Search This Blog

Saturday, June 18, 2022

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU (bài thứ ba)

 

 https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/khong-con-la-moi-nguy-co-bang-phong-ang.html

Bài Thứ Ba

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

____________________________________________________________

Tôi từng thưa với độc giả nhiều lần rằng tôi không phải là nhà văn, vì tự biết mình không có văn tài, nên không dám mang sứ mệnh “tải đạo”. Cũng không phải là nhà viết sử, tôi chỉ là người có cơ duyên “lạc đường vào lịch sử”, vì đã đích thân tham dự vào cuộc chiến chống Con Ma Cộng Sản, thì viết lên suy nghĩ của mình để giải thích vì sao nòi giống Việt Nam anh hùng mà phải mang nỗi ô nhục này. Tôi công khai nêu lên ý nghĩ để biết đâu có vị cao minh nào đó có lời giải thích tình trạng xuống cấp của dân tộc một cách thuyết phục hơn.

Do sự xung khắc gia đình, Chúa Nguyễn Hoàng nhờ bà chị của mình – vợ Chúa Trịnh Kiểm – xin cho mình đi về Miền Nam khai hoang lập ấp. Nếu gia đình êm thấm, các bậc tiền bối không phạm tội với Thiên đình vì tiêu diệt nòi giống Chàm, thì dân Việt ta không bị quả báo như ngày nay. Đây không phải là lời oán trách tiền nhân. Đây chỉ là sự suy nghiệm của hàng hậu bối đi tìm căn nguyên vì sao một dân tộc thông minh, anh hùng mà trí óc không chịu lớn.

Đất Thuận Hóa là nơi hậu duệ của Chúa Nguyễn Hoàng – Nguyễn Phúc Ánh – chọn Phú Xuân để lập Đế đô Nhà Nguyễn và mang Đế hiệu Gia Long. Theo lời dạy của Thầy Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Tại sao chỉ mới 143 năm tính từ năm 1802 là năm Chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi đến năm 1945 vua Bảo Đại thoái vị, mà Nhà Nguyễn mất ngôi vào tay một tên gian hùng, cùng hung cực ác Hồ Chí Minh? Tại sao con cháu Nhà Nguyễn không thể dung thân vạn đại? Tại sao chỉ 143 năm là mất ngai vàng và con cháu phải mang nỗi nhục ăn nhờ ở đậu nơi đồng đất nước người? Có phải“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” là hậu quả tất yếu, đúng không?

Năm 1627, do xung đột dòng họ, cuộc nội chiến xảy ra chia đôi đất nước tại sông Gianh.

Năm 1954, nước Việt Nam lần này bị Quốc tế chia đôi tại sông Bến Hải, vĩ tuyến 17. Huế không còn là Kinh đô của Nhà Nguyễn, mà nước Việt Nam bị chia làm hai thủ phủ: Hà Nội và Sài Gòn. Thủ phủ Hà Nội – chốn ngàn năm văn vật – thuộc về bọn quỷ sứ ma vương do tên đại ma đầu Hồ Chí Minh cai trị, biến toàn xã hội thành Trại Súc Vật đói rách; còn thủ phủ Sài Gòn từ một bãi rác được nhà ái quốc Ngô Đình Diệm biến thành Hòn Ngọc Viễn Đông, nhân dân được sống tương đối tự do và no cơm ấm áo. Miền Nam có cần được giải phóng hay không? Tại sao có những đứa bằng cấp đầy mình mà chạy theo cái chiêu bài “giải phóng” ngu xuẩn đó? Rõ ràng lời nguyền rủa của những oan hồn đã tác động lên trí tuệ Việt Nam, đúng không?

Lẽ ra Miền Nam trù phú, tự do, hùng mạnh được cường quốc số 1 thế giới – Hoa Kỳ – yểm trợ mọi mặt, thừa sức giải phóng nhân dân Miền Bắc. Nhưng tại sao “một nền văn minh lại bị một chế độ man rợ đánh bại?”. Tôi thấy chỉ có cách đem Luật Nhân Quả ra để mà luận giải cái lẽ “vô thường” như những bài viết trước tôi đã trình bày. Không một ai chính danh lên tiếng phản bác một cách nghiêm túc những luận điểm của tôi. Điều đó chứng tỏ lập luận của tôi là hữu lý, chứ còn gì nữa?

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, có ba Quốc gia bị chia đôi. một nửa thuộc phe Cộng sản, một nửa theo phe Tự do. Đó là Đức Quốc (Germany), Triều Tiên (Korea) và Việt Nam. Nước Đức được thống nhất trong tự do, thịnh vượng nhờ Liên Xô sụp đổ. Triều Tiên nhờ nhà độc tài Phác-Chính-Hy mà vẫn nguyên trạng chia cắt, chưa thống nhất được, nhưng Nam Hàn (ROK) trở thành Quốc Gia giàu mạnh, cạnh tranh kinh tế với Nhật. Trong khi ở Miền Nam Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm làm cho bãi rác trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông, bị quy tội đàn áp Phật giáo và đàn áp đối lập, giúp cho Hồ Chí Minh và bè lũ thống nhất đất nước. Thống Nhất mà “cái cột đèn biết đi, cũng bỏ nước ra đi”?

Tại sao văn hào Nhất Linh không thấy trong Nội các Chính phủ Ngô Đình Diệm đa số Bộ trưởng là Phật giáo? Tại sao văn hào Nhất Linh không thấy đa số Tướng lãnh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là Phật giáo? Văn hào Nhất Linh ca ngợi cái chết vì Đạo Pháp của Ngài Quảng Đức là đúng hay sai? Nếu tôi là con cháu của văn hào Nhất Linh, chắc chắn tôi đã đứng ra xin lỗi đồng bào Việt Nam ngay! Nhà cách mạng Văn Hóa Nhất Linh cũng bị quỷ ám?

Thử bàn láo chuyện thiên cơ một chút chơi. Có mất gì?

Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm, vốn dòng dõi họ Hồ, vào Bình Định lập nghiệp, đổi sang họ Nguyễn. Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm La (Thái Lan) ở trong Nam do Chúa Nguyễn phúc Ánh cầu viện sang giúp. Nguyễn Huệ đánh bại quân Mãn Thanh ở ngoài Bắc do vua Lê Chiêu Thống cầu viện sang giúp. Nguyễn Huệ đánh hai kẻ thù do chính người Việt Nam rước voi về giày mồ, thống nhất đất nước, lên ngôi vua, lấy hiệu là Quang Trung Hoàng Đế. Nếu nói cho chính xác triều đại Nhà Tây Sơn đúng là Nhà Hồ. Chúa Nguyễn Phúc Ánh thừa dịp Hoàng Đế Quang Trung mất sớm, Quang Toản còn nhỏ, nên lật đổ Nhà Tây Sơn (Nhà Hồ), lập lên Nhà Nguyễn. Các sử gia dưới triều Nhà Nguyễn viết công lao thống nhất đất nước do Chúa Nguyễn Phúc Ánh là không đúng sự thật. Chính vua Quang Trung Hồ Thơm mới là người có công thống nhất.

Hồ Chí Minh vốn họ Nguyễn, tên thật là Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc. Nguyễn Sinh Cung đi làm bồi tàu thủy cho Thực dân Pháp là để sinh nhai, chứ không phải là nhà ái quốc đi tìm đường cứu nước. Bằng cớ là Nguyễn Sinh Cung làm đơn xin vào học trường Trường Thuộc Địa của Thực dân Pháp để phục vụ Thực dân Pháp. Nhưng vì Trường Thuộc Địa của Pháp không nhận, thì Hồ Chí Minh mới gia nhập đảng Cộng sản để bán nước Việt Nam cho Tàu. Đó là sự thật lịch sử. Người viết không bịa chuyện.

Chúa Nguyễn Phúc Ánh cướp ngôi Nhà Hồ (Nhà Tây Sơn) của Hoàng Đế Quang Trung. Hồ Chí Minh cướp lại ngôi Nhà Nguyễn (Vua Nguyễn văn Thiệu phải bỏ chạy).

Huế là nơi vua Gia Long đặt làm kinh đô, là nơi vua Minh Mạng ra lệnh cho quan chức dưới quyền hàng tháng phải nộp đầu người đầu dân Chàm để lãnh thưởng. Năm 1963, Huế là sào huyệt của bọn quỷ sứ dùng bọn Việt Cộng giả Sư để phát động cuộc “tranh đấu vì Đạo pháp” để lật đổ nền Cộng Hòa của Miền Nam. Năm Mậu Thân 1968, người dân vô tội của Thành phố Huế bị Việt Cộng chôn sống nhiều hơn tất cả các thành phố khác.

Bạn đọc có thấy sự đời vay trả, trả vay đã xảy ra trong dòng sinh mệnh dân tộc Việt Nam chưa?

Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu viết cuốn Chính Đề Việt Nam đã tiên đoán, nếu nền Cộng Hòa của Việt Nam sụp đổ, chừng 9 hoặc 10 năm sau thì toàn thể đất nước Việt Nam rơi vào tay cộng sản Hà Nội và trở thành một phiên thuộc của Trung Cộng. Tại sao ông Ngô Đình Nhu đoán biết trước được điều đó? Tại vì ông Nhu là người thông minh, sáng suốt, ông nhìn thấy trong số các Tướng lãnh, trong số các nhà hoạt động chính trị, không có một ai có tài, có lòng yêu nước để lãnh đạo toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu bán nước của Hồ Chí Minh. Nạn Sứ Quân sẽ xảy ra vì ông Nhu thấy được tất cả đều tham chức, tham quyền, chứ không có người thực tâm yêu nước, dũng cảm để lái con thuyền Việt Nam giữa phong ba, bão táp (họa cộng sản diệt chủng).

Quả nhiên, sự thể đã xảy ra giống như ông Ngô Đình Nhu đã tiên đoán.

Cái gọi là Cuộc Cách Mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963 không phải là Cách Mạng để lật đổ một Chính quyền thối nát, nhằm xây dựng một Chính quyền lành mạnh hơn, dân chủ hơn, an ninh hơn. Đó là một sự vu khống lếu láo của bọn Việt Cộng nằm vùng trong Phật Giáo ở Huế để cướp Chính quyền hợp pháp nhằm dâng Miền Nam cho cộng sản Tàu. Bọn cầm quyền Cộng sản Hà Nội đều là những tên tay sai đắc lực của Trung Cộng. Nếu cái gọi là Cách Mạng Tháng 11 đúng nghĩa, thì tình hình chính trị Miền Nam phải tốt đẹp hơn, xã hội Miền Nam phải vững chãi hơn. Nếu bạn đọc còn có trí nhớ, sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 11, Tướng Dương văn Minh – người đứng đầu – ra lệnh phá bỏ Quốc sách Ấp Chiến Lược và cho phép các tiệm Nhảy Đầm (dancing) hoạt động trở lại, vui chơi thâu đêm suốt sáng. Quyền lực điều khiển Quốc gia nằm trong tay các tu sĩ Phật giáo, vì các Tướng lãnh, các nhà hoạt động chính trị đảng phái đều “nể” mấy anh nhà Sư đầy tham vọng chính trị!

Thầy dạy học Phan Quang Đông cùng quê Nghệ An – Hà Tĩnh với tôi. Cha Mẹ thầy đều bị Việt Cộng đấu tố và giết trong Cải Cách Ruộng Đất. Thầy Phan Quang Đông là một người hiền lành, sống kín đáo, dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, được bác sĩ Trần Kim Tuyến tuyển mộ vào làm việc tại Sở Nghiên Cứu Chính trị (thực chất là cơ quan Tình Báo). Về sau, thầy Đông được giao nhiệm vụ Giám đốc Sở Bắc, tức là cơ quan lo việc gửi gián điệp hoạt động trong lòng địch. Thầy Đông hoàn toàn không dính đến an ninh, mật vụ của ông Ngô Đình Cẩn ở Miền Trung.

Lúc nghe tin quân phản phúc đảo chánh ông Diệm ở Sài Gòn thành công, thầy Phan Quang Đông mang tất cả hồ sơ của những gián điệp hoạt động trong lòng địch trao cho Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân Khu I và yêu cầu Tướng Trí chăm lo an ninh cho những anh em hoạt động gián điệp. Nhưng Tướng Trí không giữ lời, có lẽ sợ hãi thanh thế của Trí Quang, nên ông đã giao tất cả danh sách gián điệp của ta cho Trí Quang. Tướng Đỗ Cao Trí còn sợ Trí Quang, nói gì đến ai?

Vợ của thầy Phan Quang Đông là Nguyễn Thúy Toan học lớp Đệ Nhất C trường Quốc Học, tôi học lớp Đệ Nhất ban B. Tuy khác ban, nhưng chúng tôi có thể biết hầu hết tên các nữ sinh Đệ Nhất C1 (Pháp văn) và C2 (Anh văn). Sau khi thầy Phan Quang Đông bị xử tử hình ngày 28 tháng 3 năm 1964 tại sân Vận Động Huế, tôi có gặp nàng nữ sinh Quốc Học tên Thúy Toan. Nàng kể với tôi trong nước mắt: “Em có gặp Tướng Nguyễn Chánh Thi để nhờ ông can thiệp cho chồng em bị xử oan, nhưng Tướng Thi từ chối và bảo em đi gặp thầy Trí Quang để mà xin. Thầy Trí Quang cũng từ chối. Thầy nói Thầy là người tu hành, không dính dáng đến chính tr (!), hãy đi gặp các ông Tướng mà xin”. Tướng Trí, Tướng Thi đều sợ “uy danh” Thầy Trí Quang thì quân sĩ Việt Nam Cộng Hòa dù thiện chiến đến thế nào cũng phải thua trận thôi! "Thầy Trí Quang" là người có công đầu, dâng Miền Nam cho Cộng sản Hà Nội!

Sau năm 1975, tôi nghe nói Thúy Toan đem con xuống thuyền đi vượt biên và cả mẹ lẫn con đều chết trên biển? Thương tâm hết sức! Bạn đọc có thấy sự nghiệt ngã của một người có cha mẹ chết dưới bàn tay Cộng sản, bản thân chống Cộng để trả mối thù cho cha mẹ mình, thì bị tử hình vì những viên đạn của phía mệnh danh là Quốc Gia? Thầy Trí Quang, thủ lãnh Phật giáo tranh đấu lật đổ nền Cộng Hòa đã chối mình không làm chính trị, thì có đáng khinh bỉ hay không? Cao Huy Thuần tôn Trí Quang là vị Bồ Tát, thì có xứng đáng phỉ nhổ vào mặt tên Tiến sĩ ấy hay không?

Một giờ sau khi lãnh nhận bản án tử hình, trở lại nhà giam trung ương của tỉnh Thừa Thiên, ông Đông lấy giấy viết lá thư vĩnh biệt hiền thê dấu ái tên Margarita Thúy Toan như sau : “Tòa án cách mạng vừa kết án tử hình cho anh. Anh cố gắng cầm nước mắt để viết cho em những hàng chữ cuối cùng này, vì ngày còn lại cuộc đời anh nơi dương thế có thể đếm được trên các đầu ngón tay. Anh chỉ nghĩ đến duy nhất một mình em. Trong 5 tháng tù đày, hình ảnh em là suối nguồn mang niềm an ủi đến cho anh. Giờ đây đứng trước cái chết gần kề, anh giữ lại âu lo cho riêng mình và nguyện cầu cùng THIÊN CHÚA, Đức Mẹ MARIA ban cho chúng ta niềm an bình nội tâm và được hàn huyên lần cuối. Em yêu dấu, quả thực, không gì mạnh hơn tình yêu. Tình yêu xóa tan nỗi lo sợ cái chết gần kề. Tình yêu chiến thắng tất cả. Mấy tháng nay, anh cầu nguyện thật nhiều cùng Chúa và Mẹ Ngài, cùng Thánh Cả GIUSE và thánh nữ Magarita. Xin Các Ngài phù hộ chúng ta”.

Xin bạn đọc hãy lấy lương tâm trong sáng của mình để so sánh, lượng giá bức thư tuyệt mạng của văn hào Nhất Linh lên án chế độ Ngô Đình Diệm với bức thư của Thầy Đông viết cho vợ, mà không một lời phiền trách bọn phản bội giết oan ông, thì có thấy sự khác xa nhau một trời một vực giữa người chiến sĩ Chống Cộng có niềm tin Thiên Chúa với lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng kiêm nhà văn hóa viết tiểu thuyết luận đề không? Tôi đã ngậm ngùi thương tiếc thầy Phan Quang Đông và người nữ sinh Thúy Toan – đồng môn Quốc Học – khi đọc lại bức thư này.

Ông Ngô Đình Cẩn bị Tướng Đỗ Cao Trí – Tư lệnh Quân Khu I – giải giao về Sài Gòn và giao cho Quân Cách Mạng giam giữ. Chánh án xử ông Cẩn là Đại tá Đặng văn Quang, con đỡ đầu của mẹ Đức Cha Nguyễn văn Thuận và chị của ông Ngô Đình Cẩn. Luật sư bào chữa cho ông Cẩn là luật sư Võ văn Quang (nếu tôi nhớ không lầm). Ông Ngô Đình Cẩn bị bệnh tiểu đường rất nặng, khi bị tù không được cho thuốc uống, nên ông không ngồi dậy được. Theo luật nhân đạo quốc tế, không xử tử khi phạm nhân mắc trọng bệnh. Luật sư Quan viết đơn gửi lên Quốc trưởng Nguyễn Khánh xin ân xá. Nhưng Nguyễn Khánh vì sợ hãi quyền hành của Trí Quang, nên bác đơn. Vì vậy, Tổng thống Lyndon B. Johnson mới gọi bọn Tướng lãnh phản bội giết gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm là một lũ côn đồ (gang of thugs). Các chiến sĩ anh hùng VNCH nghĩ gì về các ông Tướng của mình?

Tướng Edwards Lansdale, một sĩ quan Không Quân, đổi sang làm việc cho CIA. Lansdale là người có công giúp Tổng thống Ramon Magsaysay của Phi Luật Tân tiễu trừ quân phiến loạn Cộng sản. Năm 1954, Lansdale sang Việt Nam giúp ông Diệm thuyết phục lãnh tụ Cao Đài, Hòa Hảo trở về hợp tác với Chính quyền. Năm 1960 Trung tá Vương văn Đông – một sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia, nhưng là tay sai của Thực dân Pháp – làm cuộc đảo chánh. Lansdale yêu cầu Tướng Khiêm đem quân về Thủ đô chống cuộc đảo chánh. Tổng thống Diệm tưởng rằng  Tướng Trần Thiện Khiêm trung thành với chế độ, nên thăng cho Tướng Khiêm làm Tham Mưu trưởng Liên Quân, được quyền tuyển chọn sĩ quan trung thành giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn đóng quân gần Sài Gòn để cứu giá trong trường hợp Sài Gòn có biến. Đại tá Nguyễn văn Thiệu là người bạn thân của Tướng Khiêm, nên được ông Khiêm đề cử làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Tháng 11 năm 1963, Sài Gòn có biến, Đại tá Nguyễn văn Thiệu đem quân về Thủ đô, nhưng áng binh bất động, chờ xem bên nào thắng thế thì ngã theo. Những Tướng lãnh sau khi đảo chánh Tổng thống Diệm vẫn còn tiếp tục đảo chánh, chỉnh lý liên tục đều bị cháy. Hai ông Trần Thiện Khiêm, Nguyễn văn Thiệu được ông Nguyễn văn Kiểu – anh ruột ông Thiệu – giới thiệu gia nhập đảng Đại Việt. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và kỹ sư Hà Thúc Ký nhận lời tuyên thệ của hai ông Thiệu, ông Khiêm trước bàn thờ Tổ Quốc và di ảnh cố đảng trưởng Trương Tử Anh. Chủ thuyết của đảng Đại Việt do đảng trưởng Trương Tử Anh viết ra là “Dân Tộc Sinh Tồn”. Ông Thiệu và ông Khiêm gia nhập đảng Đại Việt không phải vì lý tưởng Dân Tộc Sinh Tồn, mà có mục đích đầu cơ chính trị. Bằng cớ là sau đó, ông Thiệu âm thầm lập đảng Dân Chủ cho sự nghiệp của riêng mình.

Trong cuộc họp thống nhất Đại Việt năm 1988 tại tư gia người bạn cùng khóa phi công với tôi – anh Nguyễn Quan Vĩnh – tại Thành phố San Jose, bắc California, tôi nói: “Đảng Đại Việt có nhiều dịp cầm quyền, nhưng các anh lãnh đạo đảng không nghiêm túc, làm cho nước mất. Theo quy luật đảng, người nào tự ý rời bỏ đảng đều phải chịu kỷ luật. Ông Thiệu bỏ đảng Đại Việt, tự động lập ra đảng Dân Chủ cạnh tranh với Đại Việt, mà các anh không phản ứng, lại còn chia quyền với ông Thiệu, thì các anh đã làm mất tư thế lãnh đạo quần chúng. Những lãnh tụ Đại Việt có mặt trong buổi họp gồm có bác sĩ Đặng văn Sung, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Đại sứ Bùi Diễm, Kỹ sư Hà Thúc Ký đều đã qua đời. Nhưng Tiến sĩ Nguyễn văn Canh còn đó, sẽ chứng thực cho những gì tôi đã phát biểu trong buổi họp, hoặc anh chủ nhà Nguyễn Quan Vĩnh còn lưu giữ cuốn băng ghi âm buổi họp lịch sử ấy.

Cho đến nay vẫn còn có người trách ông Ngô Đình Diệm gia đình trị, đầu óc địa phương, chân tay bộ hạ đa số gốc Miền Trung. Năm 1959, sau khi đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” do cụ Hoàng văn Chí biên soạn, nói về Phong trào Nhân văn Giai Phẩm, tôi suy nghĩ rất nhiều và tự ý đi tìm một đảng có quá trình Chống Cộng để tham gia. Bởi vì Việt Cộng có tổ chức, thì mình phải gia nhập một tổ chức để chống lại âm mưu Việt Cộng thôn tính Miền Nam. Tôi gia nhập Đại Việt, vì đảng trưởng đảng này bị Việt Cộng giết, thì nhất định đảng sẽ quyết tâm diệt Cộng để báo thù. Vậy những gì tôi sắp sửa viết ra đây là từ một cựu đảng viên Đại Việt, chứ không phải bênh vực ông Diệm vì “hoài Ngô” như bọn dư đảng Ấn Quang chụp mũ tôi.

Ông Ngô Đình Diệm người Miền Trung, cựu quan lại của Triều đình Nhà Nguyễn ở Huế, tất nhiên ông cần người tâm phúc để đặt niềm tin. Đỗ Mậu gốc lính Khố Xanh, cùng quê Quảng Bình với ông Diệm, phục vụ dưới quyền Tổng Đốc Ngô Đình Khôi, anh ruột Tổng thống Diệm. Ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại vì Thực dân từ chối thi hành yêu sách của ông. Không còn chức vụ, ông Diệm không còn có lính hầu. Ông Ngô Đình Khôi biệt phái Đỗ Mậu sang kéo xe cho ông Diệm. Đỗ Mậu tỏ ra lễ phép, kính trọng vị quan thanh liêm Ngô Đình Diệm. Từ đó, tình thầy trò trở nên sâu đậm. Ông Diệm chọn ông Đỗ Mậu, một bề tôi tâm phúc của mình, làm Giám đốc An Ninh Quân Đội để làm tai mắt cho mình là hết sức đúng. Ai cũng làm như vậy thôi!

Nhân vật số 2 của chế độ là Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, người Miền Nam. Nhân vật số 3 của chế độ là Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu, người Miền Bắc. Tại sao người dân tin vào sự tuyên truyền chia rẽ của Việt Cộng kết tội ông Diệm là nhà lãnh đạo có đầu óc địa phương?

Tiếc cho ông Diệm không cái kính chiếu yêu như Tề Thiên Đại Thánh để biết lòng dạ của thuộc cấp. Những kẻ chịu ơn mưa móc của ông Diệm đều phản ông. Đỗ Mậu là người đi móc nối các đơn vị trưởng chỉ huy Quân Đội để làm cuộc đảo chánh năm 1963. Trung tướng Tôn Thất Đính nhờ tài nịnh hót ông Cụ, lúc nào cũng xưng con với ông Diệm, nên cùng một lúc được trao ba chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Quân Đoàn III, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, Tổng trấn Saigon – Gia Định. Nhưng Tướng Tôn Thất Đính lại là người phản bội đầu tiên, chịu trách nhiệm về cái chết tức tưởi của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kẻ phản bội được bầu làm Thượng Nghị sĩ Quốc Hội VNCH!

Dưới thời Tổng thống Eisenhower, báo chí Mỹ ca ngợi ông Diệm không tiếc lời. Sang thời Tổng thống Kennedy, báo chí tả khuynh bắt đầu chê bai ông Diệm. Nếu bất bình chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ thiếu gì cách để đẩy anh em ông Diệm ra khỏi vai trò lãnh đạo Miền Nam? Chẳng hạn, cúp viện trợ tài chánh thì ông Diệm lấy tiền đâu để trả lương cho quân nhân, công chức? Cúp viện trợ quân sự, không súng đạn, không có xăng dầu cho cho tàu thủy, tàu bay và xe cơ giới, chẳng lẽ Tổng thống Ngô Đình Diệm chống Cộng bằng hai bàn tay trắng được sao? Lucien Conein là nhân viên Tình Báo CIA, gốc Pháp có máu Thực dân, là người chủ chốt bỏ tiền ra mua chuộc một số Tướng lãnh phản phúc làm đảo chánh. Theo tường thuật của một vài sĩ quan tùy viên của các ông Tướng âm mưu đảo chánh như sau: “Lucien Conein tuy chỉ là Trung tá, nhưng tỏ ra hách dịch. Ông ta gác hai chân lên bàn, ngồi dựa ngửa vào thành ghế và ra lệnh cho mấy ông Tướng phải làm gì, làm gì”. Tôi tin lời kể của sĩ quan tùy viên, vì tôi từng lái máy bay chở mấy ông Tướng bị Tướng Nguyễn Khánh làm Chỉnh Lý bắt và đày ra Tiên Sa ở Vùng I. Các ông Tướng lúc sa cơ, mặt mũi thất thần khá tội nghiệp, chứ không còn cái vẻ oai vệ trước hàng quân dưới quyền.

Giết anh em ông Diệm, Hoa Kỳ đã tự tạo cho bạn Đồng Minh thấy rõ bộ mặt tàn ác của mình. Uy tín của Hoa Kỳ bắt đầu sa sút trên thế giới kể từ ngày đó. Chơi với Hoa Kỳ rất khó, bởi vì chính sách của Mỹ thay đổi tùy theo thời điểm đảng Cộng Hòa hay đảng Dân Chủ ngồi vào Tòa Bạch Ốc. Nhật Bản “chơi” với Mỹ dài lâu được là vì chính trị gia Nhật yêu nước, biết đặt quyền lợi nước Nhật lên trên hết, nên ngoại ban khó lòng mua chuộc. Truyền thống dân chủ Hoa Kỳ là “thăm dò dư luận” (Surveil hay Poll) để bắt mạch thời cuộc. Tôi bảo đảm rằng Hoa Kỳ đã thăm dò lãnh tụ của các đảng phái về Tổng thống Ngô Đình Diệm, thì ông nào cũng chê ông Diệm độc tài, gia đình trị để họ được là “ứng viên” (candidate) lọt vào mắt xanh của Mỹ. Tôi biết các bạn đọc cảm thấy đau lòng về sự kiện này, nhưng tôi nói ra thực trạng ấy để bạn đọc hiểu tại sao Việt Nam khó giành độc lập. Thủ phạm của tình trạng này là do bè lũ  bán nước Hồ Chí Minh mang về cái chủ nghĩa cộng sản áp đặt lên đầu dân ta. Không có cộng sản, thì làm gì có cuộc chiến tranh Việt Nam? Không có cộng sản thì dân Việt Nam đâu phải mang nỗi nhục mất nước?

Rất có thể bạn đọc cho rằng cái gì xấu xa, thối nát tôi đều đổ cho cộng sản? Không! Tôi không đổ tội cho cộng sản mà không có lý do. Nếu trí thức Việt Nam ta khi thấy Hồ Chí Minh nhận Trung Cộng – kẻ thù tiền kiếp của ta – làm anh em, thì tẩy chay ngay, đừng nhắm mắt cúi đầu phục vụ nó, làm sao Hồ Chí Minh có thể vận động toàn dân hy sinh xương máu giành độc lập? Sở dĩ trí thức Việt Nam trở nên ngu, là bởi vì lời nguyền rủa của những oan hồn người Chàm dùng quỷ sứ cộng sản để trả mối thù xưa. Ai có thể giải thích khác hơn về cái ngu của bọn trí thức Miền Nam trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng vừa qua, vui lòng giảng cho tôi hiểu, tôi xin cảm phục và cám ơn vô cùng. Đồng ý hay không đồng ý, các trí thức hãy lên tiếng đi! Nếu cứ ngậm miệng ăn tiền giống như Đại Tướng Trần Thiện Khiêm thì tám ngàn năm dân Việt Nam cũng không thể lớn được, chứ đừng nói bốn ngàn năm mà không lớn giống như cô giáo Trần thị Lam đã viết thành thơ.

Hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo. Xin quý bạn đọc kiên nhẫn theo dõi, vì đây là vấn đề tồn vong của nòi giống Việt Nam, xin đừng quên!

Bằng Phong Đặng văn Âu, ngày 18 tháng 6 năm 2022.

Địa chỉ Email: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600.

 

Tuesday, June 14, 2022

BÀI THỨ HAI - KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

                                                           Bài Thứ Hai

KHÔNG CÒN LÀ MỐI NGUY CƠ.

Bằng Phong Đặng văn Âu

https://khongquanc130.blogspot.com/2022/06/bai-thu-hai-khong-con-la-moi-nguy-co.html

Lời mở đầu : Nhận thấy Họa Diệt Chủng nòi giống Việt Nam không còn là nguy cơ, mà nó đang trên đà hiện thực, người viết xin dẫn chứng những sự kiện để giải thích tại sao mình quan niệm như thế. Người viết dành quyền phản biện cho quý vị thức giả. Bài viết sẽ thực hiện nhiều kỳ, kính mong quý độc giả quan tâm vui lòng kiên nhẫn theo dõi.

_______________________________________________________________                       _

Ý thức rằng không ai có thể quay trở về quá khứ để thay đổi lịch sử, tôi chỉ làm công việc phân tích để tìm hiểu tại vì sao một dân tộc thông minh, dũng cảm mà trở nên ngu độn và hèn nhát. Cô giáo Trần thị Lam làm bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh” và nữ doanh gia Hân Phan viết bài “Người Việt Nam Hèn Hạ” không có nghĩa là hai cô có ý miệt thị, chê bai dân tộc mình. Hai người phụ nữ trẻ cảm thấy mình là nạn nhân của một thời đại quái đản mà viết ra thành lời.

Dân tộc Việt Nam đang mắc phải căn bệnh rất trầm trọng. Không thể ra sau vườn kiếm mớ lá vào xông mà khỏi bệnh. Cần phải mổ xẻ để tìm căn nguyên thì mới mong chữa lành khối u được. Và một khi phải dùng dao kéo để mổ xẻ, ắt gây đau đớn. Người viết không phải là thầy thuốc, chỉ làm việc định bệnh mà thôi. Còn muốn được lành bệnh hay không là do quyết định của con bệnh.

Có một độc giả viết Email chất vấn người viết như sau:

  Ông bảo rằng vua chúa triều Nguyễn phạm tội diệt chủng dân Chàm, con cháu Nhà Nguyễn chịu tội quả báo thì còn nghe được. Những người họ Trần, họ Lê, họ Phạm … mắc mớ gì phải chịu chung số phận?

Tôi xin thưa:

  Luật Nhân Quả, có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Thí dụ, một người chưa tới số chết, nhưng đi trên chiếc tàu mà người điều khiển con tàu tới số chết, phạm vào lỗi lầm kỹ thuật, khiến cho những hành khách trên tàu cùng bị chết theo. Đó gọi là cộng nghiệp. Nhà lãnh đạo Đất Nước cũng giống như người cầm lái con tàu.

Tôi không vô lễ, vô ơn đối với các bậc tiền bối. Chẳng qua vì lời nguyền rủa của những người vô tội bị chết oan, mà dân mình mới ra nông nỗi này. Chủ nghĩa cộng sản là một tôn giáo (đạo) của ma quỷ. Nó trở nên thích hợp cho những oan hồn sử dụng để báo thù. Trong Kinh Thánh cũng có nói đến Thiên thần Lucifer chống Chúa Trời, bị Thiên thần Michael đánh bại và bị đặt tên là Satan. Cộng sản chính là con quỷ Satan đã nhập vào thân xác Việt Nam để hủy diệt nòi giống Việt Nam. Người Cha đẻ của chế độ Cộng Hòa Việt Nam đã bị giết chết, vì không có kính chiếu yêu giống như Tề Thiên Đại Thánh sở hữu, để biết trong đám cận thần đứa nào là người, đứa nào là ma.

Hãy cho rằng những trí thức Việt Nam quá khát khao độc lập, tự do, hạnh phúc, nên họ không nhìn thấy Hồ Chí Minh là một tên cờ gian bạc lận, đạo đức giả, bày trò kháng chiến chống Thực dân Pháp là bịp. Nhưng sau cái gọi là Cải Cách Ruộng Đất long trời khiến hàng trăm ngàn người dân vô tội bị đấu tố một cách nhục nhã, bị giết hại một cách tàn bạo, tại sao lại có bọn người mang danh nghĩa trí thức ở Miền Nam được tự do sung sướng, ăn trên ngồi trước vẫn không thấy sự bất nhân bất nghĩa của quân cộng sản khát máu, mà lại âm thầm làm tay sai cho quỷ sứ? Vậy chỉ còn câu trả lời xác đáng nhất là bọn trí thức, bọn Tướng lãnh phản bội ấy bị ma ám, quỷ hành mà thôi!

Năm 1954, hai phe Cộng sản và Tư bản cắt đôi nước Việt Nam ra làm hai mảnh. Cựu Hoàng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm từ Hoa Kỳ sang Paris để giao trọng trách lãnh đạo Miền Nam. Cựu Hoàng chọn ông Ngô Đình Diệm là đúng, vì biết ông Diệm là một người hết lòng yêu nước Việt Nam. Khi mới ngoài 30 tuổi, ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại (Thủ tướng) vì Thực dân Pháp không thỏa mãn yêu sách của ông, đủ chứng tỏ ông không tham quyền cố vị. Mấy ai có hành động bất khuất, không ham chức tước, không ham quyền hành như ông Diệm? Thấy tình hình quá khó khăn, ông Diệm ban đầu từ chối vì tự nghĩ không thể đảm đương nhiệm vụ. Cuối cùng, Cựu Hoàng đã phải kêu gọi tình thần ái quốc, trách nhiệm đối với các bậc Tiên Đế thì ông Diệm mới nhận lời. Bọn Việt Cộng tuyên truyền ông Diệm là tay sai của Hoa Kỳ, mà trong đó có bọn trí thức ngu đần ở Miền Nam cũng phụ họa theo.

Nếu nước Việt Nam nằm vào vị trí trong một góc khuất của thế giới, như Tân Cương, Tây Tạng thì không việc gì Hoa Kỳ phải nhảy vào can thiệp. Theo thuyết Domino, Hoa Kỳ cho rằng nếu quân cờ Domino Miền Nam đổ, thì sẽ kéo những quân cờ khác như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba … đổ theo. Đáng lý ra, trí thức Miền Nam phải vui mừng vì nhờ vị trí đặc biệt của nước mình, nên được Hoa Kỳ giúp đỡ để có phương tiện tài chánh, quân sự nhằm trả thù cho những đồng chí của mình bị cộng sản thủ tiêu và nhằm chống làn Sóng Đỏ đang ập tới. Trái lại, họ chia rẽ nhau và chống đối nhau còn quyết liệt hơn cả chống lại kẻ thù của dân tộc. Tại sao giai cấp trí thức được chế độ Miền Nam trọng vọng, ưu đãi không thấy rằng nếu Việt Cộng chiếm được Miền Nam thì số phận của họ chẳng khác gì các địa chủ ở Miền Bắc bị Việt Cộng đem ra đấu tố, tàn sát? Chỉ có hai chữ “quỷ ám” thì mới lột tả nổi sự ngu độn của trí thức mà thôi!

Có một số bạn đọc tỏ ra bất bình vì tôi thường chê bai giai cấp trí thức. Không! Tôi rất kính trọng người trí thức, vì tôi cho rằng họ được trời ban cho trí thông minh để học hành đỗ đạt. Bằng cấp là thước đo trình độ nhận thức để biết cái đúng, cái sai hơn người kém học vấn. Không ai gọi người lao động, người nông dân chân lấm tay bùn là trí thức cả. Người trí thức là sự kết tụ của khí thiêng sông núi. Họ phải tự nhận thấy họ có trách nhiệm và bổn phận hướng dẫn tư tưởng quần chúng để đưa dân tộc lên một tầng cao Văn Hóa. Những sinh viên đã dấn thân tham gia vào các đảng cách mạng như Đại Việt, Quốc Dân Đảng vừa chống Pháp vừa chống Cộng, đều là những người yêu nước, có lý tưởng dân tộc. Tại sao họ không lợi dụng việc Hoa Kỳ giúp phương tiện tài chánh, quân sự cho Miền Nam là cơ hội bằng vàng để trả thù cho những đồng chí bị Việt Cộng thủ tiêu, mà lại chia rẽ nhau và chống lại chính quyền ông Diệm một cách quyết liệt. Chẳng lẽ họ không hiểu “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” hay sao?

Ông Ngô Đình Diệm về nước lãnh một bãi rác khổng lồ. Những đầu nậu của ổ điếm Bình Khang, sòng bạc Kim Chung và sòng bạc Đại Thế Giới là dân dao búa lũng đoạn nền hành chánh do Thực dân Pháp để lại. Công An và Cảnh sát là hai cơ quan giữ gìn an ninh, trật tự xã hội đa phần là tay sai Thực dân Pháp hoặc là đàn em của đầu nậu tứ chiếng giang hồ như Năm Lửa, Bảy Viễn.

Mặc dầu biết Trung tướng Nguyễn văn Hinh một người Việt Nam mang Quốc tịch Pháp   làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia do Pháp thành lập, nhưng ông Diệm vẫn mời giữ nguyên chức vụ cũ để xây dựng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông Tướng Hinh từ chối và trả lời một câu rất ngạo mạn: “Tôi không biết ông là ai!”. Ông Tướng Hinh bỏ nước Việt Nam, trở về Pháp, gia nhập Quân Đội Pháp và được Pháp ban đầu gắn cho cái lon Trung tá. Những sĩ quan Việt Nam trước kia phục vụ dưới quyền Tướng Hinh, giữ chức vụ cao nhất là Tiểu Đoàn trưởng (nhưng vẫn còn làm phụ tá cho sĩ quan Pháp), như các ông Dương văn Minh, Lê văn Kim, Trần văn Đôn, Phạm Xuân Chiểu, Thái Quang Hoàng, Dương văn Đức, Tôn Thất Đính, Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh v… v… theo phò Thủ tướng Ngô Đình Diệm, được ông Diệm thăng  cấp để nắm giữ những chức vụ chỉ huy như Sư Đoàn, Quân Khu và để xây dựng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung, do hoàn cảnh lịch sử, các vị này chưa ai đủ khả năng để nắm giữ Đại Đơn Vị và chưa có thành tích trận địa chiến nào đáng kể. Họ được giữ chức vụ lớn là do nhu cầu thời thế.

Tuy mang danh là sĩ quan Quân Đội Quốc Gia, nhưng có thể nói rằng khi các vị trở thành Chỉ huy Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, chưa chắc đã có vị nào từng đọc bài “Hịch Tướng Sĩ” của Đức Trần Hưng Đạo. Tôi từng có dịp lái máy bay chở các vị đi họp, đi thị sát mặt trận. Tôi thường nghe họ trao đổi giữa nhau bằng tiếng Pháp. Với cái thái độ coi thường tiếng Mẹ Đẻ, thì tinh thần Quốc Gia đâu có, để chống lại chủ nghĩa “Vô Tổ Quốc” của cộng sản? Nhất là khi thấy Tướng Tôn Thất Đính lúc nào cũng cầm cây gậy chỉ huy (bâton de commandement) trên tay có vẻ hách, giống như các ông quan Tây mà hồi nhỏ tôi từng chứng kiến.

Cán bộ hành chánh cũng do Thực dân Pháp đào tạo, nên phần lớn là công chức “cạo giấy”, chứ chẳng có một chút gì tinh thần Quốc Gia và hiểu biết gì về thủ đoạn tàn ác chủ nghĩa cộng sản để có thể tranh luận tay đôi với Việt Cộng, mặc dầu cán bộ Việt Cộng chỉ là những con vẹt, nói thao thao bất tuyệt, nhưng toàn là ngụy biện. Những quan Đốc Phủ sứ vẫn với tác phong “tối sâm-banh, sáng sữa bò”, thì ông Diệm có muốn làm cuộc cách mạng chống Cộng sản cũng khó lòng thực hiện. Bà Ngô Đình Nhu – Dân biểu Quốc Hội – làm Luật Gia đình nhằm mục đích nâng cao phẩm giá người phụ nữ Miền Nam, cũng bị xuyên tạc. Với dân trí thấp kém do bị đô hộ lâu ngày, làm sao ông Ngô Đình Nhu có thể thực hiện chủ thuyết “Cần Lao Nhân Vị”?

Tuy bị Giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo chống đối và đảng phái chính trị như Đại Việt và Quốc Dân Đảng bất hợp tác, chúng ta phải cảm phục Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã mang lại sự ổn định. Guồng máy Chính quyền từ Hành Chánh đến Quân Đội không có nạn tham nhũng, vì cái uy và sự sống thanh bạch của ông Diệm đã làm cho các quan chức không dám lộng hành. Năm 1959,  Tổng thống Diệm sang thăm Hoa Kỳ được Tổng thống Dwight Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles ra tận phi trường đón tiếp với nghi lễ ngoại giao rất trịnh trọng. Ông Diệm là nhà lãnh đạo Á Châu duy nhất được Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ mời đọc diễn văn. Báo chí Mỹ cũng ca ngợi và so sánh tài năng và uy tín của Tổng thống Ngô Đình Diệm ngang hàng với Thủ tướng Nehru của Ấn Độ. Từ một đống rác, Saigon trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông, khiến cho các nước chung quanh như Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan mơ ước.

Năm 1960, có hai biến cố quan trọng. Thứ nhất, Trung Ương Đảng Lao Động (Cộng sản) ra Nghị quyết thay đổi chủ trương đấu tranh chính trị chống chính quyền Ngô Đình Diệm bằng đấu tranh quân sự. Việt Cộng thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và chính thức ra mắt vào ngày 20 tháng 12 tại Tây Ninh. Thứ hai, Tổng thống John Kennedy đắc cử vào tòa Bạch Ốc.

Chính sách của Mỹ dưới thời đảng Cộng Hòa ở tòa Bạch Ốc cũng bị thay đổi. Cố vấn chính trị về Đông Dương của Tổng thống John Kennedy là Averell Harriman có vợ người Pháp, chủ trương trung lập hóa nước Lào giống như đề nghị của Tổng thống Pháp Charles De Gaulle. Tổng thống Ngô Đình Diệm không đồng ý, vì như thế là giúp Hà Nội đưa quân qua ngã Lào để xâm lăng Miền Nam. Cùng năm đó, Trung tá Vương văn Đông – một sĩ quan tay sai của Pháp – làm cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 với sự tham dự của Đại tá Nguyễn Chánh Thi – Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù – một người rất được Tổng thống Diệm tin cậy. Phía dân sự có Hoàng Cơ Thụy – anh của Tướng Hoàng Cơ Minh – và một số đảng viên Quốc Dân Đảng tham gia. Nhà văn Nhất Linh cũng bị đàn em cung khai có dính líu đến cuộc đảo chánh. Năm 1963, Nhất Linh đòi hỏi không đối chất với đàn em trước tòa. Yêu sách của Nhất Linh không được chính quyền chấp thuận và ông quyết định tự tử với bức thư tuyệt mạng “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do. Ngày 7-7-63”.

Người Mỹ dùng Miền Nam làm tiền đồn ngăn làn sóng Đỏ Cộng sản, đồng thời đòi hỏi lãnh đạo Miền Nam thiết lập một chế độ dân chủ là phi lý. Việt Nam nhiều năm sống dưới nền quân chủ chuyên chính và nền đô hộ của Thực dân, người dân chưa hề có ý niệm về dân chủ thì không một lãnh tụ nào có thể kiến tạo nền dân chủ. Miền Nam đang đứng trước nguy cơ xâm lăng của một bầy dã thú được huấn luyện để trở thành người máy không tim, không óc. Bằng cớ là những Tướng lãnh Việt Cộng như Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Trần văn Trà … đêu ngu, vì không thấy mình là công cụ của một lũ người man rợ đi tiêu diệt nền văn minh như nhà văn Dương Thu Hương nhận ra ngay sau khi bước chân vào một hiệu bán sách của Sài Gòn. Tướng Trần Độ, Trần văn Trà khi bị Đảng thất sủng, thì mới biết mình ngu!

Người Mỹ quan niệm rằng chỉ cần Chính quyền cho mỗi gia đình người dân Việt Nam một cái nhà, cái máy truyền hình, cái tủ lạnh, cái xe máy thì tự nhiên hết cộng sản. Đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Biết bao trí thức ở Miền Nam được địa vị cao, ở dinh thự của chính phủ, xe hơi có tài xế lái mà vẫn ngấm ngầm làm việc cho cộng sản đấy thôi! Miền Nam muốn chống Cộng hữu hiệu thì cần phải có một chính quyền mạnh về tình báo, phản gián và tuyên truyền. Tình báo, phản gián bí mật cài người vào các tổ chức quần chúng nhằm dập tắt kịp thời hành động phản phúc của những phần tử nằm vùng. Một hệ thống kiểm soát báo chí gắt gao để tìm ra tên ký giả nào chớm có tư tưởng phản động, ngầm ca ngợi kẻ thù là tóm ngay. 

Nhờ có một nhà nước độc tài của Tưởng Giới Thạch mà Đài Loan được giữ vững và có chế độ dân chủ. Nhờ có Phác Chính Hi độc tài mà Nam Triều Tiên mới trở thành nước Đại Hàn tân tiến, giàu mạnh và dân chủ tự do. Nhờ Lý Quang Diệu độc tài, dùng kỷ luật sắt dạy cho người hiểu thế nào là dân chủ, thì Tân Gia Ba chỉ là một đảo quốc nhỏ mà không thèm ngửa tay xin viện trợ của thế giới. Miền Nam thua trận là vì Tổng thống Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một nền dân chủ kiểu Tây phương, thì Việt Cộng mới có thể lợi dụng để cài người vào bộ máy chính quyền.

Để có một nền dân chủ thực sự, vấn đề giáo dục phải đặt lên hàng đầu. Miền Nam có một nền giáo dục nhân bản, khai phóng rất đáng ca ngợi. Nhưng đó cũng là cái chết của Miền Nam. Tại sao ư? Tại vì Miền Nam đang đối đầu với cuộc chiến chống ý thức hệ cộng sản, mà chương trình giáo dục không hề dạy cho học sinh, sinh viên những tiểu xảo, thủ đoạn tàn ác của cộng sản là hoàn toàn khiếm khuyết. Lại thêm hễ người nào có bằng cấp cao là được tuyển vào dạy học, mà không hề có cuộc sưu tra quan điểm, lập trường của đương sự thì càng nguy hiểm hơn. Cái thứ phản động như Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cho nó đi dạy học thì nó chỉ tiêm thuốc độc vào đầu óc học sinh ngây thơ. Đa số học sinh Miền Nam cố gắng học hành chăm chỉ để kiếm cơm, để có địa vị xã hội, không ý thức vai trò tượng lai của mình là khai dân trí, chấn dân khí. Đặc biệt họ né tránh vấn đề chính trị, trong khi Việt Cộng vận dụng chính trị tối đa để ngu dân. Tổng thống Diệm đề cao Giáo dục, nhưng không ra lệnh cho Bộ Giáo dục dạy cho học trò hiểu cộng sản là loài quỷ sứ không tim không óc. Vì thế,  Đại Học Huế là một hang ổ Việt Cộng nằm vùng dưới sự chỉ đạo của bác sĩ Lê Khắc Quyến, Bí thư Chi bộ Thuận Hóa.

Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Dương văn Minh đứng đầu lật đổ “chế độ độc tài Ngô Đình Diệm” là bất chính. Tại sao ư? Nếu kết tội anh em ông Diệm là độc tài, tại sao Quân Đội không đưa anh em ông Diệm ra tòa án xử như một Quốc gia thượng tôn luật pháp? Nếu bảo rằng ông Diệm là tội đồ, tại sao không có ông Tướng nào đứng ra tuyên bố “tôi là người xử bắn anh em ông Diệm” để được quần chúng tôn vinh là người hùng? Cho nên, Tổng thống Lyndon Johnson mới dám gọi bọn Tướng lãnh Miền Nam là một lũ côn đồ (gang of thugs)! Thế có đau không, hỡi những quân nhân phục vụ dưới sự chỉ huy của các ông Tướng? 

Dù là một sĩ quan cấp nhỏ, tôi khinh các ông Tướng vì không ông nào đứng lên chống cái việc Dương văn Minh hủy bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược. Quốc sách Ấp Chiến Lược rất hữu hiệu, vì nó đã phá vỡ chủ trương “lấy nông thôn bao vây thành thị của cộng sản”. Vậy cuộc đảo chánh lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa năm 1963 phế bỏ Quốc Sách chống Cộng hữu hiệu mà gọi là “Cách Mạng”, thì chính danh hay phi nghĩa?

Ông Ngô Đình Nhu đã tiên đoán trong sách “Chính Đề Việt Nam” do ông viết rằng nếu chế độ này mà sụp đổ thì chừng 9 hoặc 10 năm sau Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Ông Nhu tiên đoán đúng, vì bọn Tướng phản bội ít học, không được tình yêu nước hun đúc, không có tầm nhìn để thấy nguy cơ cộng sản trước mắt, nhưng lại có súng trong tay thì chỉ đảo chính, chỉnh lý nhau liên tục để tranh quyền đoạt lợi mà thôi!

Cộng sản Hà Nội khinh bỉ trí thức, coi trí thức không bằng cục cứt. Ở Miền Nam, có một bọn trí thức được trọng vọng, được ưu đãi, được hưởng đặc quyền đặc lợi, lại tự động biến mình thành cục cứt đi làm tay sai cho cộng sản. Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa bị bọn Việt Cộng giả danh Phật giáo lật đổ, anh em ông Diệm không còn, các cuộc đấu tranh của những anh đội lốt Thầy Tu vẫn tiếp tục tranh đấu, mà không một nhà trí thức Phật giáo nào lên tiếng phản đối, thì có phải trí thức Phật giáo đồng lõa với quân cướp nước, đúng không? Mời các nhà trí thức Phật giáo hãy lên tiếng biện minh cuộc đấu tranh của Trí Quang là thực sự bảo vệ Đạo Pháp cho mọi người xem.

Cuộc chiến đấu gan dạ, dũng cảm của quân và dân Việt Nam Cộng Hòa để có đời sống Tự Do, Cơm No, Áo Ấm là hoàn toàn có chính nghĩa. Nhưng vì lời nguyền rủa của một dân tộc bị tổ tiên Việt Nam xóa sổ, khiến cho hàng Tướng lãnh chỉ huy Quân Đội trở nên ươn hèn, bất xứng ; hàng lãnh đạo tôn giáo phá đạo của mình; lãnh tụ đảng phái chia rẽ; xôi thịt; giai cấp trí thức trở thành khoa bảng, không đóng vai trò kẻ sĩ cần thiết cho trí tuệ dân tộc. Xin bạn đọc đừng nghĩ rằng tôi vạch áo cho người xem lưng. Cái lưng của Miền Nam như thế nào, ngày nay ai cũng thấy, nhưng ngại ngùng không dám nói ra thôi! Tôi dám nói vì tôi nhìn thấy căn bệnh Việt Nam là do bị quỷ ám. Nhà ái quốc Ngô Đình Diệm bị giết chết một cách man rợ. Tên tội đồ Hồ Chí Minh được đúc tượng đem vào Chúa thờ. Tôi tin rằng đó là lời nguyền rủa của oan hồn người Chàm lên dân tộc Việt Nam ta.

Xin bạn đọc theo dõi bài viết tới.

Bằng Phong Đặng văn Âu

Email Address: bangphongdva033@gmail.com

Telephone: 714 – 276 – 5600

Westminster, ngày 14 tháng 6 năm 2022

Sunday, June 12, 2022

ĐỊNH MỆNH AN BÀI - BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

 

ÐỊNH MỆNH AN BÀI

 
                                          Tác giả: Bằng Phong Đặng Văn Âu


Trước 1975, tác giả là một phi công chiến đấu. Tại Hoa Kỳ, nhiều bài viết của ông thường được phổ biến trên báo giấy, báo mạng trong sinh hoạt cộng đồng và các hội đoàn cựu quân nhân VNCH. Bài viết ông góp cho Viết Về Nước Mỹ kể về một tình yêu đầu đời ly tan và tái hợp đúng như lời một bà thầy bói đã tiên đoán.

* * *

Tôi ra đời vào năm Canh Thìn, cầm tinh con rồng, cho nên tôi mơ giấc mơ hải hồ, được bay cao bay xa như ông Saint Exurpéry (tác giả cuốn Vol de Nuit và cuốn Le Petit Prince). Sở dĩ tôi thỏa được giấc mộng của mình là vì nhờ Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến Việt Nam, họ cần đào tạo những phi công cho chiến trường. Nếu không, giấc mơ của tôi sẽ không thành hiện thực, vì tôi chẳng thể nào có tiền để được huấn luyện trở thành phi công. Sở phí đào tạo một người có thể lái máy bay tốn kém rất lớn.

Có hôm tôi hỏi Mẹ tôi, tại sao con tuổi Thìn mà trên giấy khai sinh của con lại ghi năm 1942? Mẹ tôi đáp: "Thời buổi chiến tranh, giấy tờ thất lạc, lại chạy tản cư liên miên, Mẹ phải làm tờ "thế vì khai sinh" và khai trụt tuổi cho con thì nhà trường mới nhận con vào học". À ra thế! Thảo nào số quân của tôi là 62/600356, lẽ ra phải bắt đầu số 60 để chỉ những lớp người sinh năm 1940. Căn cứ trên tờ "thế vì khai sinh", chánh quán của tôi là làng Nho Lâm, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trú quán là làng Phổ Tây, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Thầy (Bố) tôi là bác sĩ, được đổi đi công tác nhiều tỉnh khác nhau, nên tôi có thể bắt chước người giúp việc trong nhà để nói các giọng Bắc, Nam, Trung.

Năm 1945, Thầy tôi qua đời vì căn bệnh ruột dư (Appendicitis) được bác sĩ giáo sư Huard của trường Đại Học Y Khoa Hà Nội - một danh y thời bấy giờ - giải phẫu. Không may Thầy tôi bị nhiễm trùng mà không có thuốc trụ sinh vì cuộc chiến tranh giữa Đồng Minh và Quân đội Nhật hoàng xảy ra. Mẹ tôi lúc bấy giờ mới 38 tuổi, khá đẹp, mà nhất quyết ở vậy thờ chồng nuôi con, chứ không chịu bước thêm một bước nữa, mặc dầu có nhiều đàn ông xứng đáng đến ngỏ lời cầu hôn bà.

Tôi là đứa bé khá ngờ nghệch, được Mẹ cho đi học thì cắp sách đến trường; chứ không hề biết học để làm gì? Tôi chưa từng có ý niệm rằng học để trở nên người hữu dụng cho tương lai xứ sở. Do đó, cuối niên khóa được lên lớp là do sự may mắn, hơn là do sự cố gắng bản thân. Khi lên lớp Đệ Lục, tôi nghe Mẹ tôi nói một câu làm tôi tỉnh ngộ: "Gắng học đi con để sau này ấm vào thân. Nếu cứ lười biếng thì sau này chỉ có nước đứng đường thôi con ạ!" Đứng đường tức là làm người ăn mày lạy ông đi qua, lạy bà đi lại; chứ không phải là làm thầy đội Cảnh sát đứng đường điều khiển cho xe cộ lưu thông!

Từ đó, tôi tỉnh ngộ và bắt đầu thời điểm đó, tôi chăm chỉ học, nên cuối niên học nào tôi cũng đều được lĩnh phần thưởng về các môn Toán, Lý Hóa, Anh, Pháp văn, Việt văn. À, cũng xin nói thêm, trước kia, làm cho xong một bài luận quốc văn là một cực hình đối với tôi. Nhưng nhờ học thêm Pháp văn với thầy Trần văn Thông, gần nhà thờ Phủ Cam - Huế, được thầy dạy pháp cú "analyse logique, analyse grammaticale" khiến cho tôi viết câu văn tiếng Việt sáng sủa hơn với đầy đủ chủ từ, động từ và túc từ. Ông bà mình nói không sai: "Không thầy, đố mày làm nên!". Mỗi khi viết một bài văn nào, tôi đều nhớ ơn thầy Trần văn Thông.

Nhân đây, tôi cũng xin nhắc lại một việc: Mẹ tôi là người thầy dạy vỡ lòng cho tôi về chữ Hán và chữ Pháp. Câu Hán văn và Pháp văn mà Mẹ tôi muốn xây dựng con người tôi như sau: "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (Giàu không tham, nghèo không hèn, mạnh không sợ) và "Gravez les bienfaits sur le marble; les malfaits sur le sable" (Khắc ghi những nghĩa cử trên đá cẩm thạch; những điều bội bạc trên cát). Suốt đời tôi cố gắng thể hiện cung cách ứng xử trong cuộc sống như lời Mẹ dạy.

Kết quả thi Trung học Phổ thông, Tú tài I hay Tú Tài II, tôi đều đậu bình, một phần do may mắn! Nghiệm ra, tôi không đến nỗi đần, mà chỉ phải tội chậm trí khôn. Vào trường đời, tôi cũng thuộc loại chậm trí khôn, vì không biết cách làm đẹp lòng thượng cấp, mặc dầu chưa bao giờ kiếm cớ thoái thác một phi vụ nào do căn bệnh... lạnh cẳng.

Nhớ có lần tôi đã phạm vào một điều dại dột trong cuộc họp hành quân. Đó là lúc tôi đứng lên phản đối cấp trên lấy tên chiến dịch Cầu Không Vận là "Kỳ Duyên Mai" (phương danh của đương kim Tư Lệnh, con và vợ). Theo tôi, đáng lý ra phải lấy tên của một vị anh hùng trong lịch sử dân tộc đặt tên cho chiến dịch thì mới đúng! Do "sự cố" ấy, tôi được bạn hữu trong đơn vị đặt cho cái hỗn danh "Đặng văn Ẩu" vì dám công khai "chống" lại thượng cấp. Thật tình, tôi chưa hề làm "ẩu" điều gì để phạm vào quân phong quân kỷ! Tôi lên tiếng vì lợi ích chung. Chẳng qua, nghĩ mình cứ hành xử như lời Mẹ dạy mà thôi.

Tôi có một người Mẹ tuyệt vời, hết lòng thương con, nhưng tôi đã phạm vào ba trọng tội mà tôi nghĩ rằng mình là đứa con bất hiếu. Lòng tôi cứ dằn vặt, ăn năn, hối hận, ray rứt khôn nguôi. Đó là:

Thứ nhất, Mẹ tôi muốn tôi theo học ngành y khoa để nối nghiệp thân phụ tôi. Theo bà, nghề bác sĩ giúp con bà cứu nhân độ thế để hưởng phước. Tôi đã gia nhập vào Không Quân, trái với ước nguyện của Mẹ hiền.

Thứ hai, Mẹ tôi đã thể theo lời xin của tôi để dạm hỏi cô nữ sinh học trò của tôi cho tôi, nhưng cuối cùng tôi đã phản bội nàng để kết hôn với người khác. Tôi đã làm cho Mẹ tôi trở thành kẻ bội ước với thông gia.

Thứ ba, cuối tháng Tư năm 1975, tôi đã không ép Mẹ tôi bằng cách "cưỡng bức" bà lên xe để thoát ra khỏi nước, chỉ vì bà nói bà không muốn bỏ nắm xương nơi quê người. Mẹ tôi đã qua đời trong đói lạnh, cô đơn ở quê nhà. Tôi đã khóc òa như một đứa bé khi hay tin Mẹ mình khuất núi.

Hơn 37 năm sống ở quê người, tôi ao ước có dịp về nước, đến trước mộ phần của Mẹ để nói lời tạ tội. Nhưng bởi lo ngại an ninh bản thân, tôi cứ chần chừ vì đã viết nhiều bài đăng trên mạng lên án gắt gao chống lại chính sách cai trị tàn ác của chế độ hiện hành. Tháng 8 năm 2011, có lẽ cuộc nhân duyên giữa vợ chồng chúng tôi đã dứt, tôi liều mình về quê nhà để thể hiện sự sám hối của mình trước vong linh Mẹ.

Khi về đến phi trường Nội Bài, Hà Nội, tôi "được" hai cán bộ an ninh văn hóa "trao đổi" hơn 90 phút và ba ngày sau tại khách sạn cũng "được" nhân viên an ninh chiếu cố hơn 4 giờ đồng hồ. Tôi sẽ tường trình nội vụ này vào một dịp khác. Từ Hà Nội, tôi gọi điện thoại cho một người bạn học từ thời tiểu học báo tin tôi đang ở Hà Nội. Bạn tôi ban đầu không tin, vì nghĩ rằng tôi không dám về.

Đúng thế! Từ lâu tôi không về nước vì vợ tôi ngăn cản. Nàng sợ nhỡ tôi bị bắt giam thì nàng sẽ phải tốn tiền để chuộc tôi ra. Nay, duyên nợ giữa nhau đã dứt. Nàng không còn trách nhiệm gì với bản thân tôi, nếu tôi về để bày tỏ sự hối hận với vong linh Mẹ mà bị bắt giữ thì tôi cũng cam lòng.

Bạn tôi biết đích xác tôi đang ở Hà Nội, sau khi nhìn vào "caller ID" hiện ra trên điện thoại của anh. Bạn tôi nói (xin lặp lại nguyên văn ngôn ngữ địa phương Huế): "Mi có về Huế thăm mộ O (tức Mẹ tôi) thì nhớ gọi cho hắn nghe!". Chữ "hắn" trong câu nói của bạn tôi là vị hôn thê mà tôi đã bội tình thưở trước. Anh bạn cho tôi số điện thoại của nàng. Có số điện thoại được bạn cho, tôi vẫn không dám gọi nàng, vì tự hỏi: "Gọi để nói gì bây giờ? Nhỡ khi nghe mình xưng tên, nàng sẽ thốt lên những lời xỉ mắng vì sự bội bạc của mình hoặc nàng cúp máy không thèm nói chuyện thì bẽ bàng vô cùng".

Hai ngày sau, bạn tôi gọi và hỏi: "Mi đã gọi cho hắn chưa?". Tôi đáp: "Chưa!" Bạn tôi có vẻ nôn nả: "Tại răng mi không gọi cho hắn?". Tôi nói về lý do sự ngại ngùng do dự của tôi, bạn tôi cười: "Mi còn nhớ đến chuyện hai đứa bây đi xem bà thầy bói Bụi không?". Tôi đáp: "Chừ mi nhắc thì tau mới nhớ, nhưng có liên quan gì trong việc tau gọi điện thoại cho hắn?". Bạn tôi trả lời một cách quả quyết: "Hắn còn yêu mi và chờ mi về đó. Tính đến nay đã là 38 năm kể từ ngày hắn ly dị chồng hắn. Tau đã giới thiệu mấy thằng bạn giáo sư đồng nghiệp của tau cho hắn mà hắn không bằng lòng đứa nào hết. Hắn nhất quyết đợi ngày mi trở về đó. Mi hãy mau mau mà gọi cho hắn đi". Nói xong một hơi dài, bạn tôi cúp máy điện thoại.

Hồi tưởng lại chuyện quá khứ. Năm 1963, chúng tôi sửa soạn làm đám cưới. Hôn thê của tôi kéo tôi đi xem bói bà thầy bói Bụi, vì bà nổi tiếng bói rất đúng. Chiều lòng người yêu, tôi cũng đi, nhưng tôi chẳng bao giờ tin nhảm. Sau khi hỏi tuổi tác chúng tôi, bà thầy gieo quẻ, rồi đoán: "Cuộc hôn nhân của hai anh chị sẽ không thành!". Nghe bà thầy nói thế, gương mặt người yêu tôi tái đi, còn tôi tỏ ra giận dữ: "Bà thầy nói bậy, chúng tôi yêu nhau, cha mẹ hai bên đều đồng ý. Lý do nào mà bà nói không thành? Tôi đập mu rùa của bà bây giờ!". Bà thầy bình thản trả lời: "Chừng nào cuộc hôn nhân của hai anh chị thành thì anh trở lại đây đập mu rùa của tôi cũng chưa muộn!". Trước sự quả quyết của bà thầy bói, vị hôn thê của tôi khóc nức nở. Tôi xoa lưng nàng và trấn an: "Bói toán nhảm nhí, em tin làm gì?". Có lẽ cảm động vì những giọt nước mắt của người yêu tôi, bà thầy nói: "Tình duyên của hai anh chị phải trải qua một đoạn đường dài chia ly rồi mới thành tựu. Anh này có đi cùng vành non nước đi nữa thì sau tứ tuần hoa giáp, anh cũng sẽ trở về với chị thôi!". Đang bực tức vì lời tiên đoán của bà thầy làm người yêu tôi khóc, tôi hỏi: "Tôi không rành chữ Nho. Bà nói tứ tuần hoa giáp là nghĩa lý gì?". Bà thầy lại bình thản giải thích: "Hoa giáp là 12 năm, tứ tuần hoa giáp là 48 năm. Tôi quả quyết rằng 48 năm sau anh sẽ về tác hợp tình duyên với cô này".

Tôi vẫn cho rằng bà thầy bói nói nhảm. Nhất định không tin. Chẳng ngờ cuộc hôn nhân giữa hai chúng tôi bất thành. Vì tuổi trẻ thiếu bản lĩnh, tôi đã phạm vào một trọng tội mà thâm tâm tôi không bao giờ dụng ý phản bội ý trung nhân của tôi. Khi tôi thú nhận với vị hôn thê của tôi rằng tôi trót rơi vào một tình trạng khó xử, nàng nói trong nước mắt: "Số trời đã định vậy, em chấp nhận hy sinh". Tôi quá hổ thẹn trước tấm lòng quảng đại, vị tha của người yêu. Tôi quá xót xa cho nàng, nhưng chẳng biết làm sao hơn.

Tuân theo lời khuyên của bạn, tôi bấm số điện thoại gọi cho nàng và hy vọng không bị nàng buông những lời nói phũ phàng hay gác máy không thèm tiếp. Khi tôi nói tôi là ai qua máy điện thoại thì đầu dây phía bên kia có tiếng cười thật tươi reo lên: "Anh đó à? Anh về rồi đó à? Em đây! Đúng 48 năm rồi đó anh hí!".

Năm 1963 tôi chia tay nàng. Năm 2011 tôi lần đầu tiên gọi điện thoại cho nàng từ Hà Nội đúng 48 năm sau. Không còn do dự gì nữa, khi về Huế lạy tạ lỗi vong linh Mẹ, tôi sẽ tìm gặp người yêu xưa. Nếu định mệnh dun dủi, tôi có cơ duyên sẽ tiếp nối cuộc sống còn lại với người vợ (sắp cưới) đầu đời thì cũng là ý trời. Tôi nghĩ thế! Bốn mươi tám năm trước tôi thú tội với người yêu, nàng không một lời trách móc, giận hờn. Bốn mươi tám năm sau gọi điện thoại thăm người yêu xưa, nàng đã không buông lời giận hờn trách móc mà còn reo lên một cách sung sướng giống như người thiếu phụ chờ chồng sau cuộc vạn lý trường chinh.

Gặp người yêu xưa, tôi đã quỳ xuống xin lỗi nàng và xin nàng rộng lòng tha thứ. Nàng vội cầm lấy hai tay tôi và nâng tôi đứng dậy, rồi ôm tôi một cách âu yếm nồng nàn. Xưa nay, tôi chưa bao giờ được nàng ôm chặt đến như thế. Trong giờ phút ấy, trước mắt tôi, nàng là hiện thân của Phật Bà Quan Âm hay Đức Bà Maria. Vì chỉ có con người bao dung thánh thiện mới tha thứ cho tôi một cách dễ dàng như thế!

Tôi kể cho nàng nghe chuyện tôi và vợ tôi đang trong tiến trình ly dị. Người yêu tôi nhẹ nhàng khuyên: "Anh hãy cố gắng về hòa giải với chị. Cả hai đã ở tuổi ngoài 70, chẳng còn sống được bao lăm! Em thui thủi một mình gần 40 năm nên quen rồi! Chỉ khi nào sự cố gắng hòa giải của anh bất thành, anh bị ruồng rẫy, hất hủi, gục ngã thì em sẽ vực anh đứng dậy! Chưa lúc nào em giận anh vì em tin cái số em như thế! Chưa lúc nào em thôi yêu anh!"

Sau cuộc chia tay giữa hai chúng tôi, nàng ngày ngày đi dạy học, nuôi Mẹ già và đứa em bị bệnh tâm thần. Nàng quyết sẽ không kết hôn với bất cứ ai. Nhưng cuối cùng nàng phải vâng lời yêu cầu của Mẹ vì nàng là người con chí hiếu. Nàng đành kết hôn với một người mà nàng không hề yêu. Tiếc thay! Người đàn ông ấy mắc chứng bệnh ghen tuông một cách kỳ lạ. Anh ta nhiều lần bạo hành với vợ một cách tàn nhẫn vì nghĩ rằng nàng còn ngoại tình trong tư tưởng, nghĩa là còn yêu tôi. Riêng tôi, tôi không hề liên lạc với nàng bằng dưới mọi hình thức nào để nàng yên thân bên chồng, bên con.

Không thể chịu đựng nổi người chồng vũ phu, nàng về sống với Mẹ và ly hôn chồng. Tin tưởng vào lời tiên đoán của bà thầy bói, nàng cương quyết chờ tôi. Chưa lúc nào tôi tin vào thuyết định mạng hay duyên nghiệp như thế, sau khi gặp gỡ nàng. Giả sử chồng nàng biết cách xử sự như một người có văn hóa đối với vợ thì dù không yêu chồng, nàng cũng không ly hôn vì cổ tục hoặc lễ giáo Huế không bao giờ chấp nhận người đàn bà ly dị chồng. Giả sử vợ chồng tôi có chuyện bất hòa dù nặng nề đến đâu, tôi cũng không thể bỏ vợ. Chẳng qua bị vợ xua đuổi, sỉ nhục mà tôi không thể chấp nhận là do số trời đã định đoạt để cho tôi trở về quê nhà và được biết người yêu xưa vẫn chờ mình. Bốn mươi tám năm sau tôi trở về quê để bái lạy hương hồn Mẹ tha thứ, tôi lại được người yêu xưa tha thứ. Biết đâu Ơn Trên đã dẫn đưa hai anh em chúng tôi về lại với nhau như bà thầy bói năm xưa đã dự đoán? Tôi rất ao ước được sống phần đời còn lại bên người yêu xưa. Chúng tôi không phải là hai kẻ bỏ vợ bỏ chồng để lấy nhau ở tuổi xế chiều. Chúng tôi trở về với nhau do sự an bài của định mệnh hay duyên nghiệp, tùy theo tín ngưỡng của mỗi người.

Tôi không ghi xuống đây chức vụ của mình từng đảm nhiệm trong quân ngũ, vì tôi nhớ đến Đặng Trần Thường, kẻ phò Nguyễn Ánh đắc thắng, đã hành xử thiếu quân tử đối với kẻ ngã ngựa vì mối thù trước kia. Thường ra câu đối buộc kẻ bại trận phải đáp:

"Ai công hầu, ai khanh tướng. Trong trần ai, ai dễ biết ai?". Ngô Thời Nhậm, kẻ phò vua Quang Trung trả lời:

"Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu. Gặp thời thế, thế thời phải thế!"

Đặng Trần Thường có cái vẻ vênh váo của kẻ chiến thắng với cái chức vị công hầu khanh tướng của mình. Trái lại, Ngô Thời Nhậm không tỏ ra hèn vì thua trận. mà phải khúm núm xin tha tội. Chẳng qua cái thời cái thế xoay vần xui nên đấy thôi!

Cái thời, cái thế, cái định mệnh, cái duyên nghiệp đã khiến cho chúng tôi đánh mất nhau. Rồi cũng chính cái thời, cái thế, cái định mệnh, cái duyên nghiệp đưa chúng tôi về lại với nhau. Tôi quỳ xuống xin lỗi người yêu xưa của tôi không phải tại vì tôi hèn, mà tại vì tôi sám hối và tôi ngưỡng mộ tấm lòng bao dung, cao cả, vị tha của nàng đã tha thứ cho tôi.

Nghĩ cho cùng, công hầu hay khanh tướng như Đặng Trần Thường tỏ ra kiêu hãnh, đối với tôi cũng chỉ là trò bãi biển nương dâu, chỉ là phù vân gió cuốn mây trôi. Tôi cho rằng cách ứng xử độ lượng giữa người với người với nhau mới là vĩ đại. Tôi rời Houston, Texas để về định cư tại Quận Cam của California. Bạn bè, bà con giúp đỡ tôi rất nhiều nên chỉ trong một thời gian rất ngắn tôi đã thu xếp cuộc sống tạm gọi là ổn định với đầy đủ tiện nghi. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến tất cả bà con, bạn bè. Xin xác nhận rằng câu nói "Ở hiền gặp lành" của tiền nhân rất chính xác. Tôi đã được bà con, bạn bè giúp đỡ tận tình. Mỗi ngày tôi đều đọc Kinh Chú Đại Bi và đọc sách Phật để thấm nhuần lẽ vô thường của Tạo Hóa. Bài kinh sám hối đọc từ thưở còn là đồng niên Phật tử Gia đình Chơn Tuệ tôi vẫn nhớ:

"Đệ tử kính lạy Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, thập phương chư Phật cùng Thánh, Hiền, Tăng. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận, kiêu căng, si mê, lầm lạc. Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm, thành tâm sám hối. Thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành... Ngửa trông ơn Phật, từ bi gia hộ, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, ngày ngày an vui tu tập, phép Phật nhiệm mầu để mau ra khỏi luân hồi..."

Thiết nghĩ, chỉ có tình yêu thương gồm có lòng bao dung, sự quảng đại, tính vị tha, tình lân tuất thương yêu kẻ nghèo khó, hoạn nạn là trên hết mọi sự trên đời, vì nó giúp ta quên được cái "NGÃ" vị kỷ thì tự khắc mình sẽ cảm thấy hạnh phúc trong đời.

Thưa tất cả bằng hữu,

Tôi đang hành trì đạo Từ Bi của Đức Phật. Xin các bạn cầu nguyện cho tôi có ý chí bền bỉ. Xin cảm ơn tất cả. Xin cầu nguyện gia quyến của mọi người đều được an vui, hạnh phúc.


Bằng Phong Đặng văn Âu

Kỳ tới: “Nêu Có Kiếp Sau”, được viết bởi người mà tác giả Bằng Phong Đặng Văn Âu gọi là “người yêu đầu đời và cũng là người vợ hiện thời của tôi.”

============================================
 
 
NẾU CÓ KIẾP SAU


Tác giả: Nguyễn Thị Hồng


Tác giả là một nhà giáo, tốt nghiệp thủ khoa khoá 2 Sư Phạm Qui Nhơn. Sau đổi đời 1975, bà là cô giáo trường cấp 2 Thuận An. Bà cũng chinh là nhân vật mà trong bài viết “Định mệnh đã an bài,” tác giả Bằng Phong Đặng Văn Âu gọi là ““người yêu đầu đời và cũng là người vợ hiện thời của tôi.” Hai ông bà hiện là cư dân Westminster, CA. Sau đây là bài viết của bà.


* * *

Tháng 8 năm 1963, tôi xách chiếc va li nhỏ vào trường Sư phạm Quy Nhơn trước sự ngạc nhiên của bạn bè cùng lứa: "Con Hồng mà học Sư phạm Quy Nhơn ni à?".

Vâng, các bạn tôi không ngạc nhiên sao được, khi con bé Hồng tuy nhà quê, nhưng khi vào trường nữ trung học Đồng Khánh, từ Đệ thất đến Đệ nhị luôn giành ngôi vị đứng nhất lớp; chỉ khi qua Đệ nhất Quốc học mới chịu đứng thứ hai, (nên dỗi không đi lãnh phần thưởng thật là trẻ con!).

Thành tích học ấy là niềm mơ ước của các phụ huynh khá giả hồi đó để mong đưa con vào trường Dược, trường Y. Và chính tôi cũng từng ôm mộng như thế, nên khi vào lớp Đệ tam tôi đã không chọn ban Văn chương (ban C) dù tôi rất thích và khá giỏi hai môn Anh và Pháp ngữ, mà ghi vào ban Vạn vật (ban A), vì ông anh Cả ở Sài Gòn ra thăm bố mẹ tôi, biết thành tích học của tôi, nên hứa sẽ "nuôi" cho tôi học Dược ở Sài Gòn. Thế là tôi chúi đầu vào "gạo" Vạn vật và Lý Hóa để chuẩn bị được cầm cái bằng Tú tài II, hầu bước vào Đại học. Tôi vui mừng bay ngay vào Sài Gòn (với tấm vé mà cha tôi phải mượn tiền để mua). Nhưng oái ăm thay, ông anh Cả tôi đã quên lời hứa, kèm lời phán của bà chị Dâu: "O Hồng con gái học chi cho lắm, chỉ ích lợi mai sau chồng nhờ, thôi để tiền nuôi chú T (em trai tôi)..." Và khi tôi trở lại Huế thì đã quá muộn để ghi tên vào phân khoa Đại học, chỉ còn Sư phạm Quy Nhơn nhận đơn, tôi ghi danh thi và đậu ngay.

Các bạn ơi! Giờ đây tôi kể dông dài như trên không phải là nhằm mục đích khoe mẻ thành tích của người về già còn tiếc nuối cái quá khứ học giỏi của mình (để làm gì cơ chứ?!), mà chỉ để các bạn biết cho lòng tôi miễn cưỡng thế nào khi vào Sư phạm Quy Nhơn buồn tủi vì cha mẹ nghèo không đủ tiền cho con học cao, lại tự ái và sỉ diện hão với bạn bè cùng lớp tôi đã từng ray rứt với ý muốn bỏ trường bỏ bạn, rời xứ dừa sau mỗi biến cố của đời tôi. Nhưng ân tình sâu đậm của Thầy, của bạn mà tôi sắp kể dưới đây đã gắn số phận tôi với trường Sư phạm, với nghề giáo thân thương mà đến nay tôi rất đỗi tự hào.

Hai năm học ở trường Sư phạm Quy Nhơn tôi đã phải gánh chịu hai cái đại tang hai cái tang quá lớn trên đôi vai gầy của một cô gái ngây thơ bé bỏng. Có lẽ linh cảm điều đó không vui cho tương lai của tôi, nên chuyến tàu lửa mang tôi vào xứ dừa thật ảm đạm, tiếng bánh xe sắt của con tàu đều đặn lăn trên đường rầy hòa với tiếng chong chóng quay ầm ào của hai chiếc trực thăng hộ tống vần vũ trên đầu toa xe (đề phòng VC tấn công).

Nhập học tháng 9 thì một chiều tháng 12, tôi được điện tín báo tin cha tôi qua đời vì đột biến. Sóng biển, hàng dương bên trường than khóc cùng tôi suốt đêm. Các bạn nội trú xúm xít an ủi vỗ về tôi. Trong đầu tôi lởn vởn ý tưởng về Huế rồi sẽ không quay trở lại vì mục đích học Sư phạm của tôi là vừa có học bổng, vừa chóng ra trường có tiền để giúp cha già không còn nữa. Nay cha mất rồi thì tôi học tiếp ở đây làm gì? Về Huế sang năm thi vào Đại học Sư phạm hoặc học SPCN để chuẩn bị vào trường Y khoa.

Sáng hôm sau, bạn bè cùng phòng nội trú, cùng lớp và cảm động nhất là thầy Lương, Hiệu trưởng, cùng tiễn tôi tận chân cầu thang lên máy bay. Thầy xoa đầu tôi an ủi thật trìu mến như cha tôi thường làm với tôi. Thầy còn cử anh Võ trị Hà, người trưởng tràng, lại là hàng xóm của tôi tháp tùng theo tôi để đại diện trường phúng điếu cha tôi và giúp đỡ tôi trở về trường. Anh Hà cũng thích vì được dịp về thăm Mạ. Nhìn xuống sân bay tôi thấy mái tóc thầy như bạc thêm, cùng những cánh tay vẩy vẩy của bạn bè mờ đi sau làn nước mắt. Trước ân tình ấy, ý nghĩ sẽ bỏ trường bỏ lớp bỗng tan biến trong đầu. Tôi trở lại trường tìm vui trong tình thương của thầy, của bạn. Tôi lại vô tư gây cười cho các bạn, thường tự xưng mình là Hồng Thất Công (trong Thần Điêu Đại Hiệp) khi ngồi trên lầu hai, lầu ba mà dùng tài đánh hơi của lão "Cái Bang" đoán trúng phóc trưa nay Mệ Huế cho ăn món gì, khiến các bạn phục lăn và cười như "nắc nẻ" khi xuống tới phòng ăn. Tại đây, cả nhóm ăn lại nhỏng nhẻo với Mệ Huế là không ăn được cá ngừ, cà nướng... v...v.. Tội nghiệp Mệ Huế lại trìu mến sai đổi cho thành món chả trứng, cá thu chiên... Thế là các nàng dù là Hoàng Dung xinh đẹp, dù là "Phật tổ" Như Lai, dù là nàng Tôn Nữ Âu Dương Phong e lệ... (biệt hiệu của các bạn cùng phòng nằm cạnh giường tôi) đều ăn ào ào như tằm ăn rỗi, đem soong vào xin thêm cơm. Các chị bếp vui vẻ xới thêm rất tự nhiên để các cô khỏi thẹn, chỉ một nhát xúc của chiếc đũa bếp to như cái "xẻng xúc đất" là đủ đầy soong cơm. "Kílô" của các nàng tăng vùn vụt, vì sáng nào cũng "nhón" sạch hai thúng khoai lang luộc, bánh ú của hai nhóc con bác cai đội lên bán. Khỏi rao, khỏi mời, hai chú đã được các nàng ngóng từ thật xa, rồi đón ở cầu thang và thoáng một chốc chỉ còn hai cái thúng không. Các chú chỉ việc ngồi chờ, một lát sau các nàng đem tiền ra trả đủ. "Này chị hai xâu (khoai)..., này chị hai cặp (bánh ú)...". Các nhóc chỉ việc đếm tiền, xong đội thúng ra về. Hỉ hả!!! Giành nhau mua vậy, nhưng ai chậm chân không mua được đều có phần chia cho. Vui như hội! Ăn, ngủ, cười và... chờ thư. Chỉ khi nào đọc thư người yêu thì mỗi nàng lui về một thế giới xa xôi với khóc, cười, trăn trở...

Nhưng số phận lại không mỉm cười với tôi vào năm sau, tôi lại chịu cái đại tang thứ hai. Lần này không phải là vành khăn trắng lên mái tóc, mà là mảnh khăn đen vắt qua "con tim vừa vui trở lại" của tôi: Người yêu của tôi, mối tình đầu trong sáng của tôi, vị hôn phu của tôi đã phụ tình tôi. Đời phi công hào hoa, đời lính cận kề bên cái chết, cùng với thái độ tránh né giữ gìn thái quá của người con gái Huế như tôi, cộng thêm không gian xa cách, khiến chàng sa ngã vào ánh sáng phù hoa, vào niềm đam mê vội vã mà nói lời bội ước với tình xưa. Trước lời thú nhận đã lỡ lầm của vị hôn phu, dưới sự chứng kiến của gia đình hai bên, dù mẹ chàng cố nói ra lời hàn gắn, nhưng tôi đã bình tĩnh chúc chàng hạnh phúc (không một giọt nước mắt van vỉ, không một lời oán trách hờn ghen), vì tôi nghĩ rằng bất cứ thái độ nào khác cũng sẽ đánh đổ thần tượng của chàng trong tôi. Và tôi cũng không cần một chút nào lòng thương hại của kẻ khác. "Người ta phụ mình, nhưng làm sao cho người ta vẫn tôn trọng mình", tôi nghĩ thế.
Từ Sài Gòn trở lại Quy nhơn với con tim băng giá, với đôi mắt ráo hoảnh, tôi lại có ý nghĩ bỏ Sư phạm, rồi về Huế ghi danh học Đại Học để trở thành một bác sĩ, hơn hẳn" người ta" cho bõ tức. Nhưng anh lớp trưởng nhận ra nỗi buồn vời vợi trong tôi. Chờ lớp về hết, anh ở lại hỏi tôi "Sao em có vẻ buồn thế?". Anh lớp trưởng đã có vị hôn thê ở Quảng trị và xem tôi như người em gái nhỏ. Tôi cũng xem anh như anh mình, nên khi anh hỏi chạm đến vết thương lòng, tôi đã òa lên khóc nức nở và kể cho anh nghe về mối tình tan vỡ của mình. Anh để yên cho tôi khóc, rồi dùng lời an ủi động viên tôi. Sau đó anh cùng các bạn trong lớp tổ chức nhiều chuyến du ngoạn ngoại thành: thăm Tháp Chàm ở Quy nhơn, trại cùi Quy hòa, viếng mộ Hàn Mặc Tử..., để tôi thấy nhiều cảnh khổ gấp bội mình. Rồi chuyến đi về Tuy Phước, thăm sâu vào làng quê Bình Định với những phong cảnh thật nên thơ, nhưng thấp thoáng những bộ quần áo đen lầm lũi (VC đó). Thấy thật rùng mình, may mà có anh trong đoàn, sinh trưởng ở vùng đó nên không việc gì. Rồi những phút cùng các bạn nội trú lầu ba ôm nhau lăn xuống gầm giường khi VC tấn công nổ bom tự sát làm sập lầu Việt Cường dưới phố (nơi có binh lính Mỹ đến đó ăn uống sau mỗi cuộc hành quân). Khi lầu hết rung chuyển, chúng tôi cùng chui ra một cách khó khăn gấp bội so với khi chui vào. Thầy Giám học lên bảo: "sao lại chui xuống gầm giường, sao không chạy xuống núp trong các hố cát ngoài sân, nhỡ lầu sập thì sao?"

Thì ra khi hoảng hốt, chúng tôi đã hành động giống như những con đà điểu rúc đầu vào cát lúc gặp hiểm nguy. Nhưng nằm trong hố cát ở sân nhìn lên trời càng đáng sợ hơn: những lằn đạn xanh đỏ bay vèo vèo trên bầu trời do VC tấn công vào thành phố, bên ta chiến đấu đẩy lui. Thế là cái khổ, cái chết lại giúp tôi gắn bó với trường với bạn, chúi mũi tìm quên trong việc học, uống từng lời dạy dỗ của thầy cô để ra trường với hạng thủ khoa (mà các bạn cứ trêu là "thủ khôi" khiến tôi hờn giận mãi thật là trẻ con!). Tôi được chọn giữ ở lại trường làm giáo sư hướng dẫn các khóa sau, nhưng tôi chỉ muốn về Huế để được sống bên mẹ già.

Rồi chính nhờ được làm một cô giáo hiền hòa, mẫu mực mà tôi đã vượt qua những nghiệt ngã của số phận do sự đối xử hà khắc của gia đình chồng và những tai ương của đất nước tạo nên. Môn tâm lý giáo dục của thầy Mẫn dạy tôi biết nói những lời ái ngữ với học trò trước khi phê bình cái sai của chúng. Nhớ lời thầy, tôi không bao giờ phê "chữ cẩu thả" mà "em cần viết cẩn thận hơn", hoặc không phê "vở nhớp quá" mà là "vở sạch mới đẹp"...

Những năm dạy tiểu học, trong cặp tôi lúc nào cũng có hộp kim chỉ để khâu áo cho những em nào nhỡ rách, có cả lượt dày để chải chí cho mấy em gái nghèo thiếu bàn tay mẹ chăm sóc, có cả kéo để cắt tóc cho các em khỏi bị tóc che mắt...

Khi được chuyển về trường cấp II Thuận An thì nơi đây là quê hương thứ hai che chở giúp tôi vượt qua những khổ ải do gia đình chồng đọa đày. Lúc phải rời bỏ gia đình chồng do bị đàn áp quá đáng, các phụ huynh ở Thuận An đã đùm bọc, an ủi xoa dịu cho tôi những vết thương từ thể xác đến tâm hồn. Thậm chí có người mở lời cho tôi và hai con vượt biên cùng con của họ mà không phải đóng một cắc bạc, nhưng tôi không thể bỏ mẹ già và cậu em bị tâm bệnh để ra đi. Các học sinh của tôi đều mê môn Văn tôi dạy, phải chăng do tôi đã trao truyền cho các em tất cả tình cảm thương yêu và trải nghiệm của bản thân vào trong mỗi bài giảng?

Thời bao cấp, nhà giáo đều thiếu thốn, nhưng tôi biết tranh thủ thời gian để chạy chợ nuôi mẹ, em và các con no đủ. Thấy các cô giáo mà phải vất vả ngược xuôi, các cô dì chủ hàng cũng thương, dành cho sự nhẹ nhàng, ưu ái. Một số bạn tôi bỏ nghề, vì nghề giáo cơ cực quá, nhưng tôi thì không. Tôi nghĩ rằng nhờ giữ nghề dạy học mà một người mẹ đơn thân như tôi mới có thể giáo dục các con chăm ngoan, thành đạt và có cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn bố mẹ chúng. Tôi cảm thấy lời Phật dạy "sống từ bi, hỉ xả" như thấm từ lúc nào vào cuộc đời làm cô giáo của tôi, tự nhiên như cây cỏ hấp thụ khí trời. Tôi không hề oán hận ai, thậm chí cả với người đã hành hạ mình.

Có lẽ cuộc đời nhà giáo của tôi chỉ biết gieo nhân lành nên cuối đời gặp quả ngọt: người yêu đầu đời của tôi đã trở về quỳ xuống xin tạ tội vì đã để đời tôi bấy lâu chịu khổ đau. Anh đã đón tôi sang đất nước Hoa Kỳ để tôi được sống sung sướng quãng đời còn lại. Tôi được học sinh cũ của trường Trung học Thuận An từ nhiều tiểu bang về chào mừng hoặc gọi điện thăm hỏi, dẫn cô đi thăm thú cảnh đẹp nhiều nơi.

Ôi, còn gì sung sướng hơn khi thấy những học sinh bé bỏng ngày xưa của mình, giờ đây đã trở thành những trung niên khôi ngô, thành đạt, những thiếu phụ xinh đẹp, lịch lãm nơi xứ người. Vậy mà đối với cô giáo cũ, các em vẫn một tiếng "thưa" hai tiếng "dạ" rất đỗi lễ phép, khiến lòng tôi cảm thấy xúc động nao nao, tự hào về mình và về các học sinh thân yêu.

Tôi còn được gặp lại các bạn nội trú trường Sư phạm Qui nhơn ngày xưa, nay các nàng đều xấp xỉ ở ngưỡng "thất thập cổ lai hi", nhưng vẫn xinh đẹp, vẫn yêu đời và nhất là tình bạn vẫn nồng nàn, thắm thiết như xưa. Phải chăng, nhờ ngành Sư phạm mà vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa Việt nam vẫn nở hoa trên xứ người!

Chính vì thế, như đầu bài viết, tôi có kể lể là tôi miễn cưỡng thi vào trường Sư phạm, thì nay tôi xin sửa sai để khẳng định: Nếu có kiếp sau, tôi lại cố gắng học để được thi vào ngành Sư phạm, được làm một cô giáo mẫu mực, dịu hiền, để trao hết tri thức và tình cảm yêu thương của mình cho thế hệ mai sau: gieo những nhân lành nhằm tạo quả ngọt cho đời.


Nguyễn thị Hồng

---------------------------------------------------------------

Định Mệnh Đã An Bài

 

 

 

 

 

 

 

Định Mệnh Đã An Bài

Trước 1975, tác giả là một phi công chiến đấu. Tại Hoa Kỳ, nhiều bài viết của ông thường được phổ biến trên báo giấy, báo mạng trong sinh hoạt cộng đồng và các hội ...

View on vietbao.com

Preview by Yahoo