Khi còn nhỏ, tôi đã nghe người lớn nói đến Họa Da Vàng (Péril Jaune = Yellow Peril) và Đạo Quân Thứ năm (Cinqième Colonne = Fifth Column), tức là dân Tàu “nằm vùng” khắp thế giới.
Năm 1950, trong cuộc đẩy lui chí nguyện quân Trung Cộng giúp Bắc Triều tiên xâm lăng Nam Triều tiên, tướng Douglas MacAthur đã đề nghị với Tổng thống Harry Truman dùng bom nguyên tử chiến thuật đánh tan Quân Giải phóng của Mao Trạch Đông và đưa Tưởng Giới Thạch từ Đài Loan trở về lục địa. Có lẽ Tướng McAthur, một tướng lãnh tài ba, nhớ đến lời cảnh báo của Hoàng đế Napoléon nên mới đề nghị Tổng thống Truman ra tay để trừ hậu họa. Tiếc thay! Tổng thống Truman không đồng ý. Cho nên, dân Việt Nam ta phải hứng chịu âm mưu thôn tính thế giới của Trung Cộng qua con đường Việt Nam.
Rút kinh nghiệm của bao đời vua nước Tàu xâm lăng Việt Nam đều bị người Việt vùng lên đánh bại, Mao Trạch Đông phải dùng một người Tàu giả dạng đóng vai nhà cách mạng Việt Nam mang bí danh Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc giải phóng giành độc lập để có chính nghĩa. Người Tàu đó là Thiếu tá Hồ Quang phục vụ trong Đệ Bát Lộ Quân, mà chính báo chí của đảng cộng sản Trung Hoa đã tiết lộ.
Tôi tin Hồ Chí Minh đích thực là người Tàu qua các sự kiện sau đây:
1/ Khi Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Nước, sống tại Bắc Bộ phủ, chị của hắn là bà Nguyễn thị Thanh  từ Nghệ An ra Hà Nội thăm em, thì Hồ Chí Minh từ chối, không tiếp, vì sợ bà Thanh nhận ra mình chẳng phải em ruột của bà.
2/ Khi về Nghệ An thăm dân, Hồ Chí Minh không vào nhà thờ Họ Nguyễn để chiêm bái tổ tiên.
3/ Chắc chắn Bộ Chính trị biết Hồ Chí Minh là người Tàu, nên chúng không dám dùng thử nghiệm DNA để phản bác sự tiết lộ Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang được Mao Trạch Đông phái sang lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Lo sợ cộng sản bành trướng, Hoa Kỳ nhảy vào Miền Nam, biến Miền Nam thành tiền đồn ngăn chặn làn sóng Đỏ. Sự sai lầm của Hoa Kỳ là chỉ giúp Miền Nam phòng thủ, ắt bị mệt mỏi với chủ trương trường kỳ kháng chiến của Việt Cộng. Tiếc rằng lúc bấy giờ Hoa Kỳ không có một danh tướng uy tín lẫy lừng như Tướng McAthur dám xua quân ra Bắc tiêu diệt cộng sản hoặc cảnh cáo sẽ đánh tan con đê sông Hồng Hà trong mùa nước lớn, nếu quân xâm lược Việt Cộng không rút quân về Miền Bắc.
Vì áp lực chính trị trong cuộc chiến dai dẳng, nhân dân Hoa Kỳ mất kiên nhẫn, lại bị bọn cộng sản nằm vùng mượn cớ chống chiến tranh, nên Tổng thống Richard Nixon phải nghe theo lời đề nghị của Cố vấn Henry Kissinger bằng cách thương thuyết với Trung Cộng. Lúc bấy giờ có một số chính khách Hoa Kỳ phản đối việc “bắt tay” Trung Cộng, nhưng Kissinger đưa ra lập luận: “Thay vì đánh nhau với cộng sản bằng vũ lực, nay Hoa Kỳ dùng quyền lực mềm (soft power) bằng cách tạo cho nước Tàu nghèo đói thành một tầng lớp trung lưu, thì Mao Trạch Đông không thể lợi dụng giai cấp khố rách áo ôm làm cuộc cách mạng thế giới. Một khi Mao Trạch Đông chấp nhận tham gia kinh tế thị trường, cạnh tranh theo luật pháp quốc tế, thì những nhà sản xuất Hoa Kỳ tha hồ hốt bạc vì có sự tiêu thụ hơn một tỉ dân”.
Mới nghe qua, lập luận của Henry Kissinger rất thuyết phục, nhưng ông Tiến sĩ khoa Sử nầy không hiểu căn tính của bọn lãnh tụ Tàu luôn ôm ấp tham vọng bành trướng được kết hợp với chủ nghĩa cộng sản luôn luôn hành động theo phương châm “Cứu cánh biện minh phương tiện” (The Ends justify the Means) để đạt mục đích bằng mọi cách dù tồi bại đến thế nào. Tổng thống Nixon và Kissinger từng được biết tới là những chính trị gia lão luyện, nhưng hai ông đã quên rằng cộng sản không bao giờ giữ lời cam kết với những hiệp ước quốc tế.
Bản chất người Tàu là gian thương, “phi thương bất phú, vi phú bất nhân” (không buôn bán thì không giàu, mà đã lo làm giàu thì phải bất lương) là phương châm sống của người Tàu. Nếu ai đã từng đọc những bài tham luận của Trung tướng Lưu Á Châu (một cán bộ tuyên huấn cao cấp của Trung Cộng) thì sẽ hiểu rõ căn tính nòi giống của người Tàu; chứ không phải vì hận người Tàu xâm lăng Việt Nam mà tôi trở nên là kẻ kỳ thị chủng tộc. Tướng Lưu Á Châu viết rằng nước Tàu không có triết gia như Tây phương, không đóng góp tư tưởng hướng thượng cho nhân loại. Khổng Tử, Lão Tử không đáng được gọi là triết gia. Nước Tàu chỉ có mưu mẹo để hạ đối thủ, nên một nhân vật không biết dùng người như Khổng Minh lại được tôn thờ.
Với căn tính lươn lẹo (crooked) cố hữu của người Tàu, kết hợp với chủ nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa đồi bại nhất nhân loại, sẽ khiến cho bọn lãnh đạo Trung Cộng không thể là người tử tế được. Một dân tộc như thế mà làm bá chủ toàn cầu, chắc chắn sẽ là đại họa cho nhân loại!
Cùng là người Tàu, nhưng người Tàu Đài Loan, người Tàu Singapore, người Tàu Hongkong khác hẳn nhân cách người Tàu Trung Cộng là một bằng chứng quá rõ ràng.
Tôi là một Phật tử, nhưng tôi tin ông Donald J. Trump đích thực là con Thiên Chúa. Là một doanh nhân trong ngành xây dựng, chưa từng kinh qua chính trường, nhưng ông đã từ bỏ cuộc sống vương giả của một nhà tỷ phú, tình nguyện dấn thân vào chính trị để lãnh đạo nước Mỹ nhằm chống lại tham vọng bành trướng của Trung Cộng. Ông Trump đắc cử Tổng thống trước một đối thủ được bọn trí thức thiên tả, một tập đoàn truyền thông thiên vị một cách bất lương, một băng đảng “Nhà Nước ngầm” (deep states) dùng mọi thủ đoạn tệ hại hơn cả vụ Watergate”, thì đó là một phép lạ. Chúa dạy: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Sự kiện ông Donald J. Trump đắc cử cho tôi thấy rõ quyền năng của Thiên Chúa. Vì vậy, tôi tin Chúa hơn cả người có đạo dòng!
Hoa kỳ là quốc gia được dựng lên bởi những nhà lãnh đạo có Đức Tin Thiên Chúa. Hiến Pháp của họ dựa trên Kinh Thánh để viết ra và họ tin tưởng miền đất này là Đất Hứa (Promised Land) mà đa số người dân đã thành tâm tụng niệm “In God We Trust”. Mở đầu Hiến Pháp, họ ghi rõ: “We The People … ” để xác minh rằng toàn dân bình đẳng trước nhan Thiên Chúa.
Nhờ có Đức Tin, Hoa Kỳ là quốc gia tân lập mà trong khoảng thời gian chưa tới 200 năm, Hoa Kỳ đã trở thành cường quốc số # 1 trên thế giới và cứu thế giới khỏi nạn độc tài, phát-xít, quân phiệt Đức Ý Nhật cùng với chiến công đẩy lui quân xâm lăng Trung Cộng vào nước Triều Tiên. Nhân dân Nhật bị Hoa Kỳ đánh bại, thế mà họ tôn vinh Thống tướng McAthur là người anh hùng của con cháu Thái Dương Thần Nữ đã phục hưng đất nước của họ tiến lên hàng thứ hai về kinh tế thế giới. Ngoài ra, Hoa Kỳ thường dốc toàn lực đi cứu trợ thiên tai xảy ra trên thế giới. Lòng hảo tâm của Hoa Kỳ xứng đáng được Thiên Chúa cứu rỗi.
Chắc độc giả còn nhớ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từng có lệnh tống xuất người Hoa ra khỏi Miền Nam và cấm người Hoa làm 7 nghề, vì Ngài rất biết hiểm họa của người Tàu. Hiểm họa đó là gì? Đó là kỹ thuật hối lộ siêu đẳng để mua chuộc quan chức tham nhũng làm phương hại nền dân chủ. Xin kể một câu chuyện của người Tàu làm thí dụ:
Bao Công là vị quan xử án rất thanh liêm. Không bao giờ ăn của đút lót bất cứ ai. Một hôm, có người đàn bà bưng đến một mâm chim mía nướng rất thơm và nói với bà Bao Công:
   Con biết quan lớn thích món chim mía nướng. Con xin mang đến để quan lớn đi làm về có món ngon mà xơi với Mai Quế Lộ.
Bà Bao Công đón nhận mâm chim mía, người đàn bà nhỏ nhẹ thưa tiếp:  
   Thưa phu nhân quan lớn, chồng con bị xử án tù. Kính mong bà trình với quan lớn châm chước cho tội trạng của chồng con.
Khi quan Bao Công ở tòa về, đang đói bụng, bỗng thấy mâm chim mía đặt trên bàn, ông liền ngồi vào bàn, cầm lên một con để nhấm với ly rượu. Sau khi chén đả đời, ông quan thanh liêm hỏi bà, ai làm chim mía mà ngon thế. Bà đem câu chuyện người đàn bà đến biếu và xin quan châm chước cho tội trạng của chồng. Vì trót ăn của đút lót, Bao Công đành phải nhẹ tay đối với kẻ phạm tội!
Theo dõi tình hình chính trị Mỹ trong thời gian qua, tôi bảo đảm rằng chính khách, trí thức, truyền thông của Mỹ đều bị Trung Cộng mua chuộc. Bởi vì lòng tham không đáy của con người kinh khủng lắm! Nó có thể làm mờ lương tri con người để trở thành kẻ phản quốc một cách dễ dàng. Nếu bà Hillary Clinton đắc cử Tổng thống, chắc chắn bộ máy cầm quyền của Mỹ sẽ hoạt động theo yêu sách của Trung Cộng.
Có lẽ độc giả sẽ hỏi tôi căn cứ vào đâu mà dám khẳng định như trên? Xin thưa, đảng Dân Chủ dựng đứng chuyện Tổng thống Trump thông đồng với Nga là do Trung Cộng âm mưu ly gián giữa Nga và Mỹ để cho Nga và Mỹ không thể kết hợp với nhau chống lại tham vọng bá chủ hoàn cầu của chúng. Giữa Mỹ và Tàu, Nga muốn Mỹ là cường quốc số #1 hơn là Trung Cộng, bởi vì vào thời Nga và Tàu đều thờ Karl Marx, Nga và Tàu từng dàn quân ra hai bên bờ Hắc Long Giang, lằn ranh biên giới giữa Nga – Tàu để thanh toán nhau. Nếu Trung Cộng làm bá chủ thế giới, nước Nga sẽ bị “Họa Da Vàng” trước hết. Nếu đảng Dân Chủ không ăn hối lộ của Tàu, thì tại sao họ liên tục tìm cách lật đổ một vị Tổng thống hết lòng vì dân, vì nước?
Ta có thể nói đảng Dân Chủ là đảng của tội ác vì họ đòi hỏi chính quyền mở cửa biên giới (dù trộm cướp, bọn buôn người hay bọn buôn lậu ma túy vẫn được xâm nhập thoải mái), cung cấp nhà cửa, thực phẩm, y tế miễn phí, quyền bầu cử. Ngoài ra đảng Dân Chủ còn đòi hỏi hủy bỏ tổ chức ICE (Immigration and Customs Enforcement) và Liên bang phải tài trợ cho thành phố an toàn (Sanctuary cities) để nuôi đám di dân bất hợp pháp.
Nhờ Tổng thống Donald Trump có biện pháp quân bình lợi nhuận mậu dịch, thì mỗi năm Hoa Kỳ mới tránh thâm thủng với Trung Cộng 500 tỉ đô la và với Âu Châu lẫn Nhật, Đại Hàn 500 tỉ đô.
Nhờ Tổng thống Donald Trump giảm thuế để kéo các đại công ty Mỹ trở về chính quốc, thì nạn thất nghiệp và nạn người hưởng “welfare” giảm một cách đáng kể.
Nhờ Tổng thống gia tăng ngân sách Quốc phòng, Quân đội có sức mạnh vô địch, khiến cho Trung Cộng không dám nghênh ngang ở Biển Đông và Iran không dám uy hiếp các nước Trung Đông.
Tại sao bọn truyền thông đốn mạt của tả phái không nhìn thấy những thành tích của Tổng thống Donald Trump mang lại an ninh, thịnh vượng cho đất nước của chúng? Tại vì chúng trót “đớp” tiền của Trung Cộng, nên chúng đành phải cam phận làm “chó nghiệp vụ” chuyên ăn bẩn. Bất cứ Tổng thống Trump làm điều gì dù cho lợi ích nước Mỹ, bọn Dân Chủ và truyền thông thổ tả đều công kích một cách hết sức ngu xuẩn và độc ác.
Thật tình tôi không hiểu tại sao vị chủ chăn Công Giáo Đức Giáo hoàng Francis lại có thể chấp nhận Công Giáo Quốc Doanh của Trung Cộng và phủ nhận Giáo hội Underground, là Giáo hội quyết giữ Đức Tin dưới sự bách hại của Trung Cộng. Tôi cũng không hiểu tại sao Giáo hoàng Francis chống lại việc Xây tường Biên giới của Tổng thống Trump và cổ súy xây cầu. Nay trong nạn dịch Vũ Hán, chẳng hiểu Ngài Francis có còn đòi xây cầu nữa không?
Khi vụ Vũ Hán xảy ra, tôi liền viết ngay bài “Giờ Phán Xét Đã Điểm” vì tôi tin đó là sự cảnh báo của Thượng Đế cho loài người thức tỉnh trước mối họa Cộng Sản Tàu. Cái ác của Trung Cộng đối với tín đồ Pháp Luân Công, tín đồ các tôn giáo đã động tới long Trời. Trung Cộng tự ý đoạt quyền tấn phong vị Đạt Lai Lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng thì đời nào Đức Phật tha thứ, dù Ngài từ bi đến cỡ nào? Mặc dầu các tổ chức nhân quyền trên thế giới lên tiếng về hành vi giết người một cách man rợ của Trung Cộng, nhưng các quốc gia ham lợi đã im lặng là vì trót họ bị Trung Cộng tọng tiền vào họng. Ngay cả Tổ chức Sức Khỏe Thế giới (W.H.O.) cũng đã bị Trung Cộng hối lộ đến nỗi không dám tuyên bố ngay Nạn Đại Dịch (Panrademic).
Tại sao tôi dám quả quyết cái vụ vi khuẩn Vũ Hán là khí giới sinh học của Trung Cộng? Tại vì tôi chợt nhớ đến đoạn video clip ông Bill Gate báo động về vũ khi sinh học. Tuy ông Bill Gate không nói kẻ sử dụng vũ khí sinh học là ai, nhưng tôi liền nghĩ ngay đến Trung Cộng, bởi vì cộng sản không hề từ chối giết người bằng bất cứ phương tiện nào. Đây là hai lý do:
1/ Bác sĩ họ Lý ở Vũ Hán lên tiếng vụ cúm viêm phổi là do vi khuẩn gây ra, liền bị cơ quan An ninh Vũ Hán bỏ tù vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Nếu không phải là vũ khí bí mật thì hà cớ gì Trung Cộng buộc người khám phá ra vi khuẩn phạm vào cái tội tiết lộ bí mật quốc gia?
2/ Tại sao Trung Cộng khước từ đề nghị của Hoa Kỳ gửi phái đoàn chuyên viên y tế sang Vũ Hán điều tra nguyên nhân vi khuẩn phát xuất từ đâu? Nếu không sợ Hoa Kỳ khám ra vi khuẩn là âm mưu chế tạo vũ khí sinh học, thì việc gì Trung Cộng từ chối đề nghị của Hoa Kỳ? Chắc chắn Trung Cộng có làm điều khuất tất, mới từ chối thiện chí giúp đỡ của Mỹ, phải không?
Hiện nay, Tập Cận Bình không những ra lệnh bộ máy tuyên truyền Trung Cộng lặp đi lặp lại rằng con Virus gây nên dịch cúm là do quân đội Hoa Kỳ mang tới Vũ Hán; hắn còn bỏ ra rất nhiều tiền để mua đám truyền thông thổ tả của Phương Tây phụ họa theo luận điệu của hắn.
Trong vụ Đại Dịch, Âu Châu và Hoa Kỳ mới khám phá các công ty dược phẩm phát minh ra thuốc chữa bệnh, rồi đưa công thức cho Trung Cộng bào chế, sản xuất với giá rẻ để bán kiếm lời to. Nay các nước cần thuốc, yêu cầu Trung Cộng gửi sang thì Trung Cộng từ chối.Tôi nghĩ rằng đó là hình thức tuyên chiến của Trung Cộng với các quốc gia phát minh thuốc. Các quốc gia tự do bắt đầu tỉnh ngộ, tuyên bố sẽ không bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp của Trung Cộng.  
Tôi xin ghi xuống đường link dưới đây để quý độc giả thấy được cái ác của cộng sản Tàu.
Thưa quý bạn đọc,
Chẳng phải là người có óc mê tín dị đoan, nhưng tôi tin có thế giới siêu hình. Vì vậy mới có chuyện Đức Mẹ hiện ra ở Fatima báo trước cho ba em bé người Bồ Đào Nha rằng nước Nga sẽ trở lại đạo. Mới đây, Tổng thống Putin xác nhận công khai nước Nga là dân tộc thờ kính Thiên Chúa.
Nước Ý kết nghĩa anh em với nhiều thành phố của Trung Cộng, gắn bó với chủ trương “Một vòng đai, một con đường, thì bị họa Virus Vũ Hán nặng nề nhất ở Âu Châu. Nước Iran bảo trợ các bọn khủng bố giết tín đồ Christian, cấu kết làm ăn với Trung Cộng cũng bị nạn Virus Vũ Hán nặng nề hơn tất cả quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông. Chẳng hiểu Giáo hoàng Francis có dành ra một phút để đọc bức thư của Hồng Y Zen ở Hồng Kông để cứu xét lại việc nhìn nhận Giáo hội Quốc doanh của Trung Cộng?
Rồi đây thế giới sẽ điều tra ra thủ đoạn gây ra Đại nạn Virus Vũ Hán là Trung Cộng, tôi tin chắc thế giới sẽ đoàn kết nhau để có biện pháp với Trung Cộng, vì sự tồn tại của nhân loại. Trong quá khứ, dưới triều đại Nhà Thanh, nước Tàu đã từng bị các quốc gia Phương Tây xé nhỏ. Lịch sử sẽ tái diễn để Trung Hoa không còn nuôi mộng thống trị thế giới. Lúc đó chủ nghĩa cộng sản bắt buộc phải bị cáo chung. Nếu Trung Cộng cương quyết dùng thủ đoạn tàn ác để tiếp tục giấc mộng bành trướng, chắc chắn Trung Cộng sẽ lãnh sự trừng phạt ghê gớm hơn. Chẳng hạn, một trận động đất làm vỡ đập Tam Hiệp. Làm sao biết trước được sự cuồng nộ của Tạo Hóa?
Cộng sản Việt Nam là loài ký sinh trùng, sống bám vào Trung Cộng. Một khi chế độ cộng sản ở Trung Hoa lục địa tiêu vong, dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông giành lại độc lập, chế độ dân chủ văn minh của Đài Loan sẽ thay thế thì chế độ cộng sản Việt Nam cũng sẽ tiêu vong theo. Nhờ vậy, đạo đức của dân tộc Việt Nam sẽ được phục hồi, nạn phân hóa, chia rẽ sẽ không còn, đồng thời bọn “dư luận viên” sẽ biến mất vì chẳng còn được ai nuôi dưỡng.
Chưa bao giờ tôi cảm thấy niềm hy vọng tươi sáng để trở về Quê Mẹ bằng lúc này, nếu Ơn Trên cho sống sót sau cuộc Đại Dịch này.
Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 21 tháng 3 năm 2020
Địa chỉ email: bangphongdva033@gmail.com
Telephone: 714 – 276 – 5600
  




Thursday, February 27, 2020


THM HA DIT CHNG VÀ QU BÁO ?

Ở Việt Nam, thảm họa mất nước đã đến, thảm họa diệt chủng đang đến nhưng nhiều người chưa nhận ra.
 Những thủ đoạn hủy diệt đã và đang diễn ra tại Việt Nam
 1.   Hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng, đất nhiều nơi đã bị lún sâu, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như thả hóa chất độc, ốc bươu vàng, … nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
2.   Đổ chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt, ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ !
 3.   Hủy diệt các sông trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bâu xit, thương lái Tàu bày trò mua chanh leo giá cao đểdân phá cà phê, hồ tiêu; mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… sau đó không mua nữa vì đã phá xong.
4.   Xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hông và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái châu thổ sông Hồng.
5.   Xây dưng rất nhiều nhà máy nhiệt điên, xi măng, sắt thép và hóa chất… để đầu đôc khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ởViệt Nam dùng thiết bị của Tàu, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg … đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần  hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi… và hàng ngàn km bờ biển.
6.  Tung thực phẩm và thuốc men độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Tàu mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ còn có thể tiêu thụ thực phẩm độc hại, chết dần vì bệnh tật. Hiện nay số người mắc bệnh ung thư, teo não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã tới mức cao nhất thế giới.
Tất cả mới chỉ trong giai đoạn đầu. Sau khi sát nhập vào Tàu năm 2020, dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, cuộc diệt chủng sẽ thảm khốc hơn nhiều. Những gì sẽ xẩy ra sau 4 năm tới đây? Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tạng không?
Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. 
Đây có phải là quả báo khi chính chúng ta cũng đã dùng chính sách diệt chủng đối với dân tộc Champa.
      Lịch sử 33 năm cuối cùng của  VƯƠNG QUỐC CHAMPA 
 BBT Champaka.info  
Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng (1802-1835) là công trình nghiên cứu của Pgs. Ts. Po Dharma được xuất bản tại Paris vào năm 1987 bởi Viện Viễn Đông Pháp, với nhan đề : Le Panduranga (Campa). Ses rapports avec le Vietnam (1802-1835). Đây là tác phẩm lịch sử Champa cận đại đầu tiên viết về tình hình chính trị, quân sự và mối quan hệ với triều đình Huế kể từ ngày vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802 cho đến khi vua Minh Mệnh xóa bỏ Champa trên bản đồ vào năm 1832, kéo theo sự ra đời phong trào kháng chiến của Katip Sumat (1833-1834) và sự vùng dậy vũ trang của Katip Ja Thak Wa(1834-1835) nhằm chống lại cuộc xâm lăng của triều đình Huế và phục hưng lại vương quốc Champa độc lập có chủ quyền.
Lịch sử 33 năm cuối cùng của Champa là tổng thể của những biến cố tang thương nhất và đẫm máu nhất chưa từng xảy ra trong quá trình hình thành vương quốc Champa kể từ thế kỷ thứ II, một quốc gia hùng mạnh dưới thời cổ đại, nhưng không còn nghị lực và sức lực chống lại chính sách tàn bạo của vua Minh Mệnh (1820-1841) nhằm trừng phạt vô cùng dã man dân tộc Champa về tội theo Lê Văn Duyệt và hành động chống lại uy quyền của triều đình Huế. Đây cũng là giai đoạn đen tối nhất của một dân tộc Champa có nền văn tự và văn minh từ lâu đời, nhưng đành bó tay đầu hàng và qui phục trước làn sóng Nam Tiến, một chủ thuyết «đế quốc» trong nghĩa rộng của nó, nhắm vào mục tiêu xâm chiếm đất đai và tiêu diệt dân tộc láng giềng bằng bạo lực và súng đạn.
Sau 8 thế kỷ chiến tranh tương tàn để thực hiện chính sách Nam Tiến, Việt Nam chiếm trọn lãnh thổ Champa rộng lớn chạy dài từ tỉnh Quàng Bình đến biên giới Biên Hòa, chỉ để lại cho hậu thế hôm nay một chuổi đền đài điêu tàn và hoang phế nằm ngổn ngang ở miền trung và một cộng đồng người Chăm chưa đầy 100 ngàn người đang sống chui nhủi và khốn cùng tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Chính đó là bức tranh thật sự của lịch sử Champa vào những thập niên đầu của thế kỷ thứ XIX mà Pgs. Ts. Po Dharma đã đưa ra phân tích và trình bày một cách khách quan và nghiêm túc trong tác phẩm mang tựa đề «Lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa, 1802-1835» do International Office of Champa (IOC-Champa) xuất bản tại San Jose, California (Hoa Kỳ), với sự bảo trợ của Hội Đồng Phát Triển Văn Hóa-Xã Hội Champa (CSCD-Champa). Tác phẩm này tổng cộng 279 trang + 2 bản đồ, chia thành nhiều chương mục.
1). Lời mở đầu
Khởi đầu của tác phẩm là  Lời mở đầu» trong đó Pgs. Ts. Po Dharma nêu ra nguyên nhân của sự chọn lựa đề tài và giải thích tại sao có sự giới hạn không gian của chủ đề từ 1802 đến 1835, tức là chỉ tập trung vào 33 cuối cùng của vương quốc này, nhưng 33 năm của bao biến cố thăng trầm đã diễn ra trên bàn cờ chính trị Champa, cấu thành một tiếng chuông báo động cho sự xụp đổ vĩnh viễn của vương quốc này trên bản đồ Đông Dương vào năm 1832.
Ai cũng biết Pgs. Ts. Po Dharma là người Chăm Ninh Thuận đã từng tham gia phong trào vũ trang Fulro vào những năm 1968-1975 và tiếp tục đấu tranh trong phong trào phát huy và truyền bá di sản lịch sử và nền văn minh Champa tại hải ngoại cho đến hôm nay. Nhưng trong ngành nghiên cứu, Pgs. Ts. Po Dharma không bao giờ dựa vào lăng kính hay tình cảm của dân tộc Chăm để bảo vệ quan điểm của vương quốc Champa hay lên án vua chúa Việt Nam, mà là dựa vào nguồn tư liệu thuyết phục cũng như phương pháp trình bày và lý luận khách quan của một nhà lịch sử học để hoàn thành tác phẩm : Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng, 1802-1835.
2). Nguồn tư liệu 
Lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa là tổng thể của những biến cố đã xảy ra trong quá khứ được ghi chép lại trên nhiều nguồn tư liệu, nhất là văn bản viết bằng tiếng Chăm và biên niên sử Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn. Tiếc rằng, mỗi tư liệu viết bằng tiếng Chăm hay Hán của nhà Nguyễn chỉ là tiếng nói của vua chúa thời đó, thường trình bày yếu tố lịch sử theo quan điểm và nhìn qua lăng kính của cung đình hơn là bài viết mang tính cách khách quan và khoa học. Chính vì thế, một biến cố đã xảy ra vào một thời điểm nhất định, nhưng tư liệu Chăm và biên niên sử Việt Nam nêu ra hai xuất xứ và đưa ra hai quan điểm hoàn toàn khác nhau. Đây là vần đề khó khăn nhất trong ngành sử học. Để giải quyết vấn đề trên, Pgs. Ts. Po Dharma lúc nào cũng thận trọng và đi tìm những kiểm chứng trước khi sử dụng nội dung của nguồn tư liệu này để xây dựng cho một yếu tố lịch sử. 
Để thực hiện tác phẩm Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng, 1802-1835, Pgs... Ts. Po Dharma phải dựa vào một khối tư liệu đáng kể trong đó có 32 tác phẩm viết bằng tiếng Chăm, 20 biên niên sử Việt Nam và hơn 150 bài khảo luận hay tác phẩm khoa học đã xuất bản bằng tiếng Pháp, Anh và Quốc Ngữ. Đây là kho tàng tư liệu liên quan đến lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa mà Pgs. Ts. Po Dharma trích dẫn trong công trình nghiên cứu của mình, chứ không phải tài liêu tham khảo ghi vào danh sách cho có lệ, mà độc giả thường thấy trong nhiều tác phẩm khoa học xuất bản tại Việt Nam hôm nay.
3). Tổng luận đầu sách 
Gần một thế kỷ qua, hầu hết các nhà khoa học chuyên về Đông Nam Á đều có chung một quan điểm về cụm từ «Thủ Đô», tức là trung tâm chính trị và quyền lực của một vương quốc, nơi ngự trị của vua chúa và gia đình hoàng gia của một quốc gia. Một khi thủ đô bị chiếm đóng thì chủ quyền quốc gia đó không còn nữa. Sự thất thủ Sàigòn vào tháng 4 năm 1975 đánh dấu cho sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là một thí dụ điển hình.
Nói đến vương quốc Champa, thì người ta phải nói đến ngày thất thủ Vijaya (Đồ Bàn) vào năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Dựa vào sự sụp đổ thủ đô Viyaya, nhà sử học Pháp là G. Maspero đưa ra nhận định trong tác phẩm Vương Quốc Champa (1828) cho rằng Champa hoàn toàn bị xóa bỏ trên bản đồ kể từ năm 1471 và không còn lý do để tồn tại trên lãnh thổ miền trung Việt Nam nữa. Kể từ đó các nhà nghiên cứu thường lập đi lập lại lý thuyết của G. Maspero, nhưng không cần kiểm chứng lại giả thuyết này có đúng hay không !
Pgs. Ts. Po Dharma là nhà nghiên cứu đầu tiên không tin vào giả thuyết của G. Maspero. Theo tác giả, vương quốc Champa không phải là quốc gia có hệ thống chính trị «trung ương tập quyền» theo kiểu Đại Việt hay Tàu Quốc vào thời cổ đại, mà là quốc gia liên bang tập trung năm tiểu vương quốc : Inrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Pandurang. Mỗi tiểu vương quốc có lãnh thổ riêng và vua chúa riêng. Chính vì nguyên nhân đó, sự sụp đổ thành Đồ Bàn vào năm 1471 chỉ biểu tượng cho sự xụp đổ của tiểu vương quốc Vijaya ở miền Bắc. Vì rằng vương quốc Champa vẫn còn hiện hữu ở miền Trung Việt Nam sau năm 1471, nhưng lãnh thổ đất đai Champa bị thu hẹp lại trên lãnh thổ của tiểu vương quốc Khauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận và Bình Thuận) cho đến năm 1832.
« Tổng luận đầu sách » là chương khởi đầu của tác phẩm trong đó Pgs. Ts. Po Dharma phát họa lại hệ thống tổ chức hành chánh và chính trị của vương quốc Champa sau ngày thất thủ thành Đồ Bàn vào năm 1471 và trình bày một cách hệ thống lịch sử của tiểu vương quốc Panduranga xuất hiện lần đầu tiên trên bia ký Champa vào năm 817. Hay nói một cách khác, «Tổng luận đầu sách» là phần tóm lược lịch sử Champa từ năm 1471 cho đến ngày lên ngôi của vua Gia Long vào năm 1802.
4). Champa dưới triều đại Po Saong Nyung Ceng (1779-1822)
Chiến thắng trên thành Đồ Bàn của Lê Thánh Tông vào năm 1471 chỉ là hồi chuông báo động cho sự suy thoái của thời hậu Lê, kéo theo sự phân tranh giữa chúa Trịnh ở miền Bắc và chúa Nguyễn ở miến Nam. Năm 1569, Nguyễn Hoàng quyết định hình thành một triều đại riêng trên lãnh thổ Champa bị chiếm đóng.
Vì không đủ tiềm lực tiến quân ra Bắc chống lại chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng chỉ còn cách mở cuộc Nam Tiến về phía nam trên lãnh thổ Champa để xây dựng uy quyền của mình. Năm 1611, nhà Nguyễn xua quân xâm chiếm Phú Yên và năm 1653 đặt nền đô hộ trên tiểu vương quốc Kauthara (Khánh Hòa). Năm 1692, nhà Nguyễn tấn công Champa, thay đổi danh xưng «Chiêm Thành» thành «Trấn Thuận Thành» và thành lập phủ Bình Thuận đầu tiên trên lãnh thổ của vương quốc này, tập trung những cư dân người Kinh sinh sống ở Champa nhưng họ là công dân của triều đình Huế.
Sau mấy thập niên yên bình và thịnh vượng, Champa trở thành nạn nhân của cuộc chiến kể từ năm 1771, giữa Tây Sơn làm chủ ở phương Bắc và Nguyễn Ánh chiếm đóng Sài Gòn để làm hậu cứ. Nằm trên địa thế bị kèm kẹp giữa lãnh thổ của Tây Sơn  và Nguyễn Ánh, vương quốc Champa bị lôi kéo vào cuộc chiến giữa người Việt và chấp nhận phải qui phục phe thắng trận dù là Nguyễn Ánh hay Tây Sơn. Kể từ đó, định mệnh sống còn của Champa hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.
Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng trận, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, quyết định phục hưng lại nền độc lập Champa và giao cho Po Saong Nyung Ceng, người đã từng giúp đỡ Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn, quyền cai trị của vương quốc này. Bên cạnh đó, vua Gia Long còn ban cho người kế cận của mình trong chiến trường chống Tây Sơn là Lê Văn Duyệt lên làm Tổng Trấn Gia Định Thành và giao cho Lê Văn Duyệt quyền bảo trợ vương quốc Champa ở phía Nam của triều đình Huế. Kể từ đó, nền hòa bình và thịnh vượng trở lại trên vương quốc Champa, một quốc gia đặt dưới quyền đô hộ của triều đình Huế qua trung gian của Lê Văn Duyệt, phó vương ở miền Nam Bộ thời đó.
Sau ngày băng hà của vua Gia Long vào năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, tìm cách xóa bỏ qui chế Gia Định Thành của Lê Văn Duyệt và đưa vương quốc Champa vào vòng kiểm soát trực tiếp của triều đình Huế. Thế là chiến tranh giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt bắt đầu bùng nổ để gây ảnh hưởng trên vương quốc Champa.
Vừa mới lên ngôi, Minh Mệnh cách chức trấn thủ Bình Thuận về tội quá thân cận với Lê Văn Duyệt và triệu tập phó vương Champa là Po Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh) về Huế trong khi đó Quốc vương Po Saong Nyung Ceng đang lâm bệnh nặng. Năm 1822, Po Soang Nyung Ceng băng hà vì tuổi già yếu. Minh Mệnh đề nghị người thân cận của mình là Bait Lan lên nối ngôi Champa, nhưng không thành, vì có sự chống đối của Lê Văn Duyệt.  
5). Champa dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) 
Lợi dụng tình hình rối ren ở Champa sau ngày từ trần của Po Saong Nyung Ceng vào năm 1822, Ja Lidong xua quân vùng dậy chống phá doanh trại quân sự của triều đình Huế, trong khi đó phó vương Po Klan Thu vẩn còn giam giữ ở Huế. Để giải quyết vấn đề nan giải này, Minh Mệnh chấp nhận Po Klan Thu trở về Champa để nối ngôi vua, với điều kiện là tân quốc vương Champa phải dẹp tan quân phiến loạn của Ja Lidong.
Sau ngày lên ngôi của Po Klan Thu vào năm 1822, người ta không có tin tức gì về mối quan hệ giữa Champa và Lê Văn Duyệt nữa. Nhưng sự im lặng của Lê Văn Duyệt chỉ mang tính cách chiến lược để xem xét tình hình mà thôi.
Sau 7 năm trị vì, Po Klan Thu băng hà vào 1828. Tin từ trần của Po Klan Thu không phải do quan lại của triều đình Champa cung cấp mà là phát xuất từ vị trấn thủ của phủ Bình Thuận. Điều này đã chứng minh rằng Po Klan Thu không chết trên lãnh thổ Champa mà là ở một nơi khác, có thể tại Huế trong lúc bị giam giữ, vì lý do gì đó.
Lãnh thổ Champa sau năm 1471
6). Champa dưới triều đại Po Phauk The (1828-1832)
Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm Quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền Quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long. Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh nữa. Hoàn cảnh lịch sử này đã đưa Champa vào con đường bế tắc và hoàn toàn lệ thuộc vào kết quả của cuộc tranh chấp giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt. Nếu Minh Mệnh thắng trận, vị vua này sẽ có thái độ vô cùng tàn bạo để trừng trị dân chúng Champa về tội theo Lê Văn Duyệt và ngược lại..
Vào cuối năm 1831, một nhóm quan lại trong triều đình Champa đã đứng ra phản đối thái độ của vua Po Phaok The về việc ly khai với triều đình Huế để tuân thủ mọi chỉ thị của Lê Văn Duyệt ở Gia Định Thành. Lợi dụng tình hình rối ren ở Champa và sức khỏe suy yếu của Lê Văn Duyệt ở Gia Định Thành, Minh Mệnh ra lệnh bắt quốc vương Po Phaok The và phó vương Cei Dhar Kaok vào tháng 3 năm Thìn lịch Chăm (1832) đưa về trại giam tại Huế. Khoảng một tháng sau, tức là tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832), Lê Văn Duyệt băng hà ở Gia Định Thành. Thế là vua Minh Mệnh ra lệnh xóa bỏ Champa trên bản đồ và sáp nhập đất đai của vương quốc này vào lãnh thổ Việt Nam..
7). Minh Mệnh trừng phạt dân tộc Champa (1832-1833)
Trước những hình phạt dã man của vua Minh Mệnh dành cho người Việt theo Thiên Chúa Giáo hay bản án đào mồ của Lê Văn Duyệt vào năm 1835, người ta không ngạc nhiên cho lắm về chính sách tàn bạo của vua Minh Mệnh để trừng trị dân tộc Chăm về tội theo Lê Văn Duyệt và không qui phục triều đình Huế.
Khởi đầu cho cuộc trừng phạt, Minh Mệnh ra lệnh cách chức và bắt giam tất cả quan lại Champa; tịch thu tất cả tài sản của họ và sau đó đưa vào gông cùm để tra tấn; buộc người Chăm phải khai báo những gì liên quan đến phong tục tập quán của vương quốc này; ra lệnh trừng phạt chức sắc Chăm bằng cách bắt buộc các vị tu sĩ Chăm Bani (Hồi Giáo) phải ăn thịt heo, thịt dông và tu sĩ Chăm Bà La Môn phải ăn thịt bò; ra lệnh đồng hóa người Chăm thành người Kinh bằng cách buộc người Chăm phải mang đồng phục người Kinh, ngăn cấm tuyệt đối người Chăm không có quyền cúng quẩy hay thực thi nghi lễ tín ngưỡng của họ; bắt buộc dân chúng Chăm phải làm nô dịch vô cùng nặng nề như việc nộp cống các loại gỗ quý, voi rừng, ngà voi, v.v, chưa nói đến khổ dịch mang súng đạn và xung phong trên chiến trường chống lại cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào năm 1833-1834.
Minh Mệnh còn cho phép quan lại người Kinh đứng ra chỉ đạo, dùng roi gậy đánh đập người Chăm nếu họ làm nô dịch quá chậm chạp; buộc người Chăm phải nộp những món thịt của thú rừng như hưu, nai, thỏ, bò, v.v.. Một khi người Chăm không tìm ra món thịt thú rừng, các quan lại người Kinh san bằng nghĩa trang Chăm, chưa nói đến việc đưa người Chăm ra xử trảm.
Sau đó Minh Mệnh còn buộc người Chăm phải lấy tên họ theo người Hoa như Quảng, Hứa, Đàng, Lâm, Châu, Thành, v.v., xóa bỏ tất cả những chức vụ quan lại Champa để thay vào đó những chức vụ mà hệ thống hành chánh Việt Nam đã qui hoạch như chánh tổng, lý trưởng, trùm, biện, hào mục, v.v.
Chính sách trừng phạt của triều đình Huế đã làm đảo lộn hoàn toàn hệ thống tổ chức xã hội Chăm để rồi trong gia đình người em không còn biết người anh là ai; cháu không còn tôn trọng bậc chú bác; các thành viên trong gia đình đối xử với nhau như người Chăm-Kinh, không ngần ngại kéo nhau ra thưa kiện trước pháp lý Việt Nam.
Hết nộp thuế nặng nề, dân chúng Champa phải nộp một số lượng gỗ cho chính quyền Việt Nam dùng để đóng tàu chiến, xe bò hay đốt lò gạch ; phải xây dựng đập nước và hệ thống dẫn thủy nhập điền cho ruộng lúa của người Kinh ; ra lệnh tịch thu tất cả ruộng muối của người Chăm, được xem như là mạch máu kinh tế của dân tộc này,
Sau năm 1832, dân tộc Chăm tiếp thu thêm một khái niệm mới về tham nhũng mà họ chưa từng nghe đến trong đời. Những quan lại người Kinh không ngừng đòi tiền hối lộ của người Chăm để được miễn nô dịch ; không ngần ngại chia đất đai người Chăm thành mảnh vụn để đóng thuế và hình thành chính sách cho vay nặng lãi để rồi chủ nợ người Kinh tha hồ chiếm đoạt tài sản và ruộng rẫy của người Chăm thiếu nợ, hay bắt họ làm vật thế chấp.
Nếu người Chăm than van về thuế má quá nặng nề, hành động thối nát và tham nhũng của các quan lại người Kinh nhằm bóc lột người Chăm, thì nông dân Việt Nam vào thời điểm đó cũng không thoát khỏi nanh vuốt của triều đình Huế. Dân tộc Việt cũng bị các cường hào quan lại tướt đoạt tài sản và bị đè bẹp bởi nô dịch và thuế má. Một khi không chịu nổi cơ cực nữa, nông dân Việt Nam chỉ còn cách là nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành và cuộc vùng dậy của Lê Duy Lương và Nùng Văn Vân ở phía bắc vào năm 1833 là thí dụ điển hình.
8). Phong trào Hồi Giáo của Katip Sumat (1833-1834)
Katip Sumat là vị tu sĩ Chăm Hồi Giáo sinh ở Campuchia, đã từng sang Mã Lai du học về triết lý Hồi Giáo. Nghe tin vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832, Katip Sumat rời Mã Lai trở về Champa để hình thành một phong trào đấu tranh chống triều đình Huế vào năm 1833. Mục tiêu của Katip Sumat là giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của Việt Nam. Muốn tiến đến mục tiêu này, Katip Sumat dùng triết lý Hồi Giáo làm khung cho chủ thuyết đấu tranh đó là hình thành mặt trận “thánh chiến Hồi Giáo” (Jihad) chống lại triều đình Huế.
Sự vùng dậy của Katip Sumat đã biến dân chúng Champa thành nạn nhân của chiến cuộc. Để dập tan quân phiến loạn, Minh Mệnh ra lệnh cho binh lính của triều đình Huế tha hồ giết hại người Chăm vô tội và tung ra “chiến trường đỏ lửa” bằng cách đốt phá tất cả làng mạc người Chăm theo Katip Sumat, nhất là những làng mạc gần bờ biển hầu ngăn chặn người Chăm chạy sang nước ngoài, trong khi đó dân cư người Kinh ở Bình Thuận sẵn có súng đạn trong tay tìm cách giải quyết mối hận thù riêng bằng cách giết hại người Chăm không gớm tay
Trước lực lượng hùng mạnh của vua Minh Mệnh, Katip Sumat buộc phải lui về miền núi nằm ở phía tây và ra lệnh cho quân lính Chăm tiếp tục đương đầu với triều đình Huế ở đồng bằng, nhưng không gặt hái kết quả gì.
Ai cũng biết, Minh Mệnh là vị Quốc vương rất tôn sùng giá trị văn hóa của dân tộc Việt và không bao giờ chấp nhận một tôn giáo ngoại lai nào du nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó, cuộc khởi nghĩa của người Chăm dựa vào chủ thuyết Hồi Giáo du nhập từ bên ngoài có thể gây ra những mối nguy cơ mà vua Minh Mệnh phải đập tan bằng mọi cách, càng sớm càng tốt.
9). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa (1834-1835)
Xuất thân từ Palei Ram (thôn Văn Lăm, Ninh Thuận), Ja Thak Wa không phải người Hồi Giáo chính thống mà là vị tu sĩ Chăm Bani, quyết định ly khai ra khỏi tổ chức cũa Katip Sumat để hình thành một cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế. Nhằm tiến đến mục tiêu, Ja Thak Wa thành lập một chính phủ Champa lâm thời vào cuối năm 1834, tôn vinh Po War Palei, gốc người Raglai, tức là em rể của phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) lên làm Quốc vương nhằm phục hồi lại vương niệm Champa thuộc dòng tộc Po Rome gốc người miền núi (Kaho hay Churu, tùy theo dị bản) ở Đổng Nai Thượng, nắm quyền Champa từ năm 1627 cho đến triều đại Po Cei Brei (1783-1786). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa bùng nổ vào tháng 7 năm Ngọ lịch Chăm (1834). Đây là cuộc chiến vô cùng khốc liệt, vang dội như sấm sét làm rung chuyển cả trời đất.
Nhằm đập tan cuộc khởi nghĩa này, biên niên sử Chăm cho rằng vua Minh Mệnh ra lệnh cho mỗi binh lính người Kinh phải chặt ba cái đầu của người Chăm vào mỗi buổi sáng mới nhận được tiền lương. Lợi dụng chỉ dụ này, người Kinh tha hồ chém đầu người dân Chăm vô tội, càng nhiều càng tốt, để đem nộp cho chính quyền Việt Nam hầu nhận tiền thưởng. Đây là cuộc chém giết người Chăm vô cùng kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử Đông Nam Á.
Đầu năm 1835 là giai đoạn đánh dấu cho những trận chiến khốc liệt tại đồng bằng Phan Rang, nơi mà Ja Thak Wa bị tử trận trên bãi chiến trường. Lợi dụng cơ hội này, vua Minh Mệnh ra lệnh tử hình Quốc vương Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) và phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) vào tháng 6 năm Ất Vị (1835) ; đốt phá tất cả thôn làng người Chăm dọc theo bờ biển; chém giết những người Chăm nào tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa ; đập phá nghĩa địa tổ tiên của người Chăm; đào mồ mả vua chúa Champa và đốt phá cả đền Po Rome ở khu vực Phan Rang ; cắt đứt hẳn mối liên lạc giữa người Chăm và dân tộc miền núi để họ không còn tụ tập chiến đấu chống triều đình Huế nữa.
10). Thay lời kết luận
Trong phần «thay lời kết luận », Pgs. Ts. Po Dharma đưa ra những lời nhận định sau đây:
• Trước cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt, Việt Nam phải mất gần 8 thế kỷ để xâm chiếm toàn diện lãnh thổ Champa vào năm 1832. Điều này đã chứng minh rằng cuộc Nam Tiến đã gặp những sự đối kháng vô cùng quyết liệt của dân chúng Champa.
• Trong suốt thời kỳ chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh (1771-1802), Champa đã chấm dứt sự tồn tại của mình trên mặt địa lý. Nhờ vua Gia Long mà vương quốc Champa được phục hưng lại. Nhưng người ta cũng đặt ra câu hỏi tại sao vua Gia Long quyết định phục hưng lại nền độc lập Champa vào năm 1802 với mục đích gì? Và người ta cũng không biết tại sao vua Minh Mệnh chấp nhận cho vương quốc Champa được tồn tại thêm mười năm nữa (1802-1822).
• Dưới triều đại Gia Long, Champa là quốc gia đặt dưới quyền bảo hộ của triều đình Huế. Nhưng quyền kiểm soát của Champa hoàn toàn nằm trong tay của Lê Văn Duyệt. Trong khoảng thời gian này, Champa là vương quốc thanh bình. Nhưng sự thanh bình và thịnh vượng này chỉ là kết quả của mối liên hệ rất thân thiện giữa vua Gia Long và Lê Văn Duyệt, tức là hai nhân vật nắm toàn quyền về sự sống còn của vương quốc Champa.
• Sau ngày lên ngôi của vua Minh Mệnh vào năm 1820, Champa trở thành chủ đề tranh chấp trong nội bộ chính trị của Việt Nam. Kể từ đó, Champa chỉ là con tốt trên bàn cờ chính trị đối kháng giữa triều đình Huế và Lê Văn Duyệt.
• Là nạn nhân của cuộc tranh chấp giữa Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt, vương quốc Champa bị đưa đẩy vào thế đứng nằm giữa hai gọng kiềm: chọn Minh Mệnh hay Lê Văn Duyệt để làm người bảo hộ cho mình. Kể từ đó, tương lai của Champa hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của cuộc tranh chấp giữa Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt. Một khi đã lựa chọn, Champa phải chấp nhận những hậu quả kinh hoàng, nếu phe mình bị bại trận.
• Năm 1832, Lê Văn Duyệt băng hà vì tuổi già. Nhân danh phe thắng trận, vua Minh Mệnh xóa bỏ ngay tên gọi Champa trên bản đồ và ra lệnh trừng trị vô cùng khủng khiếp các quan lại và dân chúng Champa về tội theo Lê Văn Duyệt. Sự quyết định trừng phạt Champa của vua Minh Mệnh không biểu tượng cho sự thù hằn dân tộc Chăm-Việt, mà là phản ứng tự nhiên trong quá trình hình thành lịch sử dưới thời cổ đại.
• Những biện pháp trừng phạt nhân dân Champa vô cùng dã man kể từ năm 1832 không ám chỉ cho chính sách diệt chủng của vua Minh Mệnh đối với người Chăm. Và chính sách trừng phạt này không mang nội dung hận thù dân tộc hay phân biệt màu da giữa người Chăm và Kinh mà là hành động mang màu sắc chính trị dành cho những ai, dù họ là người Kinh hay Chăm đi nữa, không tôn trọng uy quyền của triều đình Huế vào thời điểm đó. Nhưng trên thực tế, những cư dân người Kinh và quan lại thuộc phủ Bình Thuận là tập thể có ý đồ hành hạ và ngược đãi dân tộc bản xứ Champa, lúc nào cũng tìm cách tước đoạt tài sản của những người không cùng màu da với mình. Và chính họ là những người đã gây ra những cuộc vùng dậy của dân tộc Champa vào những năm 1833-1835.
 Phụ Lục
Trong phần phụ lục, tác giả đính kèm: 
• Nội dung của tác phẩm viết bắng tiếng Chăm : Ariya Po Ceng
• Nội dung của tác phẩm viết bắng tiếng Chăm :  Ariya Po Phaok
• Lịch trình biến cố theo niên đại liên quan đến tiểu vương quốc Panduranga
• Bản đồ           
(nguồn champaka.info)